Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuệ Tĩnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuệ Tĩnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua các bản dịch Khóa hư lục

Sách cũ:

Trần Trọng Dương. 2012. "Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua các bản dịch Khóa hư lục" . Nxb Từ điển bách Khoa, Hà Nội. 351 trang.
Download free:
Link: https://www.dropbox.com/s/x493szl3sdwoa8o/Tran%20Trong%20Duong-%20NC%20Khoa%20hu%20luc%20-%202012-.pdf?dl=0



Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Sách mới: Lý thuyết và thực hành chữ Nôm- nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2016. 346 trang




Phát hành: 0985299535 (chị Măng).

LỜI DẪN

Cuốn sách này là một sản phẩm khoa học mang tính giáo trình, với hai đích đến là lý thuyết và các phương diện thực hành giải đọc văn bản chữ Nôm. Mặc dù cho đến nay, nhiều hệ vấn đề trong nghiên cứu và giảng dạy chữ Nôm đã được xuất bản, song nhu cầu của xã hội vẫn luôn cần phải có những bài giảng nhập môn để hướng dẫn sinh viên cũng như nhiều người ham mê văn hóa cổ truyền đi vào lĩnh vực đặc sắc của văn hóa chữ Nôm.
Lý thuyết và thực hành chữ Nôm là cuốn giáo trình dành cho mọi đối tượng muốn tìm hiểu về chữ Nôm, cũng như tiếng Việt và văn hóa cổ truyền của Việt Nam. Đây là sản phẩm tích lũy từ kinh nghiệm giảng dạy thực tế của các tác giả tại một số trường đại học, như Đại học Sư Phạm, Đại học Văn hóa, Đại học Tây Bắc, Đại học Khoa học Huế, Học viện Phật giáo Việt Nam... trong sự tham chiếu với các giáo trình trước nay đã được giảng dạy tại Đại học Đà Nẵng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh)… Như thế, cuốn sách này ra đời như một nỗ lực tích hợp các khung giáo trình chữ Nôm của nhiều chuyên ngành khác nhau trong các trường Đại học trên toàn quốc.
Kỳ vọng của cuốn sách là muốn đưa ra một bức tranh tương đối tổng quát về chức năng và vị trí của chữ Nôm trong đời sống văn hóa của người Việt Nam xưa. Tính tổng quát đa dụng của chữ Nôm được thể hiện ở sự đa dạng trong phương diện nội dung, như: các thể tài văn học (thơ, phú, chuyện tiếu lâm, tục ngữ ca dao...), các tác phẩm dịch thuật kinh điển tôn giáo (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo), các văn bản hành chính (dụ, hịch), các văn bản diễn xướng cổ truyền (tuồng, ca trù), các văn bản tín ngưỡng dân gian (thần tích, hương ước,...), các tác phẩm mỹ thuật (tranh Đông Hồ, tranh đồ họa), và các văn bản sử kí, luật, địa lí phong thủy... Cuốn sách này, vì thế, không chỉ giới thiệu những đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, mà còn muốn trở thành một chiếc chìa khóa để mọi người có thể mở cánh cửa vào một thế giới văn hóa chứa đựng trong kho tàng di sản chữ Nôm của người Việt.
