Hiển thị các bài đăng có nhãn ancient Vietnamese. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ancient Vietnamese. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Sách mới: Nguyễn Trãi quốc âm từ điển




Bản thử 3D


Giá bìa 410.000 đ.
Giá thị trường 230k (giá vận chuyển đi các tỉnh và nước ngoài do độc giả thanh toán).
Phát hành tại:
+ Nhà sách Đông Tây, 62 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội. số điện thoại phát hành ngoại tỉnh: 0462660152
+ Nhà sách NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, số 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
+ Nhà sách chị Hoa, số 5, Đinh Lễ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
+ Nhà sách Hà Nội( NS Cửu Đức) 245 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Nguyễn Cư Trinh, Q1, TP Hồ Chí Minh.



Còn đây là toàn bộ 4 bìa của sách.

Cuối cùng thì sách cũng ra. Sau 5 năm khổ ải với nó.
Note vài dòng ở đây để mọi người biết được cái mới của cuốn sách này.


(1) Đây là cuốn từ điển đầu tiên về tiếng Việt cổ thế kỷ XV qua tư liệu chữ viết
(2) Đây là cuốn từ điển tác gia đầu tiên về Nguyễn Trãi.
(3) Được biên soạn liên phương pháp: văn tự học + văn bản học + ngữ âm học lịch sử + từ vựng học lịch sử + từ nguyên học + từ chương học.
(4) là cuốn sách thử nghiệm đầu tiên cho việc mở rộng cấu trúc vi mô (tức cấu trúc của mục từ) trong từ điển học. Tức là một mục từ chứa đựng nhiều nội dung thông tin khác nhau: như nguồn gốc và lịch sử phát triển của từ đó (thuộc từ nguyên học), so sánh với các ngôn ngữ khác (tiếng Hán, Mường, Tày, Rục, Khmer...), phê phán văn tự học, cung cấp thông tin giám thưởng (lịch sử tiếp nhận), đồng nghĩa- trái nghĩa, phong cách tu từ...
(5) Cuốn sách gồm hơn 2500 mục từ với số lượng âm tiết khảo sát là hơn 12000 lượt âm tiết.
(6) Cuốn từ điển này đồng thời là từ điển văn hóa, trong đó có nhiều mục từ về phong tục tập quán cổ (hiện đã mất), ví dụ: lễ xua na, thần na, chong đèn chực tuổi, thái cầu, đốt trúc, lễ đẩy xe,...

Sách này, mình cố tình ăn gian, lúc đầu gần 700 trang {256.000 lượt chữ; so sánh với Đại việt sử ký toàn thư là 306.000 lượt chữ}, sau thấy to quá, nên giảm cỡ chữ xuống còn 9.5,
giảm cách dòng xuống còn exactly 14.
Phần phụ lục phiên âm mới thơ QATT thì không in 1 bài thành 1 trang như nhiều sách hiện nay
mà dồn 7-12 bài/ trang.
Sau khi ăn gian xong thì kiểm lại chỉ còn 496 trang (4 trang bìa lót + 12 tr lệ ngôn + và 480 trang còn lại).
Lại chọn thêm loại giấy siêu mỏng và siêu nhẹ. Nên cuốn sách nhẹ hều. Có thể nằm đọc được. hí hí.



Còn đây là bìa 1 của cuốn sách. Họa tiết trang trí là trên tháp Phổ Minh, bản dập xin được của anh Nguyễn Anh Tuấn.

PS: Hôm qua đi làm về, thấy con Cò khoe, cu Pi mở sách ra, thấy hình bố liền thơm lấy thơm để, làm dãi dớt dây đầy ra sách.
Hôm nay cấm tiệt mẹ con nhà nó sờ vào sách. Thế là nó lại bù lu bù loa lên là bố yêu sách hơn chúng nó. hé hé.

AH, post lại ở đây bài thơ đầu tiên mình tặng cho Mẹ con con Cò (được in trong sách như một lời cảm ơn cuộc đời)
bài này được làm năm 2010, khi mình viết xong bản thảo sách này lần thứ nhất. Những ngày tháng khó khăn nhất của cuộc đời thì lại làm được việc. Không biết sau này sướng hơn có làm được gì không? Tại sao mình vừa muốn sướng lại vừa muốn làm việc? tham quá! Thôi đá ống bơ cái đã:

Ta bệnh, vợ thất nghiệp,
Thanh nhàn viết sách chơi.
Tiếng con đạp trong bụng,
Như tiếng gọi cuộc đời. (Thăng Long, 2010)



Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

GIẢI MÃ NHỮNG CÂU THƠ SÁU CHỮ TRONG QUỐC ÂM THI TẬP TỪ NGẢ ĐƯỜNG NGỮ ÂM HỌC LỊCH SỬ


Bài đăng TC Hán Nôm, số 01/2013
Tải toàn văn word và PDF (có thể trích dẫn): http://www.mediafire.com/?wzv9e15gc8kcea1


TRẦN TRỌNG DƯƠNG



1. Mở đầu
Quãng vài chục thập kỷ trở lại đây, giới nghiên cứu văn học đã bỏ ra nhiều công sức để đi tìm lời giải mã cho hiện tượng câu thơ Nôm sáu chữ của nhiều tác giả nổi tiếng từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Có thể kể đến các ý kiến của Dương Quảng Hàm, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Ngọc San, Lê Hoài Nam, Nguyễn Hữu Sơn, Ngô Văn Phú, Phạm Luận, Phạm Thị Phương Thái… Kết luận hiện nay dễ được chấp nhận hơn cả, là giả thuyết coi đây là một thể loại mới - một sáng tạo độc đáo của Việt Nam mà người đi đầu là Nguyễn Trãi. Thể loại mới ấy được định danh là thể “thất ngôn xen lục ngôn” [Nguyễn Phạm Hùng 2006]. Nguồn gốc của thể thơ này chính là thất ngôn Đường luật, một thể thơ đồng thời xuất hiện trong hàng loạt thi tập nổi tiếng và cổ kính như Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân Am thi tập,… Một số nhà nghiên cứu khẳng định như vậy đã ngầm thực hiện một phương trình khá bất tiện, rằng Nguyễn Trãi đã “sáng tạo thể loại thất ngôn xen lục ngôn” bằng cách “cải tạo thất ngôn Đường luật”; ở khía cạnh thi luật học cổ điển thì “các câu lục ngôn thất luật” ấy là sự phát triển từ thể thơ gò bó có nguồn gốc Trung Hoa. Sự “sáng tạo/ cải tạo” ấy được chứng minh bằng cách: các câu lục ngôn/ ngũ ngôn là sự sáng tạo về mặt số lượng âm thanh và nhịp điệu. Và những nhịp điệu lạ lẫm (thực ra là thất luật ấy) lại là những đóng góp lớn của Nguyễn Trãi cho văn hóa Việt Nam.
Bài viết này, dựa trên những gợi ý của GS. Bùi Văn Nguyên (1994) và Cao Tự Thanh (2006), sẽ tiến hành giải mã các câu thơ sáu chữ từ góc độ ngữ âm học lịch sử qua trường hợp Quốc âm thi tập (QATT). Văn bản QATT hiện còn là một văn bản đã được dọn lần cuối vào thế kỷ XIX do nhóm Dương Bá Cung (1795- 1868) thực hiện. Các nhà nghiên cứu trước nay đều thống nhất rằng văn bản chỉ còn lưu giữ được một số ít các chữ Nôm cổ từ đời trước để lại. Chữ Nôm cổ



Nôm cổ ở đây trỏ chữ Nôm dùng hai chữ Hán nén trong một khối vuông (ký hiệu là E2) để ghi ngữ âm tiếng Việt cổ [Trần Trọng Dương 2008a]. Qua khảo sát của Nhẫn Gaston (1967)(1), Paul Schneider (1987) và Nguyễn Quang Hồng (2008), v.v... văn bản QATT có khoảng trên dưới hai mươi chữ Nôm cổ thuộc loại trên. Trên cơ sở tiếp thu những người đi trước, chúng tôi đã tái lập ngữ âm của trên ba mươi chữ Nôm cổ. Đôi chỗ có sự khác biệt với những người đi trước thì chúng tôi đã tiến hành thảo luận kỹ càng hơn [Trần Trọng Dương 2012]. Đối với một ngữ tố có nhiều cách ghi Nôm khác nhau, thì chúng tôi dựa vào kiến thức của các ngành ngữ âm học lịch sử, văn tự học chữ Nôm (như mô hình ngữ âm của chữ), để tiến hành tái lập ngữ âm và sau đó loại bỏ những chữ Nôm hậu kỳ làm cơ sở cho việc tái lập(2) chữ Nôm trong thời gian tới. Cách làm việc như vậy vừa bám sát văn bản lại vừa loại bỏ những văn tự đã bị sửa đổi hoặc sai lầm do việc truyền bản vào đời sau. Sau khi tiến hành tái lập ngữ âm của các chữ Nôm cổ, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát chức năng và những biến thể âm thanh của chúng trong các dòng thơ sáu chữ của QATT. Từ đó bước đầu đưa ra cách giải thích về hiện tượng này từ góc nhìn của ngữ âm học lịch sử cũng như tâm lý học sáng tạo của người Việt cổ trong hoạt động sáng tác thơ bằng ngôn ngữ bản địa.
Tổ hợp phụ âm đầu là hiện tượng phổ biến của tiếng Việt từ thế kỷ XVII trở về trước. Có thể mô hình hóa tổ hợp phụ âm đầu bằng ký hiệu CC-, ví dụ như: bl-, tl-, ml-,... trong blời (trời), tlôn (trôn), mlời (lời) giống như các tổ hợp phụ âm đầu sl-, cl-, sp- trong các từ sleep, club, speech ở tiếng Anh. Những từ có tổ hợp phụ âm đầu sẽ có cấu trúc ngữ âm là CCVC. Phần này chúng tôi sẽ tái lập ngữ âm tiếng Việt cổ có cấu trúc này thông qua lưu tích của chữ Nôm trong QATT.
Quy ước trình bày như sau: về chữ Nôm, chúng tôi cắt tự dạng từ nguyên bản, sau đó tiến hành phân tích cấu trúc, trong đó ký hiệu văn tự dùng để ghi yếu tố đầu trong tổ hợp phụ âm luôn được đưa lên trước, bất luận nó có vị trí như thế nào trong chữ Nôm đó(3), phân tích như vậy để tiện theo dõi và trình bày, nếu như phần chữ Nôm đó có một số chữ tục thể, giản thể thì chúng tôi đều thống nhất quy về dạng chính thể, phồn thể. Kiểu tái lập giả định, sẽ luôn được đánh dấu asterisk (*) ở đầu. Âm phiên chuyển sang tiếng Việt hiện đại được thể hiện bằng ký hiệu >. Các xuất xứ đều ghi rõ ngữ cảnh theo thứ tự: phiên âm sang tiếng Việt hiện đại, tên bài, số thứ tự trong tập và số thứ tự của câu trong bài đó. Riêng chính tả của vị trí đó chúng tôi tạm để nguyên theo kiểu tái lập. Các dấu thanh (gồm: ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) lần lượt được ký hiệu là 1, 2, 3, 4, 5. Tuy nhiên, phần lớn các tái lập chúng tôi đã công bố trong bài viết Thủy âm kép tiếng Việt cổ thế kỷ XIV-XV qua các chữ Nôm cổ trong Quốc âm thi tập (2012, Tạp chí Ngôn ngữ), cho nên ở đây chúng tôi chỉ đưa lại một ví dụ để minh họa.
- Chữ (cư 車+ lô 盧); (cư 車+ sô芻). Xuất hiện lần lượt trong các ngữ cảnh: ngạn nọ so miền Thái Thạch, làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương (Trần tình 42.3), Huống lại bảng xuân sơ chiếm được, so tam hữu chẳng bằng mày (Mai thi 226.4). Ở đây, các tự dạng đang xét đến đều cổ như nhau, có giá trị tương đương nhau, nên giữ nguyên cả hai trường hợp. Nhẫn Gaston tái lập là *kro [1967:150]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klo và *kso [2008: 239]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh vào thế kỷ XIV ghi車卢, ss: chẳng luận so đấng trí cùng đấng ngu <不論上智下愚 (7a4), Trần Trọng Dương tái lập là *kro [2009: 34]. Cả ba cách tái lập trên đều có ưu điểm riêng. Các kiểu tái lập như *kl-, *kr- là bám sát vào tự dạng Nôm. GS. Nguyễn Ngọc San dựa vào các lưu tích của một số thổ ngữ Mường, đã đưa ra giả thuyết rằng *ks- cũng là một dạng tổ hợp phụ âm vốn là lai nguyên của S- hiện nay. Với cứ liệu chữ Nôm ở đây, chúng ta thấy rằng giả thuyết của GS. Nguyễn là có lý. Bài viết chấp nhận tất cả các kiểu tái lập trên, bởi các giá trị tái lập không loại trừ mà bổ sung cho nhau (từ đây về sau xin dùng dấu sổ chéo, để biểu thị tính tương đương giữa các kiểu tái lập này). Các kiểu tái lập: *klɔ1 / *krɔ1 / *ksɔ1 > so (= sánh, lưu tích còn trong so sánh, so bì, so kè, so đo và có thể so le nữa).
Chúng tôi đã tiến hành tái lập ngữ âm cho 29 đơn vị xuất hiện tại 101 vị trí trong thơ Nôm Nguyễn Trãi. Tất cả đều có cấu trúc ngữ âm CCVC, tức có tổ hợp phụ âm đầu CC-. Điều này cho thấy, tiếng Việt cổ thế kỷ XV có cấu trúc ngữ âm khá giống với một số từ trong tiếng Anh(4) hiện nay. Có thể so sánh các tổ hợp phụ âm đầu của hai tiếng này: *blời (trời) với black (bờ- lách), *klui (lùi) với clip (cờ- líp), *klang (sang) với club (cờ- lắp). Tiếp theo, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu sự hoạt động của các đơn vị này trong các câu thơ sáu chữ của QATT để tìm hiểu thêm về hiện tượng các câu thơ sáu chữ trong ngôn ngữ văn học Nôm từ thế kỷ XVII về trước qua trường hợp thơ Nôm Nguyễn Trãi.
2. Cấu trúc ngữ âm CCVC trong dòng thơ sáu chữ của QATT
Đến đây, chúng tôi muốn trình bày lại những vị trí đã tái lập ngữ âm và văn tự. Một quang cảnh kỳ lạ đã xảy ra, khi đặt toàn bộ những tái lập ấy vào dòng thơ sáu chữ. Cụ thể xin xem bảng dưới.
Ký hiệu viết tắt: STT = số thứ tự. AĐ = âm đối ứng trong tiếng Việt hiện đại. KTL = kiểu tái lập. CT = chính tả phỏng theo cách ghi của A. Des Rhodes. TS = tần số xuất hiện trong QATT. A = Tần số xuất hiện trong câu sáu chữ, X = ký hiệu trỏ toàn bộ tần số của ngữ tố nhất loạt chỉ xuất hiện ở câu thơ sáu chữ; B = Tần số xuất hiện trong câu thơ bảy chữ; C = tần số chỉ xuất hiện trong câu thơ bảy chữ.

STT AĐ KTL(5) CT Nôm TS A B C
1. So *ksɔ1 *kso 2 X 0 0
2. Sang *ksaŋ1 *ksang 6 X 0 0
3. Sang *ksaŋ1 *ksang 2 X 0 0
4. Sệt *kset6 *ksệt 1 X 0 0
5. Soi *ksɔi1 *ksoi 1 X 0 0
6. Sống *ksoŋ5 *ksống 3 X 0 0
7. Sao *c’sao1 *chsao 4 3 1 0
8. Treo *klεo1 *kleo 2 X 0 0
9. Trông *kroŋ1 *krông 4 3 1 0
10. Trống *kroŋ5 *krống 1 X 0 0
11. Vui *tbui *tvui 6 5 1 0
12. Trái *blai5 *blái 3 X 0 0
13. Rốt *krot5 *krốt 栗巨 3 X 0 0
14. Lầm *klam2 *klầm 2 1 1 0
15. Lời *mlei2 *mlời 3 1 2 0
16. Lớn *klən5 *klớn 1 X 0 0
17. Lui *klui1 *klui 7 5 2 0
18. Mỉa *kmia3 *kmỉa 1 X 0 0
19. Muống *kmuəŋ5 *kmuống 2 1 1 0
20. Mùng *kmuŋ2 *kmùng 2 1 1 0
21. Trăng *blăŋ1 *blăng 10 X 0 0
22. Trời *bləi2 *blời 19 18 1 0
23. Trước *klək5 *klước 2 X 0 0
24. Giơ *?jə1 *agiơ 1 X 0 0
25. Giàu *kjau2 *kgiàu 7 6 1 0
26. Lặt *klăt6 *klặt 栗巨 1 X 0 0
27. Sầm/ thầm *ksâm2 *ksầm 2 X 0 0
28. Ngủ *kŋu3 *kngủ 3 1 2 0
29. Vua *tbua *tvua 2 X 0 0
Tổng 101 89 14 0


Bảng trên cho thấy: trong số 29 ngữ tố xuất hiện với tần số 101 lần trong văn bản QATT, có 89 vị trí xuất hiện trong câu thơ sáu chữ (cột A), chỉ có 14 vị trí đồng thời xuất hiện trong câu thơ bảy chữ (cột B), không có vị trí nào chỉ xuất hiện trong câu thơ bảy chữ (cột C). Trong đó có 19 ngữ tố chỉ xuất hiện trong những câu thơ sáu chữ, 14 ngữ tố xuất hiện ở cả hai câu bảy và câu sáu, không có ngữ tố nào chỉ xuất hiện trong các câu bảy chữ. Các vị trí đồng thời xuất hiện trong câu thơ sáu chữ và bảy chữ có tần số là 10. Và có 1 vị trí xuất hiện trong một câu thơ sáu chữ nhưng có đến hai khả năng tái lập.
Những số liệu trên khiến chúng tôi nghi ngờ rằng, những câu thơ sáu chữ trong QATT có lẽ thuộc về một đặc thù của thi pháp cổ điển trong văn học chữ Nôm. Từ góc độ tâm lý học sáng tạo, chúng tôi cho rằng rất có thể Nguyễn Trãi đã tiến hành điều phối âm thanh (những âm CCVC của tiếng Việt cổ thế kỷ XV) trong một dòng thơ bảy âm tiết của thể thất ngôn Đường luật (sản phẩm hoàn hảo của tiếng Hán - một ngôn ngữ đã đơn tiết hóa triệt để với cấu trúc âm tiết CVC). Ông đã điều phối bằng cách âm tiết hóa yếu tố đằng trước của tổ hợp phụ âm đầu CC- [theo cách gọi của H. Maspéro] để các từ có cấu trúc CCVC trở thành cấu trúc CV-CVC. Quá trình này được gọi bằng thuật ngữ “đa tiết hóa” (polysyllabism). Dưới đây, chúng tôi xin thảo luận kỹ hơn về vấn đề này.
3. Đa tiết hóa CCVC dưới cơ chế của thơ thất ngôn Đường luật
3.1. Đa tiết hóa CCVC một phương thức cấu tạo từ trong lịch sử tiếng Việt
Mục này, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu về hiện tượng đa tiết hóa cấu trúc CCVC để nhận thức rõ hơn về quá trình một từ có tổ hợp phụ âm đầu đã trở thành một từ song tiết như thế nào trong lịch sử tiếng Việt. Trước tiên, xin xem bảng thống kê dưới đây.

CVC  CCVC  CVC-CVC
Tròng (cái-)/ lõng
(đón-), thòng (động từ)  *thlɔng  Thòng lọng
Long/ rồng  *thluong  Thuồng luồng
Rồng  *krong  Cà rồng (cửu long)
Rắn, trằn, trăn  *thlan  Thằn lằn
Lũng, ruộng, luống, thung  *thlung  Thung lũng
Tẽn, thẹn, trẽn  *thlen  Thèn lẹn
Trẽn, tẽn, thẹn  *blen  Bẽn lẽn(6)
Sơ, thưa, sưa  *thlə  Thơ rơ / xơ rơ/ lơ thơ(7)
Lem, nhem, nhèm  *mlem  Ma lem(8)
Ranh, rành (hiểu rõ),
Lanh (-lợi), nhanh (-trí)  *mlanh  Ma lanh
Trót, lọt, tọt  *tlot  Trót lọt
Sáng, rạng  *khlang  Sáng láng
Trệt, sệt  *klet  Lệt sệt


Cột CCVC trỏ yếu tố có dạng ngữ âm cổ từ thế kỷ XVII về trước. Cột CVC là những sản phẩm của quá trình đơn tiết hóa bằng cách hòa đúc hay rụng một yếu tố. Cột CVC-CVC là sản phẩm của quá trình “âm tiết hóa yếu tố đầu của CCVC”. Như vậy đơn tiết hóa và đa tiết hóa các từ CCVC là một phương thức tạo từ vựng trong tiếng Việt bằng cách âm tiết hóa.
Phương thức âm tiết hóa gồm: (1) tiến hành dùng toàn bộ khuôn vần của âm tiết chính (vốn đã có trọng âm, trường âm) chắp vào yếu tố đầu của CC-, như thòng lọng, thung lũng, thuồng luồng, thèn lẹn, bẽn lẽn; (2) âm tiết hóa yếu tố đầu của CC, như: thơ rơ, ma lem, ma lanh. (3) Thực hiện cơ chế láy toàn phần sau đó dị hóa ở từng âm tiết(9).
Trong số ba phương thức âm tiết hóa vừa nêu, chúng tôi muốn chú ý đến phương thức thứ hai - phương thức đa tiết hóa bằng cách âm tiết hóa yếu tố đầu của tổ hợp phụ âm CC. Theo Jakhontov [xem thêm Nguyễn Tài Cẩn 1995: 247], hình thái của bồ câu của tiếng Việt hiện đại vốn bắt nguồn từ một hình thái cổ có dạng tổ hợp phụ âm đầu trong ngôn ngữ Proto Đồng Thủy là *pq-. Gohman trong cuốn Ngữ âm lịch sử các ngôn ngữ Thái đồng thuận với giả thuyết này, và cung cấp một số đối ứng của bồ câu trong các thổ ngữ như: pau (4 thổ ngữ), piau (1), peu (1), kau (1), qau (1), kuu (1) [Istoricheskaja Phoneticka Taiskikh Jazykov. Izd Nauka. Moscva 1992: 30]. Từ những ý kiến và tư liệu trên, Vũ Đức Nghiệu cho rằng: “lý do ra đời của một số trong những từ đa tiết như: ba láp, ba trợn, bồ cào, bồ các, bồ cắt, bồ nâu, bồ chao, bồ hôi, bồ đài, bồ hòn, bồ kết, bồ ngót, bù nhìn, bồ nông, bố láo, cà chớn, cà khổ, cà kheo, cà tàng... là hiện tượng âm tiết hóa thành tố đầu trong tổ hợp âm đầu của đơn vị hình thái đơn tiết nguyên gốc” [2005: 9].
Hiện tượng đa tiết hóa cấu trúc CCVC còn để lại khá nhiều lưu tích trong địa danh Việt Nam. Vấn đề sẽ hết sức thú vị với nhiều nhà nghiên cứu khi đứng ở góc độ ngữ âm học lịch sử. Nhiều địa danh đã được chứng minh rằng, các tên chữ Hán vốn là một cách đa tiết hóa của một tên Nôm có cấu trúc CCVC. Ví dụ như: Từ Liêm để ghi âm Việt cổ là *tlèm mà nay đọc là Trèm/ Chèm. Tương tự như vậy: Thanh Liệt/ *tlét/ sét (vì làng này thờ thần Sét- Pháp Điện), Phù Lưu/ *plầu/ Trầu (làng này chuyên trồng trầu cau), Phả Lại/ *phlại/ trại (vì địa danh này là nơi nhà Trần đóng quân cắm chốt), Cửu Long/ *krong/ sông (và chữ Cửu Long lấp láy giữa nghĩa này với nghĩa chữ Hán “chín con rồng” của từ nguyên dân gian), Khả Lễ/ *khlễ/ Sẻ (huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), Khuê Liễu/ *khlếu/ Sếu (tên một làng ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương), Khả Lang/ *khlang/ Sang (tên làng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình), Cà Lồ/ *klù/ khù - khú (sông có nhiều cá SẤU ở), Câu Lậu/ *klâu/ Trâu (núi con Trâu, Thạch Thất, Hà Nội)... Những ví dụ như vậy hiện chưa có một thống kê đầy đủ và toàn diện.
Mặt khác, hiện tượng đa tiết hóa có thể vẫn thấy trong tiếng Việt hiện nay đối với những từ phiên âm các ngôn ngữ chắp dính có CC- đứng đầu như: style > xì - tai, pro (professional) > pờ - rồ, sport > xì - pót, stress > xì - choét, scandale > xì - căng - đan, slip > xi - líp, x-teen > xì - tin, stop > xì - tóp, club > cờ - lắp, black > bờ - lách, clip > cờ - líp, clé > cờ - lê, Khmer > Khơ - me, Khmú > Khơ - Mú, Khmau > Cà - Mau, ...
Từ những cứ liệu cụ thể như trên, chúng tôi bước đầu có cơ sở thực tế cũng như lý luận để nói rằng các câu thơ sáu chữ trong QATT rất có thể là những tàn tích của hiện tượng đa tiết hóa cấu trúc CCVC. Dưới đây, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng này.
3.2. Đa tiết hóa và âm tiết cảm thức
Chúng tôi cho rằng rất có thể Nguyễn Trãi tiến hành điều phối âm thanh bằng cách âm tiết hóa yếu tố đầu của tổ hợp phụ âm CC-. Những yếu tố đã được âm tiết hóa ấy, trên quan điểm của tâm lý học ngôn ngữ, được gọi là các đại lượng âm tiết cảm thức (intuitive)(10). Theo sự giới thiệu của GS. Nguyễn Quang Hồng, các âm tiết cảm thức có thể được phân xuất ra ngay cả trong những trường hợp đặc biệt của ngôn từ thi ca, có những từ được các nhà thơ sử dụng vừa như là từ đơn âm tiết lại vừa như là từ song âm tiết [TTD nhm]; lại có những từ khác được sử dụng khi thì như từ song tiết khi thì như là ba âm tiết. Đối với một số nhà thơ, việc phân xuất ra các âm tiết như vậy không phải hoàn toàn tùy ý, mà là có dụng ý hẳn hoi trong sáng tạo dòng thơ. Dụng ý thi ca đó càng chi phối rõ rệt hơn đối với sự phân định âm tiết khi các nhà thơ viết (và đọc)… Rõ ràng là trong các trường hợp như thế, đối với những từ đã cho, do áp lực của cấu trúc dòng thơ, số lượng âm tiết (và cả các âm tiết cụ thể) có thể được cảm thức khác nhau [TTD nhm] [Nguyễn Quang Hồng 2002: 47].
Với một truyền thống thi học chịu ảnh hưởng sâu đậm của ngôn ngữ - văn hóa Trung Hoa, có lẽ những âm tiết cảm thức trong thơ Nguyễn Trãi chính là những lưu tích của quá trình va đập của tiếng Việt với tiếng Hán(11). Các từ có cấu trúc CCVC trong QATT có lẽ đã được Nguyễn Trãi đọc thành CV-CVC với tư cách như là những từ song tiết thực thụ - có thể coi đó là những từ song tiết lâm thời trong ngữ lưu của câu thơ. Nếu không phải như vậy thì chúng ta sao có thể lý giải được gần chín mươi lần chúng xuất hiện trong câu thơ sáu chữ của Nguyễn Trãi.
Các từ song tiết lâm thời ấy, trong cảm thức của tác giả, đã lấp đầy khoảng trống thanh âm trong những câu thơ thất ngôn Đường luật. Lấp đầy khoảng trống âm thanh thực chất là đang khỏa lấp những điểm vênh/ chênh về ngữ âm của tiếng Việt cổ thế kỷ XV với thể loại thơ thất ngôn Đường luật (thể thơ đỉnh cao của một loại hình ngôn ngữ đã đơn tiết hóa triệt để). Chỉ cần thực hiện một thao tác đơn giản là lắp các vị trí đã được âm tiết hóa kia vào câu thơ, chúng ta sẽ phần nào khôi phục được những âm tiết trong cảm thức của Nguyễn Trãi. Đó là những vị trí mà chúng tôi muốn tái lập như ở dưới đây.
Văn bản Dương Bá Cung ghi (theo âm tái lập(12) trước đây của chúng tôi [Trần Trọng Dương 2012]):
Quân thân chưa báo lòng cánh cánh,
Tình phụ cơm *blời (trời) áo cha
(Ngôn chí 8.8)
Có thể tái lập thành:
Quân thân chưa báo lòng cánh cánh,
Tình phụ cơm *bơ - lời áo cha
(Ngôn chí 8.8)
Một ví dụ nữa:
Ngạn nọ *kso miền Thái Thạch
Làng kia *kmỉa cảnh Tiêu Tương
(Trần tình 42.4)
Có thể tái lập thành:
Ngạn nọ *cơ - so miền Thái Thạch
Làng kia *cơ - mỉa cảnh Tiêu Tương
(Trần tình 42.4)
Một ví dụ nữa:
*Klặt hoa tàn xem ngọc rụng,
*Ksoi nguyệt xấu kẻo đèn khêu
(Tự thán 105.5).
Có thể tái lập thành:
*Cơ - lặt hoa tàn xem ngọc rụng,
*Cơ - soi nguyệt xấu kẻo đèn khêu
(Tự thán 105.5).
Các tái lập trên cho thấy thủ pháp điều phối âm thanh mà Nguyễn Trãi đã thực hiện: đó là việc sử dụng các từ đa tiết hóa để đối với một từ đa tiết hóa trong những liên bắt buộc phải có đối ngẫu. Khi sắp âm vào dòng thơ, yếu tố đầu C- của các CC- đã được đọc rõ lên và hoạt động như là một âm tiết thực thụ trong dòng thơ thất ngôn. Đây có thể coi là một quy luật xảy ra thường xuyên trong QATT, các cặp như vậy theo sự khảo sát của chúng tôi lên đến gần một trăm năm mươi trường hợp [Trần Trọng Dương 2011]. Một đặc điểm nữa có thể rút ra là các “âm tiết được tỏ hóa” ít khi rơi vào vị trí 2, 5, 7 trong câu thơ, bởi một lẽ đơn giản: chúng đều mang thanh bằng(13).
4. Thảo luận về việc tái lập
Có ba vấn đề cần được cân nhắc ở đây:
- Tái lập âm đọc trong 1 vị trí của một ngữ lưu có đến hai khả năng tái lập.
- Tái lập âm đọc trong 89 vị trí xuất hiện ở ngữ lưu của câu thơ sáu chữ.
- Tái lập âm đọc cho vị trí xuất hiện ở câu thơ sáu chữ chỉ có một khả năng tái lập.
(1) Thảo luận về việc tái lập các từ song tiết trong một câu thơ có hai khả năng tái lập. Xuất xứ:
*ksang cùng khó bởi chưng *blời,
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi
(Ngôn chí 10.1)
Hai vị trí cùng có thể được đa tiết hóa là: *ksang > *cơ - sang và *blời > *bờ - lời. Trong một câu thơ bảy chữ, ta đều có thể hoặc tái lặp trường hợp này hoặc tái lập trường hợp kia. Tức là Nguyễn Trãi đã sử dụng một trường hợp là cận song tiết và một trường hợp là dạng đơn tiết. Ở đây tái lập ở vị trí nào cũng được, bởi cả hai cách đều không phạm bằng trắc:
*Cơ - sang cùng khó bởi chưng *blời,
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi
(Ngôn chí 10.1)
hoặc:
*ksang cùng khó bởi chưng *bờ - lời,
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi
(Ngôn chí 10.1)
Điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện cả hai cách tái lập, ấy là các vị trí “khó, bởi” ở giữa dòng thơ đều là thanh trắc(14).
(2) Thảo luận về âm đọc trong 10 vị trí ở ngữ lưu của câu thơ bảy chữ
Đối với những trường hợp này, chúng tôi cho rằng khi phiên âm, vẫn để nguyên dạng đơn tiết CCVC. Khi câu thơ đã đủ bảy âm tiết, Nguyễn Trãi sẽ chọn một từ có vỏ âm thanh đơn tiết. Bởi ta biết, các “song thức, tam thức” và tính lưỡng khả, tam khả về mặt ngữ âm (CvCVC / CCVC và CVC) của một ngữ tố (vd: *bờ -lời, *blời, lời, và sau này còn có trời, giời, xời) đã khiến kho ngữ âm của tiếng Việt thế kỷ XV phong phú về mặt thanh âm. Nói cách khác, tiếng Việt cổ thế kỷ XV là một thứ ngôn ngữ đang trong quá trình đơn tiết hóa, cho nên các biến thể ngữ âm (dạng cận song tiết CvCVC, dạng đơn tiết CCVC và dạng đơn tiết CVC(15) và dạng Cv - CVC) của một ngữ tố cùng một lúc tồn tại trong quá trình hành ngôn sống động(16) (TTD nhm). Việc sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi là một quá trình của việc “điều phối” những thanh âm nằm trong hệ lựa chọn của ông.
(3) Tái lập âm đọc cho vị trí xuất hiện ở câu thơ sáu chữ chỉ có một khả năng tái lập. Có thể thấy rõ qua ví dụ cụ thể như sau.
Tai thường phỏng dạng câu ai đọc:
“*Cơ - rốt nhân sinh bảy tám mươi”
(Tự thán 76.8)
Số lượng các vị trí này là khá nhiều, không nêu chi tiết được, nên chúng tôi
thể hiện qua bảng dưới.
Các quy ước chính tả khi phiên chuyển:
Các từ cận song tiết (được đọc như là một từ song tiết trong câu thơ QATT) khi phiên chuyển sẽ dùng kiểu phiên âm là A-B. Trong đó dấu ngang (-) luôn nằm ở giữa.
- Các âm tiết chính sẽ ghi ở dạng chính tả gần nhất so với đối ứng trong tiếng Việt hiện đại. Ví dụ: không phiên “cơ - lo” hay “cơ - ro” mà là “cơ - so”. “Cơ - so” đối ứng với “so”, đây là cách phiên tiện theo dõi và dễ tiếp nhận hơn cả(17).
- Các âm “tỏ hóa”, dĩ nhiên, luôn mang thanh bằng (ngang, hoặc huyền).