Như một thực tế, lý thuyết là vấn đề không thể thiếu trong bất kì một chuyên môn khoa học nào. Vì thế, cuốn sách này mở đầu bằng năm bài giới thiệu về những vấn đề cơ bản của chữ Nôm, bao gồm: nhập môn lý thuyết chữ Nôm, thời kỳ xuất hiện chữ Nôm, các loại hình văn bản chữ Nôm, phân kỳ lịch sử chữ Nôm và cấu trúc chữ Nôm. Các bài học này phần lớn đều hướng đến tổng thuật các thành tựu nghiên cứu cũng như lịch sử vấn đề nghiên cứu trong hơn một trăm năm qua. Nhiều người sẽ nghĩ, cách viết hàn lâm như vậy sẽ không phải là cách viết của một giáo trình như quan niệm thường thấy ở Việt Nam. Sự trích dẫn các nguồn tri thức, các thành tựu của nền Nôm học, nhìn bề ngoài có vẻ như rắc rối, nhưng thực ra đó là một phương cách cần phải có để các soạn giả cũng như người học tránh được những vi phạm về liêm chính học thuật. Phần lý thuyết chỉ giới thiệu những khái niệm cơ bản của nghiên cứu chữ Nôm, trong đó bài 3 liên quan đến vấn đề cấu trúc tổng quan của các bài khóa, đó là các loại hình văn bản Nôm với môi trường hành chức tương ứng. Bài 4 (phân kì lịch sử), có liên đới đến bài 2 (thời kì xuất hiện), đó là những phác thảo về lịch sử chữ Nôm như một yếu tố cơ hữu của lịch sử văn hiến Việt Nam. Bài 5 (cấu trúc chữ Nôm), ngoài việc nêu danh các học giả tiền bối và các mô hình phân loại trước đây, cũng sẽ đưa ra một phân loại riêng của cuốn sách này. Đây chính là xương sống của toàn bộ các bài khóa trong giáo trình, và đây cũng là trọng tâm mà các tác giả muốn hướng đến người sơ cơ nhập học. Bởi dẫu sao, văn tự học chữ Nôm là một khoa học mà những kĩ năng giải độc các văn bản Nôm và phân tích cấu trúc văn tự là những tri thức nền tảng cơ bản.
Như trên đã nói, giáo trình này muốn đưa ra một bức tranh tương đối tổng quát về các cạnh khía, các khả năng diễn đạt, các khả năng hành chức và các loại hình văn bản chữ Nôm trong lịch sử. Một kết cấu đa tầng được đưa ra ở đây. Các bài khóa vừa thể hiện sự phong phú của các vật liệu định hình văn bản (giấy, gỗ, đá, đồng, gốm sứ), vừa thể hiện sự cân đối trong các môi trường hành chức (giáo dục, dịch thuật, hành chính, tôn giáo, luật pháp, văn hóa), vừa thể hiện sự phong phú của các thể loại văn học (thơ, phú, văn xuôi, ca dao, tục ngữ,…) các loại hình nghệ thuật (văn chương, diễn xướng, hội họa…), vừa phản ánh sự đa dạng của nội dung (lịch sử, địa lý, phong tục,…). Không những thế, cuốn sách cũng cố gắng giới thiệu các văn bản của văn hóa vùng miền, như tờ dụ của Nguyễn Ánh, hay tuồng Trương Ngáo truyện thuộc phạm vi văn hóa Nam bộ; thơ Nôm, thần tích, diễn ca lịch sử của văn hóa Bắc bộ, Tư Dung vãn, Hải môn ca, châu bản Nôm thời Gia Long, bài ca trù ở Ngũ Hành sơn là của văn hóa Trung bộ…
Mặc dù đã rất cố gắng, song các soạn giả vẫn chưa thể bao quát hết được các chiều kích của văn hóa Hán Nôm, và cũng chưa thể nào nêu ra hết các viên ngọc quý của kho tàng văn hóa chữ Nôm. Thêm nữa, cuốn sách cũng sẽ không tránh được sai sót, rất mong được quý độc giả bổ chính, để chúng tôi có thể sửa chữa, bổ sung trong tương lai.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thay mặt các soạn giả
Trần Trọng Dương