STT KTL Đa tiết hóa HĐ TS A
1. *ksɔ1 *Cơ - so So 2 X
2. *ksaŋ1 *Cơ - sang Sang 6 X
3. *ksaŋ1 *Cơ - sang Sang 2 X
4. *kset6 *Cơ - sệt Sệt 1 X
5. *ksɔi1 *Cơ - soi Soi 3 1
6. *ksoŋ5 *Cơ - sống Sống 3 X
7. *c’sao1 *Chơ -sao Sao 4 3
8. *klɛo1 *Cơ - leo Treo 2 X
9. *kroŋ1 *Cơ - rông Trông 4 3
10. *kroŋ5 *Cơ - rống Trống 1 X
11. *tbui *Tơ - bui Vui 6 5
12. *blai5 *Bờ - lái Trái 3 X
13. *krot5 *Cơ - rốt Rốt 3 X
14. *klam2 *Cơ - lầm Lầm 2 1
15. *mlei2 *Mờ - lời Lời 3 1
16. *klən5 *Cơ - lớn Lớn 1 X
17. *klui1 *Cơ - lui Lui 7 5
18. *kmia3 *Cơ - mỉa Mỉa 1 X
19. *kmuəŋ5 *Cơ - muống Muống 2 1
20. *kmuŋ2 *Cơ - mùng Mùng 2 1
21. *blăŋ1 *Ba - lăng Trăng 10 X
22. *bləi2 *Bờ - lời Trời 19 18
23. *klɯək5 *Cơ - lước Trước 2 X
24. *?jə1 *A - giơ Giơ 1 X
25. *kjau2 *Cơ - giàu Giàu 7 6
26. *klăt6 *Cơ - lặt Lặt 1 X
27. *ksâm2 *Cơ - sầm Sầm/ thầm 2 X
28. *kŋu3 *Cơ - ngủ Ngủ 3 1
29. *tbua *Tơ - bua Vua 2 X
Tổng 103 89


Sau khi tiến hành tái lập, chúng tôi thấy, trong số 89 trường hợp câu thơ có sáu chữ, có đến 83 câu đúng luật, chỉ có 6 câu bị thất luật. Chúng tôi cho rằng, 83 trường hợp đúng luật là kết quả có thể chấp nhận được. Còn sáu vị trí thất luật tạm để tồn nghi chờ nghiên cứu tiếp, chúng sẽ thuộc về trường hợp câu sáu chữ có đến hai vị trí tái lập.
Tóm lại, như trên đã trình bày, chúng tôi đã tiến hành tái lập ngữ âm của 29 ngữ tố xuất hiện với tần số 103 lần trong QATT. Trên cơ sở 29 chữ Nôm cổ dạng E2 (48 lượt) ghi các từ có tổ hợp phụ âm đầu CC- trong cấu trúc ngữ âm CCVC của tiếng Việt thế kỷ XV. Mười tổ hợp phụ âm đã được tái lập qua các chữ Nôm E2 gồm có: *ks-, *kl-, *tb-, *c’r-, *ml-, *km-, *bl-, *?-, *kj-, *kŋ-. Bài viết mở đầu cho một số công việc mà chúng tôi dự định làm trong tương lai: (1) Giải mã hơn 400 câu thơ sáu chữ trong QATT để từ đó đi đến trả lời câu hỏi liệu có hay không thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong lịch sử văn học Việt Nam. (2) Nghiên cứu hệ thống ngữ âm tiếng Việt thế kỷ XV. (3) Nghiên cứu chữ Nôm thế kỷ XV... Cách làm của chúng tôi đang đối diện một trong những vấn đề tế nhị nhất của văn bản học, văn tự học cũng như văn học Việt Nam cổ - trung đại. Có thể trong một số trường hợp sẽ không tránh khỏi sai lầm, điều đó thật khó được thông cảm và chấp nhận.
T.T.D

* Bài viết thuộc chương trình nghiên cứu do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc Gia (Nafosted) tài trợ. Xin chân thành cảm ơn!

Chú thích:
(1) Nhân đây, xin gửi lời tri ân đến anh Lê Sơn Thanh đã chia sẻ cho chúng tôi tài liệu quý hiếm này.
(2) Tái lập vốn là thuật ngữ của ngành ngữ âm học, trỏ việc thiết lập lại cách đọc/ ngữ âm của một ngôn ngữ trong quá khứ một cách giả định. Bài viết muốn áp dụng thuật ngữ này cho cả ngành văn tự học và văn bản học. Khái niệm tái lập ở khía cạnh văn tự học chữ Nôm là trỏ việc khôi phục lại các chữ Nôm cổ (đã bị dọn, sửa trong một văn bản cụ thể) trên cơ sở lưu tích của ngữ âm và văn tự Nôm hậu kỳ. Khái niệm tái lập ở khía cạnh văn bản học (của các văn bản chữ Nôm) là trỏ việc dựng lại một cách có hệ thống các yếu tố cổ của văn bản đó, trong đó sẽ có các thao tác đính ngoa, hiệu khám, phê phán văn bản học, phê phán văn tự học,… Và điểm cuối cùng chúng tôi muốn chua thêm ở đây là tái lập luôn hàm ý trong đó sự giả định mà thôi. Nó trỏ một phương thức tiến hành hơn là chân lý tuyệt đối.
(3) Sở dĩ nói là “bất luận” bởi lẽ các yếu tố, các ký hiệu chữ Hán dùng để ghi tiền âm tiết, hay yếu tố đầu của tổ hợp phụ âm theo lẽ thường sẽ (theo tuyến tính trên dưới của một văn bản cổ Hán Nôm) yếu tố chữ Hán dùng để ghi âm tiết chính. Nhưng trong chữ Nôm không phải lúc nào cũng vậy, các ký tự ghi tiền âm tiết hay yếu tố đầu của tổ hợp phụ âm có thể đứng bên phải hoặc bên trái của yếu tố chính. Sở dĩ có những cách viết khác nhau như vậy là do người viết đã bố trí kết cấu, gian giá của các ký tự đó trong một khối vuông. Những sắp xếp ấy thuần để phục vụ cho hình thể, thuộc về lĩnh vực thư pháp cổ điển.
(4) Sự so sánh này hoàn toàn chỉ mang tính thao tác trình bày, để cho quý vị tiện theo dõi, chứ thực tế, hai ngôn ngữ này không có quan hệ họ hàng với nhau. Mọi sự giống nhau về cấu trúc ngữ âm ở đây là ngẫu nhiên từ góc nhìn lịch đại. Nhưng dẫu sao, tổ hợp phụ âm đầu là một phổ niệm ngôn ngữ.
(5) Kiểu tái lập sẽ sử dụng cách ký hiệu có /ə /.
(6) Có thể thấy *thlen4 và là *blen4 những biến thể ngữ âm của cùng một căn tố từ nguyên.
(7) Cụ thể xin xem Trần Trọng Dương 2008b.
(8) Một số từ điển tiếng Việt hiện nay hiểu theo từ nguyên dân gian, coi ma lem với nghĩa là “con ma lem luốc”.
(8) Hiện tượng láy toàn phần từ một động từ gốc có thể thấy xuất hiện trong QATT như: sát sát (sát sát kề song giấc hòe, sau cho biến âm san sát), tấp tấp (giường tấp tấp một nồi hương), phơi phơi (năm thức phơi phơi đuôi phượng mở, tám lòng ỉm ỉm chữ nhàn phong), [Trần Trọng Dương 2011].
Hoặc có thể đây cũng chỉ là một kiểu kết hợp ngẫu nhiên của những từ có cùng một gốc nhưng lại có những biến thể ngữ âm khác nhau, kiểu kết hợp này có được sau khi đã toàn tất quá trình đơn tiết hóa.
(9) “Âm tiết cảm thức là đơn vị nhỏ nhất mà theo chủ quan của những người bản ngữ của một thứ tiếng nào đó phân xuất ra với tư cách là âm tiết.” [theo E.B. Trofimova 1979: 92-98, chuyển dẫn theo Nguyễn Quang Hồng 2002: 44]. Nói một cách đơn giản, âm tiết cảm thức là sản phẩm của quá trình phân chia âm tiết theo cảm thức.
Nếu so sánh những cách ghi trong An Nam dịch ngữ hay An Nam quốc dịch ngữ (hai tác phẩm của người nước ngoài) với những chữ Nôm trong Phật thuyết, ta thấy rằng không phải lúc nào cũng có thể phân biệt rạch ròi giữa âm tiết cảm thức phi bản ngữ và âm tiết cảm thức bản ngữ. Nhiều khi tính chủ quan trong sự cảm nhận các âm tố/ âm tiết còn dựa trên cấu trúc thực tế mà âm đó tồn tại.
(10) Vấn đề này chúng tôi xin được đi sâu hơn trong một bài viết khác.
(11) Lưu ý là các kiểu tái lập đã thực hiện ở phần đầu của bài viết là dùng các ký hiệu của ngành ngữ âm, các tái lập này chỉ để phục vụ các đối tượng nghiên cứu chuyên sâu. Cho nên, khi đối tượng là các độc giả không ở trong ngành ngữ học, chúng tôi tạm phỏng theo phương pháp ký hiệu chính tả quốc ngữ cổ của A. Des Rhodes để tiện theo dõi.
(12) Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ, hiện tượng này chúng tôi xin được đề cập đến trong dịp khác.
(13) Vấn đề này cần phải tiếp tục khảo sát thêm.
(14) Cũng xin lưu ý là dạng đơn tiết cũng có thể có hai ba biến thể khác nhau như lời- trời chẳng hạn.
(15) Bởi chưa phát hiện ra đặc điểm này, nhiều nhà nghiên cứu trước đây đều băn khoăn rằng: nếu đã tái lập ở trường hợp này thì đủ bảy âm tiết nhưng ở chỗ khác lại thừa thành tám chín âm tiết. Tức là cách tiếp cận và tái lập ấy tưởng là có tính hệ thống và tính nhất quán nhưng lại quên đi tính sống động của ngôn ngữ. Tuy nhiên, hầu hết vẫn không mấy khi nghi ngờ về những cặp song tiết- đơn tiết như đá - la đá, ngựa - bà ngựa, ngàn - la ngàn vốn đã có sẵn trong văn bản rồi.
(16) Vấn đề phiên âm Nôm, chúng tôi xin được thảo luận trong một bài viết khác. Ta khó có thể “hiện đại hóa” cách phiên trong QATT như trước nay vẫn làm, bởi nó gây bất lợi cho việc nghiên cứu, ngôn ngữ, văn tự cũng như ngôn ngữ văn học…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu): Dictionarium Anamitico Latinum 1772 - 1772 (Tự vị An nam La tinh), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb. Trẻ. 1999.
2. Nguyễn Tài Cẩn: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo). Nxb. Giáo dục, H. 1997.
3. Nguyễn Tài Cẩn: Về chữ Nôm thời Quốc âm thi tập. Trong “Một số chứng tích về ngôn ngữ - văn tự - văn hóa”. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 1989, tb 2001.
4. Huình Tịnh Paulus Của: “大南國音字彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb. Trẻ. 1998 (theo ấn bản 1895-1896).
5. Trần Trọng Dương: Đi tìm âm đọc cổ cho chữ “lơ thơ”. Tạp chí Hán Nôm. Số 03/2006. tr.44-53.
6. Trần Trọng Dương: Tình hình cấu trúc chữ Nôm qua ‘Khóa hư lục giải nghĩa” và “Khóa hư lục giải âm”. Tạp chí Hán Nôm số 02/2008. tr.43-57.
7. Trần Trọng Dương: Thử tầm nguyên hai chữ “tha la”. Trong “Nghiên cứu chữ Nôm”. Hội bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, Nxb. KHXH, H. 2008, tr.169-180.
8. Trần Trọng Dương: Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển (bản thảo sắp in). Alphabook, Nxb. KHXH, H. 2013, 550 tr.
9. Trần Trọng Dương: Thủy âm kép tiếng Việt cổ thế kỷ XIV-XV qua các chữ Nôm cổ trong Quốc âm thi tập. Tạp chí Ngôn ngữ, số 8/2012. tr.44-61.
10. J.F.M. Génibrel: Dictionnaire Annamite - Français (大越國音漢字法 釋集成), SaiGon Imprimerie de la mission à Tân Định. 1898.
11. Michel Ferlus: Sự biến hóa của các âm tắc giữa (obstruentes mediales) trong tiếng Việt. Vân Hà dịch. Trong Giao lưu văn hóa và ngôn ngữ Việt - Pháp. Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1999a tr.116-145.
12. Michel Ferlus: Những sự không hài hòa thanh điệu trong tiếng Việt Mường và những mối liên quan lịch sử của chúng. Vương Lộc dịch. Trong “Giao lưu văn hóa và ngôn ngữ Việt - Pháp”. Nxb. Tp. Hồ Chí Minh. 1999b, tr.147-161.
13. Michel Ferlus: The Origin of Tones in Viet - Muong, Southeast Asian Linguistic Society XIth Conference, Bangkok, Thailand, May 16-18 2001.
14. Nguyễn Quang Hồng: Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nxb. Giáo Dục. H. 2008.
15. Nguyễn Quang Hồng: Âm tiết và loại hình ngôn ngữ. Nxb. Đại học Quốc gia, H. 2002.
16. Nguyễn Phạm Hùng: Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn (The Heptameter Intercalated with Hexameter Poetry). Nxb. Đại học Quốc gia. H. 2006, 449 tr.
17. Mai Quốc Liên cb: Quốc âm thi tập. Trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (T3). Nxb. Văn học - TTNC Quốc học, H. 2001.
18. Jimes A. Matisoff: Tonogenesis in Southeast Asia, in: Hyman, Larry M. (ed.) Consonant Types and Tones. Southern California Occasional Papers in Linguistics 1, 1973, tr.71-96.
19. Vương Lộc: An Nam dịch ngữ, Trung tâm Từ điển học & Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng. 2001.
20. Shimizu Masaaki: Khảo sát sơ lược về cấu trúc âm tiết tiếng Việt vào thế kỷ XIV-XV qua hai cứ liệu chữ Nôm. Trong Các nhà Việt Nam học nước ngoài viết về Việt Nam (Tập 2). Nxb. Thế giới, H. 2002.
21. Shimizu Masaaki: A Phonological Reconstruction of 15th Century Vietnamese Using Chữ Nôm 字喃Materials. 2010 International Conference and Taiwanese Studies, National Cheng Kung University, Taiwan. 2010.
22. Bùi Văn Nguyên: Thơ quốc âm Nguyễn Trãi. Nxb. Giáo dục. H. 1994.
23. Nhẫn Gaston: Etude du consonantisme du Quốc âm thi tập (Nghiên cứu hệ thống phụ âm đầu của Quốc âm thi tập, Luận án Tiến sĩ đệ tam cấp), INACO. Pháp. 1967, 243 tr.
24. Vũ Đức Nghiệu: Đơn tiết, đơn tiết hoá và đa tiết, đa tiết hoá trong quá trình phát triển của tiếng Việt (Monosyllabism, Monosyllablization and Polysyllabism, Polysyllablization during Vietnamese Developing Process). Kỉ yếu hội thảo quốc tế về ngôn ngữ và ngôn ngữ học liên Á. H. 2005, tr.202-213.
25. Hoàng Thị Ngọ: Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’, Nxb. KHXH, H. 1999.
26. Hoàng Thị Ngọ: Dấu tích của các tổ hợp phụ âm đầu KB, KM, KN, KĐ qua cách ghi chữ Nôm cổ. Trong Mạch đạo dòng đời. Nxb. KHXH, H. 2002, tr.198-208.
27. Nguyễn Tá Nhí: Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nxb. KHXH, H. 1997.
28. Nguyễn Tá Nhí cb: Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, T1, Nxb. KHXH. H. 2008.
29. Trương Đức Quả : Vận dụng tri thức ngữ âm lịch sử trong nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm. Trong “Mạch đạo dòng đời”. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. H. 2002, tr 221-237.
30. Alexandro de Rhodes: 1651. Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico. - Romae: typis & sumptibus eiusdem Sacr. Congreg. p.633, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb. KHXH. H. 1994.
31. Nguyễn Ngọc San: Chữ Nôm và văn bản chữ Nôm, trong Cơ sở ngữ văn Hán Nôm (Tập IV phần 2). Lê Trí Viễn chủ biên, Nxb. Giáo dục, H. 1987. tr.184-355.
32. Nguyễn Ngọc San: Góp vài ý kiến về âm đầu tiếng Việt cổ qua cứ liệu Phật thuyết, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.1982.
33. Nguyễn Ngọc San: Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2003.
34. Nguyễn Ngọc San: Lý thuyết chữ Nôm - văn Nôm, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2003.
35. Paul Schneider: Nguyen Trai et son Receuil de Poemesen en Langue Nationale. Centre National de la Rechercher Scientifique. Paris. 1987.
36. Cao Tự Thanh: Văn học Đàng Trong. Trong “Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử”, Trần Ngọc Vương chủ biên, Nxb. Giáo dục, H. 2007.
37. Trần Uyên Thi-Nguyễn Hữu Vinh: Ai vẽ được, ai xóa được? Dấu vết âm Việt cổ: từ song tiết và phụ âm kép. Tham luận Hội nghị Quốc tế về tiếng Việt. Viện Việt học, California, USA. 2007
38. Trần Thái Tông: Thiền tông khóa hư ngữ lục. Tuệ Tĩnh giải nghĩa, Trần Trọng Dương khảo cứu, dịch và phiên chú. Nxb. Văn học & TT Nghiên cứu Quốc học. 2009.
39. Nguyễn Hùng Vĩ: Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Trong “Thông báo Hán Nôm học năm 2009”. Nxb. KHXH. H. 2010./.


Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

THỦY ÂM KÉP TIẾNG VIỆT THẾ KỈ XIV- XV QUA CÁC CHỮ NÔM CỔ TRONG QUỐC ÂM THI TẬP


Bài đã đăng Tạp chí Ngôn ngữ số tháng tám năm 2012,
Bài có nhiều ký hiệu không thể hiển thị trên web, nên up nguyên văn pdf.
link download (có thể trích dẫn):http://www.mediafire.com/?g4fvr1xie2po62c


TRẦN TRỌNG DƯƠNG

Quốc âm thi tập (QATT) của Nguyễn Trãi (1380 -1442) là kho ngữ liệu phong phú về tiếng Việt cổ cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV. Trước nay đã có một số bản phiên âm chú thích về tác phẩm này. Cũng đã có nhiều bài viết hay công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong QATT. Đáng kể nhất là luận án tiến sĩ “Nghiên cứu phụ âm trong Quốc âm thi tập” (Etude du consonantisme du Quốc âm thi tập) của Nhẫn Gaston được thực hiện khá sớm vào năm 1967 trên cơ sở bản phiên đầu tiên của nhóm Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điểm (1956). Tiếc rằng, cho đến nay công trình này, sau gần năm mươi năm thực hiện, lại chưa từng được giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài sử dụng. Nghiên cứu của Nhẫn Gaston cho thấy, thủy âm kép tiếng Việt cổ vào thế kỉ XV phong phú hơn nhiều so với thế kỉ XVII (bl-, ml-/ mnh-, và tl-). Trên cơ sở kế thừa những kết quả của Nhẫn Gaston và nhiều thành tựu mới trong nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt cũng như những phát hiện mới về văn bản học trong nhiều năm qua, bài viết này tiến hành khảo sát và nghiên cứu hệ thống thủy âm kép thế kỉ XIV- XV qua tác phẩm quan trọng hàng đầu trong lịch sử ngôn ngữ Việt Nam này.
Các cứ liệu so sánh đối chiếu về văn tự học chữ Nôm và ngữ âm lịch sử, gồm có:
1) Các văn bản cổ như: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (vt. Phật thuyết), Thiền tông khóa hư ngữ lục, An Nam dịch ngữ, An Nam quốc dịch ngữ, Từ điển Việt Bồ La…
2) Các công trình nghiên cứu (hoặc phiên chú) về các văn bản này, tiêu biểu là của các tác giả Nhẫn Gaston (1967), Đào Duy Anh (1976), Nguyễn Tài Cẩn (1999), Nguyễn Quang Hồng (2002, 2008), Nguyễn Ngọc San (1982, 2003), Vương Lộc (1997), Paul Schneider (1987), Hoàng Thị Ngọ (1999), Shimizu Masaaki (2005, 2010), nhóm Mai Quốc Liên (2001), nhóm Nguyễn Tá Nhí (2008)…
3) Các tư liệu và công trình nghiên cứu về lịch sử ngữ âm tiếng Việt cũng như các phương ngữ và ngôn ngữ bảo thủ, tiêu biểu như Nhẫn Gaston (1967), Nguyễn Văn Lợi (1993), Nguyễn Tài Cẩn (1997), Michel Ferlus (1999), Nguyễn Ngọc San (2003), Nguyễn Văn Tài (2006), Vũ Đức Nghiệu (2011),…
Quy ước trình bày như sau: Về chữ Nôm, chúng tôi cắt tự dạng từ nguyên bản, sau đó tiến hành phân tích cấu trúc, trong đó kí hiệu văn tự dùng để ghi yếu tố đầu trong thủy âm kép luôn được đưa lên trước, bất luận1 nó có vị trí như thế nào trong chữ Nôm đó, phân tích như vậy để tiện theo dõi và trình bày, nếu như phần chữ Nôm đó có một số chữ tục thể, giản thể thì chúng tôi đều thống nhất quy về dạng chính thể, phồn thể, thí dụ: (cư 車+ lôi雷). Các văn cảnh Nôm dịch từ tiếng Hán đều được dẫn nguyên văn chữ Hán, với cấu trúc: câu dịch Nôm (đích) < nguyên văn Hán (nguồn). Dấu sổ chéo / chỉ các giá trị ngữ âm hoặc ngữ nghĩa tương đương. Các ngữ liệu trong QATT sẽ dẫn theo cấu trúc nguồn, gồm: phiên âm câu thơ sang tiếng Việt hiện đại, (tên bài - số bài. số câu), thí dụ: (Mai thi 226.4) nghĩa là ngữ liệu đó xuất hiện tại câu 4 trong bài Mai thi, số 226 trong QATT. Kiểu tái lập giả định, sẽ luôn được đánh dấu asterisk (*) ở đầu, riêng ngữ tố đang tái lập sẽ in đậm. (1) (cư 車 + lô 盧); (cư車 + sô芻), xuất xứ: “Ngạn nọ so miền Thái Thạch, Làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương” (Trần Tình 42.3), “Huống lại bảng xuân sơ chiếm được, So tam hữu chẳng bằng mày” (Mai thi, 226.4). Ở đây, các tự dạng đang xét đến đều cổ như nhau, có giá trị tương đương nhau, nên giữ nguyên cả hai trường hợp. Nhẫn Gaston tái lập là *kro [6, 150]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klo và *kso [17, 239]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh vào thế kỉ XIV ghi車卢, tại vị trí Chẳng luận so đấng trí cùng đấng ngu <不論上智下愚 (7a4), Trần Trọng Dương tái lập là *kro [36, 34]. Cả ba cách tái lập trên đều có ưu điểm riêng. Các kiểu tái lập như *kl-, *kr- là bám sát vào tự dạng Nôm. Nguyễn Ngọc San dựa vào các lưu tích của một số thổ ngữ Mường, đã đưa ra giả thuyết rằng thủy âm kép *ks- vốn là lai nguyên của S- hiện nay. Với cứ liệu chữ Nôm, chúng tôi thấy rằng giả thuyết của Nguyễn Ngọc San là có cơ sở. Bài viết chấp nhận tất cả các kiểu tái lập trên, bởi các giá trị tái lập không loại trừ mà bổ sung cho nhau (từ đây về sau xin dùng dấu sổ chéo, để biểu thị tính tương đương về mặt giá trị giữa các kiểu tái lập này). Các kiểu tái lập: *klɔ1 / *krɔ1 / *ksɔ1 > so (= sánh, lưu tích còn trong so sánh, so bì, so kè, so đo và có thể so le nữa).
(2) (cự 巨+ lang郎), xuất xứ: “Sang cùng khó bởi chưng trời, Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi” (Ngôn chí 10.1), (Trần tình 44.1), (Tự thán 91.2), (Hoa mẫu đơn 233.1), (Miêu 251.7). So sánh với đối ứng khang (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, và đối ứng hrmang và rəmang trong tiếng Tênh, Nhẫn Gaston tái lập là *krang [6, 148]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klaŋ [17, 239]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục (tk XIV) ghi tự dạng tương tự ở các vị trí 15b2, 40b3, 70a6; Trần Trọng Dương tái lập là *krang [36, 34]. Cả hai kiểu tái lập trên đều có lí. Với đối ứng có thủy âm kh- trong tiếng Mường, ta có thể nghĩ đến các thủy âm kép: *khl-, *khr- và *khs-. Các kiểu tái lập: *khlaŋ1/ *khraŋ1/ *khsaŋ1/ *klaŋ1/ *kraŋ1 / *ksaŋ1> sang (tính từ trái nghĩa với hèn). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm giả tá 廊lang tại vị trí (Thuật hứng 53.5), nay nên cải chính quy về dạng cổ.
(3) (cự 巨 + lang郎), xuất xứ: “Đài Tử Lăng cao, thu mát, Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang” (Ngôn chí 9.4). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm giả tá郎lang tại vị trí “Đông đà muộn lại sang xuân, Xuân muộn thì hè lại đổi lần” (Thu nguyệt tuyệt cú 198.1), nay nên cải chính, quy về dạng cổ. So sánh với các đối ứng khlăng trong tiếng Brou và srang, srơng trong tiếng Chăm, Nhẫn Gaston tái lập là *krang [6, 149]. So sánh với đối ứng khảm trong tiếng Tày [11, 404]; [10, 232]. Các kiểu tái lập: *khlaŋ1/ *khraŋ1/*khsaŋ1/ *klaŋ1/ *kraŋ1 / *ksaŋ1> sang (vượt qua, chuyển qua).
(4) (cự巨+ liệt列), xuất xứ: “Hoa còn để rụng lem đất, Cửa một dường cài sệt then” (Tức sự 124.6). Ngữ tố đang xét chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong QATT. Các tác giả Trần Văn Giáp (1956), Nhẫn Gaston (1967), Đào Duy Anh (1976), Bùi Văn Nguyên (1994), Paul Schneider (1987), nhóm Nguyễn Tá Nhí (2008) đều phiên lướt. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) phiên trượt. Nguyễn Quang Hồng (2008) chọn âm sít. Nguyễn Hùng Vỹ (2010) xác định âm sệt2. Chúng tôi theo giả thuyết cuối cùng. Các kiểu tái lập: *klet6/ *kret6/ *kset6. Ba kiểu tái lập trên cho phép lần ra các đồng nguyên tự của chữ này trong tiếng Việt hiện nay. *klet6 > rụng [k-] > lệt (trong lệt sệt) và lết (trong lết bết), có thể cả loẹt và quẹt (trong loẹt quẹt); *kret6 > hòa đúc > trệt và *kset6 > sệt.
(5) (cư 車+ lôi雷), xuất xứ: “Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt, Thề xưa hổ có giang san” (Thuật hứng 63.5). Tự dạng 車雷 còn tìm thấy tại câu “Lòng thiền vặc vặc, trăng soi giãi” trong Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang. Ngữ tố này trong QATT còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì là tại các vị trí: “Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện, Đông hè trải đã xưa nay” (Trần tình 45.5), “Lặt hoa tàn xem ngọc rụng, Soi nguyệt xấu kẻo đèn khêu” (Tự thán 105.6), nên tái lập dạng cổ là . So sánh với đối ứng xơrol, sơrol, srol, sraj, sơral trong tiếng Bahnar [6, 41, 150], và yếu tố tương đương rọi trong tiếng Việt hiện đại [6, 150], so sánh với các đối ứng harei, hurei, trong tiếng Chăm và suluh trong tiếng Malais [6, 42], Nhẫn Gaston tái lập là *kroi [6, 31, 42, 150]. Các kiểu tái lập: *klɔi1 /*krɔi1 / *ksɔi1 > soi (chiếu sáng, chiếu vào).
(6) (trá 吒 + lao牢), xuất xứ: “Đàn chìm đạn ngọc sao Bắc, Phất dõi cờ lau gió Tây” (Nhạn trận 249.3). Ngoài sao (nghĩa: ngôi sao), còn có từ đồng âm khác nghĩa sao (hư từ: cảm thán, nghi vấn), có khả năng cũng đọc tương ứng vào thế kỉ XV. Chữ Nôm đang xét ở đây thuộc loại đặc hữu của văn bản QATT, trá là một âm quặt đầu lưỡi, cho nên việc tái lập không đơn giản. Một số học giả có lẽ đã liệt nó vào tự dạng tồn nghi nên đã không đưa vào nghiên cứu của mình. Nhẫn Gaston (và sau đó ảnh hưởng đến Paul Schneider) đã so sánh với tiếng Mường (Úy Lô), tái lập là *krao [6, 38]. Chúng tôi cho rằng ý kiến này rất đáng lưu ý. Bởi lẽ, dù chữ Nôm đó ghi tiền âm tiết gì, thì phần quan trọng không thể phủ nhận là thanh phù lao. Tạm thời, khi so sánh với các cứ liệu chữ Nôm E2 như đã trình bày trên, chúng tôi đưa ra các kiểu tái lập là: *klao, *krao, *ksao. Cách tái lập như trên sẽ có tính thống nhất khá cao. Tuy nhiên, chúng tôi muốn thảo luận thêm ở trường hợp này. Như ta biết các thổ ngữ Mường (Mường Danh, Giai Xuân) có đối ứng là thao [15, 124]. Một số phương ngữ và địa phương hiện nay vẫn có cách đọc là thao tháng (sao sáng). Nguyễn Tài Cẩn cho rằng đây là lưu tích của thủy âm kép đầu trong tiếng Mường, mà tiếng Mường đã rụng mất âm rung -*r- và cuối cùng ông đi đến nhận định khá quan trọng rằng “lai nguyên của S thuần Việt ở giai đoạn Proto Việt - Chứt đúng là những tổ hợp phụ âm đầu” [15,113]. Điều này gợi ý rằng, thủy âm kép ấy có khả năng vẫn còn tồn tại cho đến thời tiếng Việt cổ (thế kỉ XIII-XVI), mà cụ thể ở đây là tiếng Việt thế kỉ XV trong QATT của Nguyễn Trãi. Trình bày như vậy để thấy được tầm quan trọng của cứ liệu đang xét. Đến đây, bài viết muốn so sánh với các văn bản cổ có trước hoặc sau thời điểm này một chút. Phật thuyết tất thảy 11 lần đều dùng牢 mà không có yếu tố ghi yếu tố đầu của thủy âm kép, cứ liệu này xác quyết cho tính hệ thống của thanh phù Nôm để ghi ngữ tố đang xét. An Nam dịch ngữ xuất hiện sau QATT một chút chỉ ghi: 星抄 (tinh: sao), Vương Lộc tái lập là *ts’ao [40, 115]. So sánh với âm si có đối ứng trong thổ ngữ Mường là *c(ə)rĭ [15, 113], chúng tôi đề xuất kiểu tái lập *c(ə)rao hoặc *c’rao cho sao. Như ta biết, lai nguyên của S- Việt gồm có các tổ hợp *phl-, *khl-,… nay với cứ liệu này, ta có thể có thêm các khả năng là *c- hoặc *c’-. Tóm lại, chúng ta có mười khả năng tái lập: *c(ə)lao1 / *c(ə)rao1 / *c(ə)sao1 / *c’lao1 /*c’rao1 /*c’sao1 / *klao1/ *krao1/ *ksao1 và *ts’ao.
(7) (cự 巨+ liêu僚), xuất xứ: “Phú quý treo sương ngọn cỏ, Công danh gửi kiến cành hòe” (Tự thán 73.3). Ngữ tố này còn được ghi bằng 撩, nên tái lập dạng cổ là 3 ở vị trí: “Tuyết sóc treo cây điểm phấn, Quỹ đông giãi nguyệt in câu” (Ngôn chí 14.3). Nhẫn Gaston ở hai vị trí này lần lượt phiên là liều và trèo, gợi ý tái lập thủy âm kép *kl- hoặc *kr- [6, 44, 54]. Ông cũng dẫn trong nghiên cứu của mình hàng loạt thí dụ cho sự đối ứng kl- (Mường) và tr- (Việt) như sau: klai- trái, klại-trại, klao-trao, klăng- trắng, klận- trận, klật- trật, kle- tre, kliều- triều, kliện- truyện, klình- trình, klỏ- trỏ, klói- trói, klót- trót, klốk- trốc, klôi- trôi, klốn- trốn, klở- trở, klu- trâu,… [6, 45]. Các đối ứng Mường - Việt còn thể hiện phong phú hơn nữa qua thống kê của Nguyễn Văn Tài [24, 281-284]. Nguyễn Quang Hồng đọc là treo và tái lập là *kleu [17, 239]. Chúng tôi theo giả thuyết cuối và tái lập là: *klɛu1 > treo.
(8) (cư 車 + lung籠), xuất xứ: “Có của hằng cho lại có thông, Tích nhiều con cháu nọ trông” (Bảo kính cảnh giới 130.2). Ngữ tố này được ghi bằng (lung籠 + vọng望) (long竜 + trung中), nên tái lập dạng cổ là ở các vị trí (Thuật hứng 51.2), (Mạn thuật 26.2), (Hòe 244.2). Phật thuyết có 3 chữ Nôm để ghi ngữ tố này: ghi bằng chữ Nôm hai mã cố lung ở vị trí: “Trông mặt Bụt, con mắt chẳng phút từng thôi” < 瞻仰尊顏目不暫 (33a9), ghi bằng cá lung tại vị trí: Vỏng trông giáo thực thửa thốt < 瞻仰真乘說 (3a1), ghi bằng tại vị trí “Trông trong trời, kính trong đất” < 瞻天伏地 (43b3). Từ điển Việt Bồ La ghi: “tloò: trông đợi, trông cậy. tloò thày đến: tôi trông đợi thày sẽ đến. tloò cậy người: trông cậy vào ai. Troũ: cùng một nghĩa” [27, 233]. Như vậy, thế kỉ XV là *kl- / *kr- sẽ chuyển thành tl- trong thế kỉ XVII. Các kiểu tái lập: *kloŋ1/*kroŋ1> trông.
(9) (cổ古 + lộng弄), xuất xứ: “Giang san cách đường ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba” (Tự thán 94.6). Nhẫn Gaston tái lập *klống [6, 41]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục (thế kỉ XIV) ghi tự dạng Nôm tương tự tại các vị trí 67b3, 75b3, 43b6, Trần Trọng Dương tái lập là *klống [36, 35]. So sánh với một số ngôn ngữ nhóm Việt Mường: klống (Mày), klống (Mã Liềng), klống (Đan Lai, Ly Hà) [40, 59]. Từ điển Việt Bồ La ghi: “tlãò: trống. Đánh tlãò: đánh trống. Giáo tlãò: cùng một nghĩa. tlãò cái: trống tròn” [27, 233]. Các kiểu tái lập: *kloŋ5/ *kroŋ5 > trống (cái trống).
(10) (tư 司 + bôi盃), xuất xứ: “Vui chẳng đã đạo làm lành”. (Tự thán 99. 8), “Ta nẻo ở đâu vui thú ấy” (Tự thán 103.7). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì , nên tái lập dạng cổ là ở các vị trí: “Vui xưa chẳng quản đeo âu” (Ngôn chí 19.8), “Khó miễn vui” (Thuật hứng 58.7), “Đổi lần mấy áng phồn hoa, Dầu ngặt ta vui đạo ta” (Bảo kính cảnh giới 168.2). So sánh với đối ứng pui (Mẫn Đức, Mỹ Sơn, Làng Um, Suối Sàng, Thạch Bi) trong tiếng Mường, Nhẫn Gaston tái lập là *kbui [6, 131]. Shimizu Masaaki dẫn đối ứng tapuj1 trong tiếng Rục [29, 769], và dẫn 2 xuất xứ trong Phật thuyết. Các kiểu tái lập: *tpui1 / *tbui1 > vui.
(11) (ba巴 + lại賴) và (cự巨 + lãn懶), xuất xứ: “Co que thay bấy ruột ốc, Khúc khuỷu làm chi trái hòe” (Trần tình 44.4), “Muốn ăn trái dưỡng nên cây, Ai học thì hay mựa lệ chầy” (Bảo kính cảnh giới 137.1), (Thuật hứng 64.4). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì , nên tái lập dạng cổ là ở vị trí: “Trường thiền định hùm nằm chực, Trái thì trai vượn nhọc đam” (Thuật hứng 64.4). Như vậy ta có 2 biến thể ngữ âm cùng tồn tại trong một văn bản là: *blai5/ *klai5> trái (cây trái). An Nam dịch ngữ ghi: 菓園:文拜quả viên (vườn trái) , ngoài ra còn xuất hiện ở các vị trí 188, 239, 595, Vương Lộc tái lập là *plai5 và *blai5 [40, 58]. Từ điển Việt Bồ La tuy không có mục từ trái trỏ hoa quả, nhưng có ghi nhận từ đồng âm trái (với nghĩa ‘phía trái, mặt trái’), như: “tlái áo, tay tlái, tlái mlẽ, nói tlái, tlái mặt thuốc, lúa tlái” [27, 230]. Các kiểu tái lập: *klai5 / *blai5 / *plai5.
(12) (cự 巨 + lâm林), xuất xứ: “Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không, Xem ắt lầm một thức cùng” (Thủy nguyệt trung 212.2). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì 林, nên tái lập dạng cổ là ở vị trí: “Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé, Hòn đất hầu lầm, mất cái chim” (Bảo kính cảnh giới 150.6). Nhẫn Gaston tái lập *klầm [6, 62]. Chúng tôi thấy một số chữ Nôm có khả năng mang thủy âm kép kl- trong Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú như: 凜个 (lẵm), 粦个 (lăn), 吝个 (lấn), 禮个 (lẩy), 呂个 (lõa), 彔个 (lóc), 賂个 (lộ), 論个 (lộn), 律个 (lốt), 盧个 (lừa) [26, 623]. So sánh với mlầm và mnhầm trong Từ điển Việt Bồ La [27, 149]. Kiểu tái lập: *klam2 > lầm/ nhầm.
(13) (ma麻 + lệ例); (bộ khẩu 口+ ma麻 + lệ例), xuất xứ: “Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe” (Trần tình 44.2). “Này lời nhắn bảo khách bàng quan” (Bảo kính cảnh giới 185.1) và “Chẳng nhàn xưa chép lời truyền bảo” (Bảo kính cảnh giới128.7). Có thể thấy tự dạng sau là một chữ hậu kì phái sinh từ tự dạng trước bằng cách thêm bộ khẩu, nên nhất quán quy về tự dạng cổ hơn. Ngữ tố này được ghi bằng 麻列 trong Phật thuyết tại các vị trí "ma- lời nết thô xấu" < 言行乖疎(19a1), và tại các vị trí 6b3, 8b7, 19a9, 31a9, 42a5... (tần số 10 lần). Hoàng Thị Ngọ tái lập *mlời [8, 109]. Kiểu tái lập: *mlei2/ *mnhei2 > lời/ nhời.
(14) (cự 巨 + lãn懶), xuất xứ: “Chẳng ngừa nhỏ âu nên lớn, Nẻo có sâu thì bỏ canh” (Bảo kính cảnh giới 136.5). So sánh với một số đối ứng trong các ngôn ngữ bảo thủ như klan, glan, long (Stieng), karan (Mon), mran (Birman), gelen, leng (Santali), Nhẫn Gaston tái lập là *klớn [6, 40]. Sách Phật thuyết, một lần ghi ngữ tố này được ghi bằng chữ Nôm cổ hai mã 麻吝 (ma lận) tại câu “No ấy Bụt mới mặc tám đấng tiếng rộng ma-lớn bảo đại chúng rằng” < 爾時如來即以八種深重梵聲 (23a7). So sánh với mlớn trong Từ điển Việt Bồ La [27, 150]. Có thể thấy các diễn biến từ [ml-] và [mnh-] với [l-] và [nh-]. Như vậy, ngữ tố này có hai khả năng tái lập, các cứ liệu vừa nêu cho thấy, không thể xác quyết cách tái lập nào là cổ hơn, song với sự ghi nhận của Từ điển Việt Bồ La, thì đến thế kỉ XVII, *klən5 có thể đã biến mất. Song thức *klən5/ *mlən5 có thể đã cùng tồn tại trong tiếng Việt cổ thế kỉ XV. Các kiểu tái lập: *klən5/ *mlən5> lớn/ nhớn
(15) / (cư車 + lôi雷), xuất xứ: “Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tận, Lui thuyền lãng đãng ở trên dòng” (Thủy nguyệt trung 212.8), “Gánh khôn đương quyền tướng phủ, Lui ngõ được đất Nho thần” (Trần tình 3.74), “Vũ Tử lui tuy chịu dại, Bá Di lánh mới nên thanh” (Bảo kính cảnh giới 166.5). Ngữ tố này thường được ghi bằng các chữ Nôm giả tá hoặc hình thanh hậu kì như và , nên tái lập tự dạng cổ là ở các vị trí: “Thân nhàn dầu tới dầu lui, Thua được bằng cờ ai kẻ đôi” (Ngôn chí 13.1), “Chỉn xá lui mà thủ phận, Lại tu thân khác mặc thi thư” (Mạn thuật 34. 7), “Bảo kẻ làm quan đã có duyên, Tới lui mặc phận tự nhiên” (Thuật hứng 53.2), “Sóng khơi ngại vượt bể triều quan, Lui tới đòi thì miễn phận an” (Bảo kính cảnh giới 160.2). Từ điển Việt Bồ La không thấy ghi dạng thủy âm kép ml-. Hiện chưa tìm thấy đối ứng trong các phương ngữ, cũng chưa tìm thấy các cách ghi chữ Nôm cổ cho ngữ tố này. Chữ Nôm đang xét chỉ xuất hiện ở QATT, nhưng xuất hiện 3 lần với hai tự dạng khác nhau về mặt hình thể. Với cấu trúc chữ Nôm ghi âm như đã phân tích, kiểu tái lập có thể là: *klui1 > lui/ lùi. Tương tự như *klən5> lớn ở trên.
(16) (cự 巨 + mộng夢), xuất xứ: “Ao quan thả gửi hai bè muống, Đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng” (Thuật hứng 68.5). Ngữ tố này còn được ghi bằng 夢, nên tái lập dạng cổ là ở câu “Rửa lòng thanh vị núc nác, vun ngõ ải rãnh mùng tơi” (Ngôn chí 10.4). So sánh với một số từ có thủy âm kép km-, như 木个 kmóc (Phật thuyết), 車 莽*kmắng (Phật thuyết),夢 巨 *kmòng (Thiên Nam ngữ lục) [8, 90-92], và麻个 *kmà, 買个 *kmái, 免个 *kmến, 免个*kmởn, 蔑个 *kmệt, 蔑个 *kmịt, 某个 *kmõ, 媒个 *kmối, 悶个 *kmuộn, 末个 *kmượt (Nguyễn Tá Nhí 1998, chuyển dẫn theo Hoàng Thị Ngọ trong [8, 92])4, (xem thêm Nhiếp Tân trong [26, 624]). Kiểu tái lập: *kmuŋ2> mùng (mùng tơi).
(17) (cự 巨 + mộng夢), xuất xứ: “Ao quan thả gửi hai bè muống, Đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng” (Thuật hứng 68.5). Ngữ tố này còn được ghi bằng 夢, nên tái lập dạng cổ là ở câu “Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen” (Thuật hứng 69.3). Nhẫn Gaston tái lập là *kmuống, ông so sánh với các từ có thủy âm m- (Việt) có đối ứng km- trong một số ngôn ngữ bảo thủ, ví như: mưa (Việt) - kơma (Sách), kama (Pọng), kơma (Tênh); môi (Việt) - kê muy/ kê man (Mường); mộng (Việt) - kơmơng (Bahnar) [6, 46]. Kiểu tái lập: *kmuəŋ5> muống.
(18) (cự 巨 + mĩ 美), xuất xứ: “Ngàn nọ so miền Thái Thạch, Làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương” (Trần tình 42.4). Một số ngữ liệu khác: “Mỉa Đào Nguyên động, in đồ Vũ Lăng” (Chiêu Anh Các, Lư khê vãn c.24), “Nét phong tao mỉa chuyện hồng lâu, Trang thanh tú cũng phường bạch bích” (Đông Lộ địch tr.9), âm tái lập: *kmia3> mỉa (nghĩa là “giống với, so với”). Mỉa là một từ cổ được ghi nhận như sau: “美 mỉa. Similis, e. 美 枚 mỉa mai. 美羕 mỉa dạng. 美 似 mỉa tợ. 美 美 mỉa mỉa. 美 欮 mỉa chiệng”. [1, 292]. “Mỉa .n. Mường tượng, gần giống, không khác gì bao nhiêu. Mỉa mai. Mỉa giống. Mỉa dạng. Mỉa Tợ. Mỉa chiệng. Id.” [12, 646]. Trước nay, vị trí này thường được phiên là mở hay mẽ. Nay cải chính theo các cứ liệu trong từ điển cổ nêu trên. Từ cổ mỉa đã từng được chúng tôi đề cập đến [31, 48], nhưng thực sự đọc ở vị trí đang xét thì phải kể đến bài viết của Trần Uyên Thi và Nguyễn Hữu Vinh [35]. Với cách ghi chữ Nôm như đã phân tích ở trên, có thể tái lập là *kmia3 > mỉa. Thủy âm kép *km-, đã được Hoàng Thị Ngọ [8, 90-92] đề cập đến khá chi tiết, đã nêu ở trên, nay không nêu lại nữa.