MỤC LỤC


Mục lục i
Kí hiệu viết tắt ii
Lời giới thiệu iv
Lời dẫn 7
Bài 1: Nhập môn lý thuyết chữ Nôm 10
Bài 2: Thời kỳ xuất hiện chữ Nôm 24
Bài 3: Loại hình văn bản chữ Nôm 51
Bài 4: Phân kỳ lịch sử chữ Nôm 62
Bài 5: Cấu trúc chữ Nôm 68
Bài 6: Số đếm, ngày tháng 83
Bài 7: Chữ Nôm trên tranh Đông Hồ 91
Bài 8: Chữ Nôm trên tranh Henri Oger 95
Bài 9: Từ điển đối chiếu Hán Nôm 98
Bài 10: Câu đối chữ Nôm 112
Bài 11: Tục ngữ ca dao Nôm 121
Bài 12: Truyện cười Nôm 125
Bài 13: Thơ Nôm dân gian 127
Bài 14: Thơ Nôm Nguyễn Trãi 133
Bài 15: Thơ Nôm Đoàn Thị Điểm 139
Bài 16: Thơ Nôm Nguyễn Du 148
Bài 17: Thần tích Nôm 157

Bài 18: Tờ trình Nôm 165
Bài 19: Hương ước Nôm 178
Bài 20: Sử kí Nôm 193
Bài 21: Diễn ca lịch sử Nôm 200
Bài 22: Văn bia Nôm 214
Bài 23: Biển gỗ Nôm 224
Bài 24: Ma nhai Nôm 229
Bài 25: Thơ Nôm trên đồ sứ 233
Bài 26: Tờ dụ Nôm 238
Bài 27: Hịch Nôm 244
Bài 28: Sách địa lý Nôm 251
Bài 29: Dịch Nôm kinh điển Phật giáo 262
Bài 30: Dịch Nôm kinh điển Nho giáo 274
Bài 31: Dịch Nôm kinh điển Thiên Chúa giáo 281
Bài 32: Văn bản luật Nôm 287
Bài 33: Tuồng Nôm 295
Bài 34: Hải môn ca 307
Bài 35: Ca trù Nôm 318
Sách dẫn (Index) 323
Thư mục tài liệu tham khảo 328



LỜI GIỚI THIỆU



Theo nghĩa nghiêm ngặt, “chữ Nôm” trỏ các loại hình chữ vuông được sáng tạo dựa trên cơ sở chất liệu chữ Hán, có bổ sung những đặc điểm mang tính đặc thù của ngôn ngữ và văn tự Việt Nam. Theo tư liệu hiện biết, trong lịch sử Việt Nam đã tồn tại ít nhất bốn loại chữ Nôm ghi chép ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau, gồm Nôm Việt (còn gọi Nôm Kinh), Nôm Tày, Nôm Dao, Nôm Ngạn. Trong đó, văn tự phổ biến nhất và quan trọng hơn cả đối với lịch sử văn hoá Việt Nam chính là chữ Nôm Việt. Vì vậy, trừ trường hợp cần phân biệt với các loại chữ Nôm khác, giới học thuật thường chỉ nói “chữ Nôm” và hiểu là “chữ Nôm Việt”, tức là chữ Nôm ghi tiếng Việt.
Mặc dù có lịch sử tồn tại cả nghìn năm, nhưng chữ Nôm mới được quan tâm nghiên cứu trong khoảng một trăm năm trở lại đây, và từ thập niên 1970 thì chữ Nôm ngày càng thu hút được sự quan tâm của đông đảo học giả trong và ngoài nước, với vài chục chuyên khảo và hàng ngàn bài nghiên cứu. Thậm chí, vào năm 1999, một nhóm trí thức Hoa Kì và Việt Kiều đã phối hợp thành lập “Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm” (The Vietnamese Nôm Preservation Foundation - VNPF) đặt trụ sở tại Tiểu bang North Carolina (xem website nomfoundation.org). Hai cuộc hội thảo quốc tế với quy mô lớn về chữ Nôm do VNPF phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức tại Hà Nội (2004) và Huế (2006) cũng đã phần nào cho thấy giới học thuật trong và ngoài nước đều rất quan tâm tới loại hình văn tự dân tộc này.
Chữ Nôm quan trọng là thế, nhưng nó sẽ ngày càng phai nhạt nếu không có người học và hiểu chữ Nôm. Thế hệ các nhà Hán học kinh qua khoa cử, giỏi chữ Hán chữ Nôm đã ngày càng mai một. Cho nên, để chữ Nôm tiếp tục mạch sống trong văn hoá hiện nay và mai sau, rất cần thiết phải có những bộ giáo trình giảng dạy chữ Nôm, để những người quan tâm đến loại hình văn tự này, cũng như quan tâm tới văn hoá truyền thống có điều kiện tìm hiểu, học hỏi, tích luỹ kiến thức, từ đó chuyển mã và giải mã hàng ngàn văn bản chữ Nôm hiện còn trong các kho sách Hán Nôm và trong dân gian.