(19) (ba巴 + lăng夌), xuất xứ: “Gió tận rèm thay chổi quét, Trăng kề cửa kẻo đèn khêu” (Thuật hứng 67.4). Ngữ tố này còn được ghi bằng , nên đổi tất sang dạng cổ ở các vị trí sau: (Ngôn chí 16.4), (Mạn thuật 23.6), (Tự thán 77.4, 78.3, 97.3, 98.4, 101.3), (Bảo kính cảnh giới 155.6, 167.6). Từ điển Việt Bồ La ghi “blang, blang tlòn, blang khuiét, sáng blang” [27, 39]. So sánh với một số đối ứng plang (Mỹ Sơn), plong (Úy Lô), klang (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, plan (Sách), plong (Hung, Pong), pulan (Rục), plang (Mày) và rơlêăng (Trì, Hang Koong, Khùa, Vân Kiều), balan, bulan (Chăm), bulan (Malais), Nhẫn Gaston tái lập là *plăng [6, 51]. Chúng tôi theo giả thuyết này. Một số đối ứng bổ sung theo Nguyễn Văn Tài như: plăŋ2 (Mường Thải, Tân Phong, Huy Thượng), tlăŋ2 (Yến Mao, Ba Trại, Mường Bi, Mường Khói,...), klăŋ2 (Mường Thàng, Mường Động, Mường Mặc) [24, 281]. Kiểu tái lập: *plaŋ1 >*blaŋ1> trăng/ giăng.
(20) (ma 麻 + lệ例), xuất xứ: “Đạo này để trong trời đất, Nghĩa ấy bền chưng đá vàng” (Tự thán 93.3). Chữ Nôm đang xét dù rằng được coi là cổ, nhưng lại là một chữ Nôm giả tá, vốn để ghi âm *mlei2 (> lời, nhời)5, Trong văn bản, ngữ tố trời đều được ghi bằng một chữ Nôm muộn hơn nữa là , xuất xứ: “Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, Tình phụ cơm trời áo cha” (Ngôn chí 8.8, 10.1, 14.8), (Trần tình 38.7, 40.1, 45.8), (Tự thán 85.8, 96.1), (Bảo kính cảnh giới 146.7, 175.1, 182.5) (Tích cảnh thi 209.2), (Thủy thiên nhất sắc 213.1), (Trúc thi 223.2), (Mộc hoa 241.1), (Trường an hoa 246.2), (Lão hạc 248.7). Đây có thể là sản phẩm dọn bản của nhóm Dương Bá Cung vào thế kỉ XIX. Để thống nhất chính tả với ngữ âm, có lẽ nên tái lập dạng cổ là (ba 巴+ lệ例), đây là tự dạng không hề xuất hiện trong văn bản QATT, nhưng lại may mắn còn bảo lưu trong văn bản Phật thuyết. Có thể tái lập văn tự cổ cho các vị trí khác trong toàn văn bản. An Nam dịch ngữ ghi 天雷 (số 1), Vương Lộc tái lập *blời [40, 115]. So sánh với các đối ứng tlơy (Vân Mộng, Hạ Sữu, Thái Thịnh, Đông Tân, Ban Chanh, Thái Lai) và plơy (Mỹ Sơn, Úy Lô, Ban Ken), klơy (Suối Săng, Quy Mỹ, Thạch Bi), tlơy, klơy (Nho Quan) trong tiếng Mường và một số đối ứng trong các ngôn ngữ bảo thủ như plơy (Sách), prơy (Pọng), p’lơy (Mày, Rục), t’lơy (Arem), bri (Xa Khao), kre (Brou), bri (Khmu, Tênh), preah (Khmer), Nhẫn Gaston tái lập là *plời và *klời [6, 52], ông còn cho rằng blời là diễn biến từ *plời, điều đó có nghĩa là *plời là dạng cổ hơn, có khả năng thực tế vào tiếng Việt thế kỉ XV [6, 52]. Kiểu tái lập: *plei2/ *klei2> trời/ giời.
(21) (cư 車 + lược畧) xuất xứ: “Kìa nẻo Tô Tần ngày trước, Chưa đeo ấn tướng có ai chào?” (Thuật hứng 66.7), “Chớ cười hiền trước rằng dại, Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân” (Tích cảnh thi 204.3). Nhẫn Gaston tái lập *klước khi so sánh với An Nam dịch ngữ và các đối ứng klước (Thạch Bi), tlước (Mẫn Đức) [6, 43]. “An Nam dịch ngữ” ghi 山前內勒 (số 72), Vương Lộc tái lập 勒 là *tlước theo Từ điển Việt Bồ La hoặc *klước theo thổ ngữ Lâm La của tiếng Mường [40, 122]. So sánh với các đối ứng *klɯək3 (Mường Thải, Tân Phong, Huy Thượng), *tlɯək3 (Giáp Lai, Yến Mao, Ba Trại, Mường Bi, Mường Khói, Mường Vôi, Mường Khơi, Mường Vang, Mường Cời, Mường Nèn...), *tlɯək5 (Mường Ống, Mường Danh, Mường Dồ, Tam Hợp, Giai Xuân, Sông Con) [24, 284]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klak [17, 239]. Kiểu tái lập: *klɯək5> trước (đối lập với sau).
(22) (a 阿 + gia耶), xuất xứ: “Giũ bao nhiêu bụi bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng lâm” (Ngôn chí 5.2). Nguyễn Quang Hồng tái lập là *?ja , ông cho rằng阿 a có lẽ thể hiện âm tắc họng *[-] hoặc xát họng *[h-] [17, 238]. Nhẫn Gaston không đề cập và tái lập cho vị trí này. Qua khảo sát hơn chục chữ Nôm hai mã có 阿trong Phật thuyết, Hoàng Thị Ngọ cho rằng 阿 a là dấu vết của các âm tiền thanh hầu hóa (préglottalisées) ở đầu âm tiết và các yếu tố tiền âm tiết, thí dụ阿質阿至 achất achí (43b3) dùng để ghi chữ giặt giạ (rửa ráy, sám hối), hay 阿与 adư (dư = như) [8, 58, 110, 114], tác giả cho rằng, những cứ liệu trên trùng khít với giả thuyết mà Michel Ferlus đã đề xuất về một âm *j- [8, 113] bên cạnh các âm *b-, *d-, *g-. Kiểu tái lập: * jə1 > giơ.
(23) (cự 巨 + triều朝), xuất xứ: “Giàu mấy kiếp tham lam bấy, Sống bao lâu đáo để màng” (Thuật hứng 55.3), (Tự thán 77.1, 88.5, 105.7), (Bảo kính cảnh giới 139.1, 170.8, 175.3). Nhẫn Gaston tái lập là *kčàw, từ việc so sánh với các đối ứng čảo (Bái Đính, Bàn Ken) trong tiếng Mường. Ông cũng đưa ra trường hợp giò (chân cẳng) có các đối ứng kê čỏ (Canh Nan), kê čò (Ban Đào) trong tiếng Mường, và kơ cổ trong tiếng Sách [6, 35]. Nhiếp Tân khảo sát chữ xuất hiện với tần số 12 lần trong Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, tác giả còn cung cấp thêm ngữ tố giúp được viết bằng chữ Nôm {巨cự (trên) +執chấp (dưới)} xuất hiện một lần (Truyền kì mạn lục QIV 57a) [26, 627]. Kiểu tái lập: *kjau2> giàu (trái với nghèo).
(24) (cự 巨 + phiêu票), viết nhầm từ栗巨 (cự 巨 + lật 栗) xuất xứ: “Lặt hoa tàn xem ngọc rụng, Soi nguyệt xấu kẻo đèn khêu” (Tự thán 105.5). Nguyễn Quang Hồng cho là lầm từ 稟巨 (cự 巨 + lẫm稟) nên lái lập là *klam, và phiên chuyển là lượm [17, 239]. Tuy nhiên, văn bản QATT nhầm có hệ thống giữa lật栗và phiêu 票 khi ghi các từ sắt ( < ), trật (票<栗). Lặt/ nhặt còn thấy trong một số từ như: lượm lặt, lượm nhặt. Nhẫn Gaston tái lập là *klặt [6, 43, 62]. Từ điển Việt Bồ La ghi mlặt, mnhặt [27, 149]. Chúng tôi theo kiểu tái lập của Gaston. Như vậy, *klăt6 là âm vào thế kỉ XV, trong khi đến thế kỉ XVII là mlặt, mnhặt. Hiện chưa rõ quá trình biến đổi giữa các thủy âm kép này, có thể thế kỷ XV vẫn tồn tại song thức, nhưng đến thế kỉ XVII, *kl- đã biến mất, chỉ còn *ml- (xem thêm mục từ lớn tại số 14 của bài này). Kiểu tái lập: *klăt6> lặt/ nhặt.
(25) (cự 巨 + lẫm稟) xuất hiện ở 168.3. Vị trí này trước nay được phiên thành ngắm, cách phiên này rời bỏ hoàn toàn sự kí âm của chữ Nôm mà đọc theo cảm thức ngôn ngữ của tiếng Việt hiện đại. Tại vị trí 226.2, ngữ tố đang xét được ghi bằng (lẫm凜 + cá nháy ), trước nay được phiên là thầm, cách phiên này là hữu lí, tuy nhiên các nhà phiên chú chỉ mặc nhận mà không lí giải vì sao lại đọc như vậy. Ta thử xem lại toàn bộ ngữ cảnh: “Thầm xem mai hay tuyết đến, Say thưởng nguyệt lệ thu qua” (Bảo kính cảnh giới 168.3), “Bóng thưa ánh nước động người vay, Thầm đưa hương một nguyệt hay” (Mai thi 226.2). Sở dĩ có thể xác định âm đọc như vậy, bởi ngữ cảnh đã khá rõ ràng. Chúng tôi cho rằng, thầm hiện nay vốn được đọc là sầm và sầm lại có âm đọc cổ hơn với thủy âm kép. Ta biết s- / th- là một cặp có quan hệ. Theo Nguyễn Ngọc San, s’-> th- được đoán định là xảy ra vào thế kỉ XVI [22, 38]. Hơn nữa, s- cổ hơn th-, còn kl- lại là lai nguyên cổ hơn nữa của s-. Về nghĩa, ngữ tố đang xét được dùng để dịch chữ ám trong câu暗香浮動月黄昏 Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn (Hương thầm nổi động nguyệt hoàng hôn) - một câu thơ nổi tiếng của Lâm Bô. Ngoài các cứ liệu trên, chúng tôi còn tìm được cách đối dịch tương tự trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh (thế kỉ XIV), “Thầm gióng mây tóc đà mai trắng” <暗催新髪白. Ngữ tố trên còn được ghi bằng chữ Nôm 禀多 tại vị trí 37b.46, có thể tái lập thủy âm kép là tl- (dùng d- ghi t), hoặc là bảo lưu một tiền âm tiết ?r- như nghiên cứu của Hoàng Thị Ngọ trong sách Phật thuyết [8, 61]. Ngữ liệu trên cho thấy một diện mạo phong phú và tính đa khả của thủy âm kép từ tiếng Việt tiền cổ đến tiếng Việt cổ. Chữ sầm/ thầm là một phó từ đứng trước động từ: thầm đưa, thầm xem, thầm gióng cũng như thầm nghĩ, thầm nhớ trong tiếng Việt hiện nay. Các kiểu tái lập: *klâm2/*krâm2 / *ksâm2> sầm > thầm (ngầm, lặng).
(26) (cá 个 + ngọ午), xuất xứ: “Ngủ tênh hênh nằm cửa trúc, Say lểu thểu đứng đường thông” (Thuật hứng 61.3). Vị trí này thường được phiên là ngõ, chỉ có bản Bùi Văn Nguyên phiên là ngủ, chúng tôi theo cách phiên chuyển này, bởi lẽ ngủ là động từ, chuẩn đối với say ở câu dưới. Ngữ tố này còn được ghi bằng và ở các vị trí: “Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ, Vầng nhật lên khuở nước cường” (Trần tình 42.5), “ngủ thì nằm đói lại ăn, Việc vàn ai hỏi áo bô cằn” (Tự thán 110.1), nên dùng dạng cổ là . Nhẫn Gaston tái lập là *kngủ [6, 46]. Chúng tôi theo giả thuyết này. Thủy âm kép *kŋ- xuất hiện khá ít trong chữ Nôm. Nhiếp Tân khảo sát một trường hợp như 外个 (nguội) 魚个 (ngơ) và ghi thủy âm kép *kŋ- trong Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú tại các vị trí QI trang 26a và QI trang 10a [26, 624] Chúng tôi bổ sung một số trường hợp như sau. Ngừ được ghi bằng 魚个 trong câu “trư ngu: vuông vức cá ngừ cá nhưng” (Chỉ Nam ngọc âm, 58a); ngộn được ghi bằng 言个 trong câu “Người cả Trang Khương tốt ngộn ngộn” (Thi kinh giải âm 40b). Đến đây, chúng tôi muốn bổ sung một số cứ liệu nữa về tổ hợp kŋ- trong Phật thuyết, như ngậm (một từ gốc Hán)7 được viết thành 阿 吟 trong câu “nhịn chịu a-ngậm trong lòng” < 忍受甘心 (42a7), Hoàng Thị Ngọ cho rằng阿a là một âm tiền thanh hầu hóa, tác giả tái lập âm đầu là *?ng- và giải thích rằng các âm ?m-, ?n-, ?nh-, ?ng- là dấu vết của ?b-, ?d-, ?j-, ?g- khi chúng chuyển sang các âm phản chiếu mũi hóa [8, 114-115], các thí dụ được đưa ra (có gốc Hán) như: ?bên <多邊, ?bằng < 多朋, ?nghe < 多宜,... Với tình hình cứ liệu chữ Nôm như đã nêu, khả năng thủy âm kép *kŋ- cũng có thể xảy ra trên thực tế. Bức tranh về các thủy âm kép có -ŋ- cần phải tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới với những cứ liệu mới phong phú hơn. Kiểu tái lập: *kŋu3 > ngủ.
(27) (tư司 + bố布), xuất xứ: “Vua Nghiêu Thuấn dân Nghiêu Thuấn, Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền” (Tự thán 74.7). Ngữ tố này còn được ghi bằng ở vị trí “Ơn vua luống nhiều phần đội, Việc nước nào ích mỗ bề” (Tự thán 100.3). So sánh với các đối ứng pua (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, và qua thanh phù 布pwo, Nhẫn Gaston tái lập là *kbua [6, 131], tuy nhiên ông không giải thích chữ 司tư có chức năng gì trong cấu trúc của chữ Nôm. Chúng tôi cho rằng tư 司cũng là một yếu tố biểu âm dùng để ghi yếu tố t- của thủy âm kép *tp- hoặc *tb- như đã tái lập ở trên. Phật thuyết ghi ngữ tố này bằng (viết tắt từ ) tại câu “Kính lễ Bồ Tát cắt vai tay mà đỡ vua cha” < 南無割臂救父王 (5a1), Hoàng Thị Ngọ cho rằng đây là chữ Nôm ghi thành tố phụ (tức yếu tố thứ nhất của thủy âm kép), nhưng tác giả không đưa ra kiểu tái lập của mình [8, 73]. Shimizu Masaaki cho rằng đây có khả năng là một chữ Nôm ghi cấu trúc song âm tiết trong tiếng Việt cổ ( thuộc nhóm b’-4), ông cho là là t1 o5 [29, 769]. Sở dĩ vậy bởi chữ vui, được ghi bằng chữ Nôm , vốn có đối ứng dạng song tiết trong tiếng Rục là tapuj1 [29, 769]. Tuy nhiên, ngữ tố đang xét là từ song tiết hay là từ có thủy âm kép thì chúng tôi xin được thảo luận trong một dịp khác, ở đây tạm chấp nhận đó là thủy âm kép. Kiểu tái lập: *tpua1/ *tbua1 > bua> vua.
(28) (cá个 + tốc速), xuất xứ: “Thì nghèo sự biến nhiều bằng tóc, Nhà lạnh quan thanh ngặt nữa đèn” (Thuật hứng 46.5). Ngữ tố tóc còn được ghi bằng ở các vị trí (Trần tình 43.4), (Thuật hứng 46.5), (Thuật hứng 65.6); tơ tóc (Tự thán 80.1), biên tóc (Tự thán 82.6, 99.5), (Tự thuật 112.5), 113.4), (Bảo kính cảnh giới 165.4). So sánh với các đối ứng kê siak (Làng Lum), kê šak (Ai Thương), kê sak và sak (Canh Nan), kây sak (Ban Đào), sak (Đông Tân, Lâm La), tók (Cao Trai), šak (Ban Pê Ngoai, Ban Ken, Thái Lai, Ban Chanh), thắk (Đà Nang, Tân Ly, Bái Đính), thak (Suối Sang, Làng Um) trong tiếng Mường8, với các đối ứng kơ súk trong tiếng Sách, souk tiếng Pọng, tsơk, tsâk tiếng Bahnar, Nhẫn Gaston tái lập là *ksók [6, 35]. Chúng tôi thấy cách tái lập trên là có lí. Kiểu tái lập: *ksɔk5.
(29) (cá个 + tất 悉), xuất xứ: “Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc Phong” (Bảo kính cảnh giới 178.3). Vị trí này trước nay được phiên là chặt. Nhẫn Gaston phiên là dứt, tái lập là *ksất, và cho quá trình biến âm từ *ksất > *tsất> tất > chặt [6, 36-37]. Chúng tôi phiên là đứt vì những lí do sau. Thanh phù悉 tất (và 怛đát) thường dùng để ghi đứt trong các văn bản chữ Nôm, tương ứng thủy âm t- và đ-. Và quan trọng hơn, đứt luôn được dùng để đối dịch với chữ đoạn (斷) trong Hán văn, thí dụ: “đoạn: đứt, tài: may; liệt: bày, thao: giấu” (Tam thiên tự, 102).Việc đối dịch âm tiết như vậy còn để lại lưu tích trong từ đứt đoạn của tiếng Việt hiện nay9. Thí dụ, bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh (thế kỉ XIV) có câu “Tiếng dế ngâm xui đứt (瀭) ngọn bạch dương” < 蛩聲吟斷白楊稍 (16a10), Phật thuyết có câu “Bằng vượn kêu dấu con, gan lòng đứt (怛) làm tám tấc” <如猿啼愛子寸寸斷肝腸 (15b9); Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú có câu “Mà chưng mạch Kinh Thi, Kinh Thư hầu đứt (悉刂) mà lại nối” <而詩書之脈幾斷而復續 (I 11a1). Câu thơ “Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch” ở đây vốn dịch từ cụm二人同心其利斷金 “Nhị nhân đồng tâm kì lợi đoạn kim” (hai kẻ đã một lòng, thì sắc bén có thể chặt đứt được vàng) từ sách Kinh dịch. Ngữ tố này còn được ghi bằng怛 (đát) ở các vị trí “Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, Quan cao nào đến dạng người ngây” (Bảo kính cảnh giới 137.3, 142.5, 174.7, 176.3), nay nên đổi về dạng cổ. Thủy âm kép *k- đã từng được Hoàng Thị Ngọ nghiên cứu kĩ lưỡng khi khảo sát các chữ Nôm trong Phật thuyết. Tác giả cho rằng怛个 ghi *kđát > nát, 对 个 *kđối > dối, 亭巨 *kđành > dành (QATT), *kđựng > dựng (Đại Việt thông sử), và帶巨 *kđưới > dưới [8, 93]; [9]. Một số bản giải Nôm được in vào đời Lê như: Gia lễ, Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Sô Nghiêu đối thoại... còn giữ lại được dấu vết của các cách ghi cổ như: 潭个 *kđầm >đầm, 等个 *kđẵng > đẵng, 待个 *kđẫy > đẫy, 屯个 *kđùn > đùn, 代个 *kđời > đời. Với cứ liệu chữ Nôm đã nêu, kiểu tái lập có thể là *ktwt5. Quá trình biến đổi ngữ âm có thể là *ktwt5> *kɗwt5> ɗwt5. Rồi từ ɗwt5 (đứt) mới sang dwt5 (dứt).
(30) (cự 巨 + đình亭), xuất xứ: “Hổ phách phục linh nhìn mới biết, Dành còn để đỡ dân này” (Tùng 220.4). Nguyễn Quang Hồng cho rằng đây là chữ Nôm hội âm chính phụ giả danh (cự không tham gia biểu âm mà chỉ có chức năng báo hiệu đọc chệch âm), nên không tiến hành tái lập mà chỉ phiên là dành [17, 243]10. So sánh với đối ứng pơdieng trong tiếng Bahnar, và thanh mẫu (定định) của thanh phù 亭, Nhẫn Gaston tái lập là *kdjành [6, 35]. Hoàng Thị Ngọ cũng phiên dành và tái lập là *kđành [8, 93]. Kiểu tái lập cuối cùng là có lí, bởi tác giả đã đưa ra hàng loạt các chứng cứ chữ Nôm ghi thủy âm kép *kɗ- trong Phật thuyết và một số chứng cứ văn bia - văn Nôm từ khảo sát của Nguyễn Tá Nhí như *kđầm, *kđẵng, *kđẫy, *kđùn, *kđời,... [chuyển dẫn 8, 93-94]. Ngữ tố này còn được ghi bằng và tại vị trí (Tự thán 90.7) và (Bảo kính cảnh giới 146.8), nay nên cải chính về dạng cổ. Phật thuyết ghi ngữ tố dày bằng chữ Nôm苔巨 tại vị trí “hằng sức phấn sáp dày” < 長施粉黛濃 (15a2). Như vậy, kiểu tái lập là *kɗaɲ2. (31) (cá 个 + hai台 < 咍), xuất xứ: “Nhân nghĩa trung cần chử tích ninh, Khó thì hay khốn khéo hay hanh” (Bảo kính cảnh giới 131.2). Ngữ tố này trước nay nhất loạt đều được đọc là hay. Nhưng chỉ duy nhất có Nhẫn Gaston tiến hành tái lập ngữ âm. Ông đưa ra 6 cứ liệu sau: (1) Thanh phù咍hai thuộc thanh mẫu 曉hiểu (khai khẩu). So sánh với một số đối ứng trong tiếng Mường như hài (Bái Đính), hải (Dan Ken), hay (Làng Lum, Ban Đào, Đông Tân), hai (Ban Pê Ngoai, Suối Săng, Làng Um), hay (Thạch Bi); (2) Dẫn một số cứ liệu của J. Cuisinier (1946)11 về thủy âm kép *kh- trong tiếng Mường, như hè (Việt) có đối ứng kê hể trong thổ ngữ Ai Thương, Ban Đào; hiệu (Việt) có đối ứng kê hió (Ai Thương), hình có đối ứng kê hĩn (Ai Thương); (3) So sánh hổ 虎 (là một từ gốc Hán, thuộc mẫu hiểu曉) với một số đối ứng trong ngôn ngữ bảo thủ như: k’hal (Pọng), hal (Mày), kohal (Rục), k’hal (Mường), khán (Nguồn), ku hal (Sách); (4) Hoa Di dịch ngữ ghi 春夏中嫁 (số 134), trong đó hạ được phiên âm bằng 嫁 (thuộc thanh mẫu kiến 見, khai khẩu, *ka/ka-/kia; (5) Dẫn một số lưu tích của thủy âm kép *kh- còn tồn tại trong tiếng Việt như: không - hông, ngùi (cùi)12 - hủi; (6) Dẫn lí thuyết của Maurice Granmont trong sách Traité de phonétique (Paris: 1960, p.169) về kiểu thủy âm kép gồm một âm tắc (occlusive) đứng trước kết hợp với một âm hút vào (aspiration) ở phía sau. Cuối cùng, Nhẫn Gaston tái lập là *khaj (thủy âm kép *kh-), quá trình biến đổi âm từ *khaj > rụng k- > haj (hay) [6, 38-39]13. Cách tái lập của Nhẫn Gaston là có thể xảy ra trên thực tế. Chúng tôi còn tìm thấy một số cứ liệu bổ sung như dưới đây. Phật thuyết dùng chữ Nôm để ghi ngữ tố hai trong câu “hai óc là nghiệp sơn” < 二名業山 (10b3). Sách này còn dùng chữ Nôm (cá + hằng) để ghi ngữ tố hằng ở câu “K-hằng no nấu vật mệnh” < 長時烹物命 (16a7), (cá hằng) tại câu “k-hằng sức phấn sáp dày” < 長施粉黛濃 (15a2) và dùng chữ Nôm 波 恒 (ba hằng) để ghi ngữ tố hằng ở câu “bèn cùng họ hàng vui dấu ba-hằng trái” < 便與親族歡愛長乖(20a5)14. Nhiếp Tân tìm thấy chữ Nôm 戶巨 (cự + hộ) ghi ngữ tố họ (trong họ hàng), và cho rằng đây là chữ hội âm chính phụ [26, 627], tuy nhiên tác giả coi chữ cự chỉ có chức năng chỉnh âm. Theo chúng tôi có khả năng đây rất có thể là lưu tích của thủy âm kép *kh-. Kiểu tái lập: *khaj1. (32) (cổ + nô), xuất xứ: tại vị trí 117.7. Nguyên câu này trước nay được phiên âm là “Dường ấy của no cho bậc nữa, hôm dao đáo để cố công mang”, và của được hiểu là một danh từ, riêng Nhẫn Gaston cho rằng nên phiên古奴là cơ no, coi thủy âm của 古 và 奴được dùng để ghi thủy âm kép *kn- trong tiếng Việt cổ. Nhẫn Gaston dẫn một số đối ứng kơ - nò (Quy Mỹ, Ban Chanh, Ban Pê Ngoai, Thái Lai), hay kơ - no (Canh Nan, Ban ken), kơ - nơ (Đông Tân), kư - no (Ai Thương), kưa - no (Ban Đào), kư - no (Thạch Bi) [6, 46-47] và dẫn chứng thêm một số ngữ tố có thủy âm kép kn- như: nách (Việt) có đối ứng ku nek (Mường), ku nê (Sách), kơ nê (Bahnar), kơ nei (Stieng) [6, 46-47]. Về mặt nghĩa, từ no ở đây là một từ cổ, nghĩa là đủ, lưu tích còn thấy trong từ no đủ của tiếng Việt hiện đại. Trong Phật thuyết, chữ no với nghĩa “đủ” xuất hiện 13 lần, đều ghi bằng chữ Nôm đơn 奴no. Trong khi, no với nghĩa “khi, lúc” lại có 4 lần được ghi bằng个奴cá no tại các vị trí 13b3, 17a5, 27a5, 29b5. Hoàng Thị Ngọ cho rằng đây chỉ là các cách ghi khác nhau cho thủy âm kép kn-. Trong đó, 个奴là viết dưới dạng hai mã chữ tách rời; dạng {个cá (trên) + 奴no (dưới)} là chữ Nôm một mã nhưng có hai thành tố ghi âm trên cùng một mã chữ Nôm nó; và chữ 奴 là dạng chữ Nôm đơn một thành tố (đã loại bỏ thành tố thứ nhất, chỉ giữ lại thành tố thứ hai). Tác giả đề xuất cách tái lập ngữ âm cho cả 3 cách ghi Nôm trên là *kno [8, 94-95]. Tác giả còn dẫn thêm các thí dụ khác cho thủy âm kép *kn-. Như chữ (巨+囊) ghi *knặng (nặng) trong câu “Ấy mới thực trả được ơn nặng (*knặng) áng nạ” (30a5), chữ良个 trong (口尔 良个 nể nang) trong câu “Lòng nể nang (knang) trước mặt” (42b-1) và một số địa danh, nhân danh trên bia đời Trần (bia Dục Thúy, Ninh Bình) như: 杜个尼Đỗ Cá Ni, 杜箇 尼 Đỗ Cá Ni, 个南Cá Nam [8, 95]. Tác giả cũng dẫn một số cứ liệu do Nguyễn Tá Nhí khảo sát như: Ghi nải bằng 乃个 (cá + nãi) = *knải > nải
- nưa - 那个 (cá + na) =*knưa> Nưa (núi Nưa)
- nom - 南个 (cá + nam) = *knom > nom
- nem - 念个 (cá + niệm) = knem > nem (chuyển dẫn Hoàng Thị Ngọ trong [8, 96]).
Với những cứ liệu bổ sung như trên, cách phiên chuyển và giả thuyết tái lập thủy âm kép *kn- cho chữ no trong QATT của Nhẫn Gaston là có cơ sở thực tế. Âm tái lập có thể là *kno1. Còn một số điểm hiện nay chưa thể giải quyết được. Song giả thuyết trên vẫn nêu ra ở đây như là một gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tóm lại, như trên đã trình bày, chúng tôi đã tiến hành tái lập ngữ âm và tái lập văn tự cổ cho 32 ngữ tố xuất hiện với tần số 98 lần. Trên cơ sở 47 lượt chữ Nôm cổ dạng E2 (ghi các từ có thủy âm kép đầu), chúng tôi đã tiến hành tái lập được 55 lượt chữ Nôm cổ cho văn bản Dương Bá Cung. Trong đó đính chính được hai trường hợp chữ Nôm ghi trời và lặt. 15 thủy âm kép đã được tái lập qua các chữ Nôm cổ E2 gồm có: (1) *kl- (*ks-, *kr-), *kl- (> *bl-), *kl- (> *ml-), (2) *khl- (*khr-, *khs-), (3) *tp- (*tb-), (4) *c’r-, (5) *ml-, (6) *km-, (7) *pl- (> *tl-, *bl-), (8) *?j-, (9) *kj-, (10) *kŋ-, (11) *ks- (> *kt-), (12) *kt > *kɗ-, (13) *kd-, (14) *kh- và (15) *kn-. Không những thế, các chữ Nôm cổ trên còn cho ta thấy một diện mạo phong phú hơn, phức tạp hơn của các thủy âm kép vào thế kỉ XIV- XV. Số lượng các thủy âm kép cũng như các ngữ tố trong QATT không chỉ giới hạn ở đây, mà cần tiếp tục khảo sát qua các chữ Nôm hậu kì, vấn đề này sẽ được trình bày trong bài viết khác15.
CHÚ THÍCH
1 Sở dĩ nói là “bất luận” bởi lẽ các kí hiệu chữ Hán dùng để ghi yếu tố đầu của thủy âm (dù đứng trên, bên phải, hay bên trái chữ), vẫn chỉ có chức năng duy nhất là ghi yếu tố đầu của thủy âm kép. Sở dĩ có những cách viết khác nhau như vậy là do người viết đã bố trí kết cấu, gian giá của các kí tự đó trong một khối vuông. Những sắp xếp ấy thuần để phục vụ cho hình thể, thuộc về lĩnh vực thư pháp cổ điển.
2 Xem thêm Nguyễn Hùng Vỹ, 2010.
3 Tra “Tự điển Chữ Nôm” của Viện NC Hán Nôm, chúng tôi thấy tự dạng đang xét là tự dạng duy nhất đến nay tìm được dùng để ghi âm cổ của ngữ tố này. Các chữ Nôm trong các văn bản khác chỉ dùng thanh phù liêu ở dạng lưu tích, chưa kể đến các chữ Nôm hậu kì ghi chính xác bằng thanh phù có TR- hoặc CH-.
4 Năm 2009, chúng tôi đã khai thác một số chữ Nôm ghi thủy âm kép *km- như sau: “渕ghi Kmắng (nghe) [26b3, 41b4, 43b5, 69b6, 57a6, 57b3, 57b5, 72b5, 73a6]. 口末ghi Kmất [13b1, 13b1, 23a3]. 尲ghi Kmến [22a2, 24a1, 48b5, 67b6]. 口麻ghi kmờ [18a1]. 口每ghi kmỏi [10a3]. 口每ghi kmọi [19a2]. 口門ghi kmòn [21b6, 49a6]. 口夢ghi kmông [8a6]. 口戊ghi kmù [34b6, 37a6, 40a4]. 口牟ghi kmù [6a5, 6a5]. 口茂ghi kmù [8a1]. 嗎ghi kmựa [9b3, 23b1, 24b5, 25b2, 31a6, 34a3, 37a2, 38a1, 47a5, 47a6, 47b1, 53a1, 55b3, 55b5, 55b6, 60b6, 74a6]. 口莫ghi kmúc [57a2]. 口每ghi kmũi [65a2].” [37, 38]. Ngoài chữ渕ghi Kmắng và嗎ghi kmựa, các trường hợp còn lại, về mặt văn bản và văn tự là không chính xác so với văn bản gốc. Các chữ này đều có các kí hiệu phụ, chứ không hề có bộ khẩu. Đây là nhầm lẫn nghiêm trọng trong quá trình vi tính hóa và nghiên cứu của chúng tôi. Nhân đây, chúng tôi xin cải chính và xin lỗi.
5 Lưu ý ở đây là *ml- và *bl- là các thủy âm kép có vị trí cấu âm gần nhau, đều có cấu trúc: âm môi môi+ âm lỏng.
6 Trước đây (2009), chúng tôi phiên là sẩm (Trần Thái Tông, 2009: 149), nay xin cải chính.
7 Xin xem Trần Trọng Dương. Từ nguyên của một số từ đơn tiết gốc Hán. Kỉ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lí luận và thực tiễn”. Nxb ĐHQG, Hà Nội, 2011.
8 Qua khảo sát của Nguyễn Văn Tài (2006: 279) thì tiếng Mường cuối thập kỉ bảy mươi của thế kỉ XX đã nhất loạt biến mất các thủy âm kép. Vấn đề này cần tiếp tục tìm hiểu.
9 Đây là một cơ chế tạo nên hàng loạt từ vựng song âm tiết trong tiếng Việt. Tuy nhiên, đến nay chưa có thống kê và nghiên cứu cụ thể về vấn đề này.
10 Tiếc rằng Nguyễn Quang Hồng không nêu những tiêu chí để phân biệt giữa trường hợp này với các chữ Nôm ghi thủy âm kép.
11 Jeanne Cuisinier. 1946. Les Muong: Geographie Humaine et Sociologie. Paris: Institut d'ethnologie, 618 p. Bản dịch tiếng Việt: Jeanne Cuisinier. Người Mường: địa lí nhân văn và xã hội học. Nxb Lao động, 2007.
12 Nguyên văn, Nhẫn Gaston chỉ dẫn ngùi, nay chúng tôi bổ sung thêm cùi.
13 (thanh phù: cẩm). Âm tái lập: *khham3> gẩm/ hẩm. Cẩm là âm Hán Việt, như trong từ thập cẩm, lại có âm Hán Việt Việt hóa là gấm. Dựa vào cứ liệu này, Nhẫn Gaston tái lập là *k’həm, diễn biến: *k’həm> hẩm [6, 37]. Dựa vào đối ứng găm trong tiếng Bahnar, Paul Schneider đọc là gẩm (1987: 425). Kiểu tái lập của Nhẫn Gaston và cách phiên của Paul Schneider là có lí. Hẩm (nghĩa: cơm gạo vì để lâu quá nên bị mục ải, mất chất và có màu đen), có lẽ đồng nguyên với từ cẩm (đen) trong gạo cẩm, nếp cẩm. “Từ điên Việt Bồ La” ghi HẨM, GẠO HẨM: gạo đen mốc mốc. Gạo hẩm: cùng một nghĩa [27, 112]. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, Cơm đói nài chi hẩm miễn khê. (Bảo kính cảnh giới 141.4).
14 Có điều tiếc là cả ba chữ Nôm cổ trên đều không được đưa vào Tự điển chữ Nôm (2006) của Viện NC Hán Nôm, mặc dù các tác phẩm đều nằm trong diện khảo sát.
15 Trần Trọng Dương. Thủy âm kép thế kỉ XV qua chữ Nôm hậu kì trong Quốc âm thi tập (bản thảo hoàn chỉnh) và Một số từ gốc Hán có cấu trúc CCVC qua ngữ liệu thơ Nôm trong Quốc âm thi tập (bản thảo hoàn chỉnh).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Béhaine, Pierre Pegneaux de (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1772 (Tự vị An nam La tinh), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb Trẻ, 1999.
2. Bùi Văn Nguyên, Thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Nxb GD, H., 1994.
3. Ferlus, Michel, Sự biến hóa của các âm tắc giữa (obstruentes mediales) trong tiếng Việt. (Vân Hà dịch), Trong Giao lưu văn hóa và ngôn ngữ Việt - Pháp, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999, Tr.116-145.
4. Ferlus, Michel, Những sự không hài hòa thanh điệu trong tiếng Việt Mường và những mối liên quan lịch sử của chúng, Vương Lộc dịch. Trong Giao lưu văn hóa và ngôn ngữ Việt - Pháp, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999, Tr.147-161.
5. Ferlus, Michel, The origin of Tones in Viet-Muong, Southeast Asian Linguistic Society XIth Conference, Bangkok, Thailand, 2001, May 16-18 2001.
6. Gaston, Nhẫn, Etude du conso-nantisme du Quốc âm thi tập (Nghiên cứu hệ thống phụ âm đầu của Quốc âm thi tập, Luận án Tiến sĩ đệ tam cấp), INACO, Pháp, 1967, 243 tr.
7. Génibrel, J.F.M., Dictionnaire Annamite- Français (大越國音漢字法 釋集成 ), SaiGon Imprimerie de la mission à Tân Định, Sài Gòn, 1898.
8. Hoàng Thị Ngọ, Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’, Nxb KHXH, H., 1999.
9. Hoàng Thị Ngọ, Dấu tích của các thủy âm kép đầu KB, KM, KN, KĐ qua cách ghi chữ Nôm cổ, Trong Mạch đạo dòng đời, Nxb KHXH, H., 2002, tr.198-208.
10. Hoàng Triều Ân, Từ điển chữ Nôm Tày, Nxb KHXH, H., 2003.
11. Hoàng Văn Ma, Từ điển Việt Tày Nùng, Nxb KHXH, H., 1984.
12. Huình Tịnh Paulus Của, “大 南 國 音 字 彙” (Đại Nam quấc âm tự vị), SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4, Nxb Trẻ, 1998 (theo ấn bản 1895-1896).
13. Mai Quốc Liên vcs (phiên chú), Quốc âm thi tập, Trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (T3), Nxb Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, H., 2001.
14. Matisoff, Jimes A., Tonogenesis in Southeast Asia, in: Hyman, Larry M. (ed.) Consonant Types and Tones, Southern California Occasional Papers in Linguistics 1, 1973, 71- 96.
15. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb GD, H., 1997.
16. Nguyễn Tài Cẩn, Về chữ Nôm thời Quốc âm thi tập, Trong Một số chứng tích về ngôn ngữ - văn tự - văn hóa, Nxb ĐHQG, H., 1989, (Tái bản 2001).
17. Nguyễn Quang Hồng, Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nxb GD, H., 2008.
18. Nguyễn Quang Hồng, Âm tiết và loại hình ngôn ngữ, Nxb ĐHQG, H., 2002.
19. Nguyễn Tá Nhí, Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nxb KHXH, H., 1997.
20. Nguyễn Tá Nhí (chủ trì), Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tập 1, Nxb KHXH, H., 2008.
21. Nguyễn Ngọc San, Góp vài ý kiến về âm đầu tiếng Việt cổ qua cứ liệu Phật thuyết, T/c Ngôn ngữ, Số 3, 1982.
22. Nguyễn Ngọc San, Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb ĐHSP, H., 2003a.
23. Nguyễn Hùng Vĩ, Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Thông báo Hán Nôm học 2009, Nxb KHXH, H., 2010.
24. Nguyễn Văn Tài, Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn, Nxb Từ điển Bách khoa, H., 2006.
25. Nguyễn Văn Lợi, Tiếng Rục, Nxb KHXH, H., 1993.
26. Nhiếp Tân, Chữ hội âm chính phụ trong bản giải âm Truyền kì mạn lục, Trong Đào tạo và nghiên cứu Ngôn ngữ học ở Việt Nam: những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb ĐHQG, H., 2011, tr.621-635.
27. Rhodes, A. de., Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico, Romae: typis & sumptibus eiusdem Sacr, Congreg, 1651 p. 633., Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb KHXH, H., (tb 1994).
28. Schneider, Paul, Nguyen Trai et son Receuil de Poemesen en Langue Nationale, Centre National de la Rechercher Scientifique, Paris, 1987.
29. Shimizu Masaaki, Khảo sát sơ lược về cấu trúc âm tiết tiếng Việt vào thế kỉ XIV-XV qua hai cứ liệu chữ Nôm, Trong Các nhà Việt Nam học nước ngoài viết về Việt Nam (Tập 2), Nxb Thế giới, H., 2002.
30. Shimizu Masaaki, A Phonological Reconstruction of 15th Century Vietnamese Using Chữ Nôm 字喃Materials, 2010, International Conference and Taiwanese Studies, National Cheng Kung University, Taiwan, 2010.
31. Trần Trọng Dương, Đi tìm âm đọc cổ cho chữ “lơ thơ”, T/c Hán Nôm, Số 3, 2006.
32. Trần Trọng Dương, Tình hình cấu trúc chữ Nôm qua ‘Khóa hư lục giải nghĩa” và “Khóa hư lục giải âm", T/c Hán Nôm, Số 2, 2008.
33. Trần Trọng Dương, Thử tầm nguyên hai chữ “tha la”, Trong Nghiên cứu về chữ Nôm, Hội bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, Nxb Nxb KHXH, H., tr.169-180, (2008b).
34. Trần Trọng Dương, Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển (bản thảo sắp in), Alphabook, Nxb KHXH, H., 550 tr.
35. Trần Uyên Thi - Nguyễn Hữu Vinh, Ai vẽ được, ai xóa được? Dấu vết âm Việt cổ: từ song tiết và phụ âm kép, Tham luận Hội nghị Quốc tế về tiếng Việt, Viện Việt học, California, USA, 2007.
36. Trần Thái Tông, Thiền tông khóa hư ngữ lục, Tuệ Tĩnh giải nghĩa, Trần Trọng Dương khảo cứu, dịch và phiên chú, Nxb Văn học & TT Nghiên cứu Quốc Học, H., 2009.
37. Trương Đức Quả, Vận dụng tri thức ngữ âm lịch sử trong nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm, Trong Mạch đạo dòng đời, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, H., 2002, tr. 221-237.
38. Vũ Đức Nghiệu, Đơn tiết, đơn tiết hoá và đa tiết, đa tiết hoá trong quá trình phát triển của tiếng Việt, Kỉ yếu hội thảo quốc tế về ngôn ngữ và ngôn ngữ học liên Á, H., 2005, tr. 202 - 213.
39. Vũ Đức Nghiệu, Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt, Nxb GD Việt Nam, H., 2011.
40. Vương Lộc, An Nam dịch ngữ, Trung tâm Từ điển học & Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001.
SUMMARY
This article studies the consonant clusters in ancient Vietnamese (XIVth-XVth century) through an analysis of the ancient Nom scripts in Quoc am thi tap of Nguyen Trai- the most important work in the history of Vietnamese. I reconstruct the phonology of 32 words which appeared 98 times. Fifteen consonant clusters are reconstructed by using some dialects and the demotic script system in the text. They are: (1)*kl- (*ks-, *kr), *kl- (>*bl-), *kl- (>*ml-), (2) *khl- (*khr-, *khs-), (3)*tp- (*tb-), (4)*c’r-, (5)*ml-, (6)*km-, (7) *pl- (>*tl-, *bl-), (8) *?j-, (9) *kj-, (10) *kŋ-, (11) *ks- (>*kt-), (12) (*kt>-)*k-, (13) *kd-, (14) *kh- và (15) *kn-. The result shows that there are lot of consonant clusters in Vietnamese historical phonology in XIVth-XVth century (in comparison with some consonal clusters bl-, ml-, tl- in XVIIth century Vietnamese).