Để đáp ứng nhu cầu dạy và học chữ Nôm, một số cơ sở đào tạo của Việt Nam đã tổ chức biên soạn được nhiều loại tài liệu giảng dạy chữ Nôm, là giáo trình hoặc mang dáng dấp giáo trình, ít nhiều có tính chất “trường phái” trong quan điểm tiếp cận với vấn đề chữ Nôm. Có thể nhắc tới các công trình của Bửu Cầm (trước 1975), Đào Duy Anh (1975), Lê Văn Quán (1981, 1989), Nguyễn Tài Cẩn (1985), Phan Văn Các chủ biên (1985), Nguyễn Ngọc San (1987), Nguyễn Khuê (1987 - 1988), Vũ Văn Kính (1995), Lê Nguyễn Lưu (2002), Lê Anh Tuấn (2003), Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2004), Nguyễn Tá Nhí chủ biên (2008), Nguyễn Quang Hồng (2008)…
Kế tục truyền thống biên soạn giáo trình chữ Nôm kể trên, cuốn sách Lý thuyết và thực hành chữ Nôm này là kết quả đúc rút lại sau cả chục năm nghiên cứu và giảng dạy chữ Nôm ở bậc đại học của ba nhà giáo, nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương, Phạm Thị Thảo và Hà Đăng Việt. Ba học giả này, bằng niềm say mê với văn hoá và văn hiến dân tộc, đã tích luỹ được một vốn tri thức sâu dày về chữ Nôm và văn bản Nôm vốn được họ tiếp thu từ các nhà nghiên cứu tiền bối, kết hợp với sức làm việc bền bỉ, lại tham khảo được nhiều nguồn tài liệu nước ngoài, họ đã thành công trong việc biên soạn nên một bộ giáo trình chữ Nôm nhìn từ cả bình diện lí thuyết và thực hành, trong đó mảng thực hành được coi trọng hơn.
Trong cuốn sách này, phần lý thuyết gồm 5 bài, điểm qua các vấn đề căn bản nhất về chữ Nôm, gồm: khái niệm chữ Nôm, thời kì xuất hiện của chữ Nôm, các loại hình văn bản chữ Nôm, phân kì lịch sử chữ Nôm, cấu trúc chữ Nôm. Các chú thích chân trang (footnote) khá chi tiết sẽ là nguồn chỉ dẫn tài liệu để độc giả có thể mở rộng phạm vi tìm hiểu về chữ Nôm. Từ bài 6 trở đi là phần thực hành, mỗi đơn vị bài gồm bài khoá (một văn bản hoặc một đoạn văn bản chữ Nôm đánh máy vi tính), phiên âm, chữ mới, chú giảng, bài tập, và ảnh ấn nguyên bản chữ Nôm. Các bài thực hành đã nỗ lực bao quát mọi khả năng hành chức của chữ Nôm trong đời sống văn hóa: tuồng, ca trù, thư từ, giao kèo, bi kí, văn học, từ điển song ngữ, các văn bản hành chính, văn bản dịch thuật tôn giáo...; được thể hiện trên nhiều loại hình vật liệu như giấy, gỗ, đá, gốm sứ...; từ đó cung cấp cho độc giả một cái nhìn đa diện đối với chữ Nôm xét từ các khía cạnh loại hình văn bản, nội dung tác phẩm, công cụ định hình ngôn từ, và phương thức định hình ngôn từ.
Cuốn sách này sau khi vấn thế sẽ là giáo trình tham khảo đắc dụng đối với người học các ngành Hán Nôm, ngữ văn, văn học, ngôn ngữ, du lịch, thư viện, bảo tồn bảo tàng, di sản văn hoá, lịch sử văn hoá…
Trân trọng cảm ơn các tác giả đã cho tôi niềm vinh hạnh được viết vài lời để giới thiệu cuốn sách này tới quý vị độc giả.

Hà Nội, mùa hè năm 2016
TS. Nguyễn Tuấn Cường
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm


Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

từ nguyên của "ngựa", "bà ngựa", "ngự"

bà ngựa ◎ Ngọ午: ngựa [Vương Lực 1958: 36]. Dừng ngựa là ngự 御, 馭, các đồng nguyên tự trên có âm tái lập là ngia [Vương Lực 1982: 139-140; Lưu Quân Kiệt 1999: 308]. Chữ 馭là chữ chỉ ý gồm cái tay (又) và con ngựa. Chữ 御 là chữ hình thanh kiêm chỉ ý: bộ xích 彳trỏ con đường, chữ ngọ午trỏ con ngựa (đồng thời là thanh phù), dưới là chữ chỉ 止(dừng, hãm), bộ tiết 卩 trỏ cái roi. Ngoài ra, còn có chữ 卸 với nghĩa là dỡ đồ [Bernhard Karlgren 1923: 238], nhưng lại lấy tiết 卩làm thanh phù nên đọc là tá, có lẽ nghĩa gốc là dỡ đồ từ trên lưng ngựa xuống, cho nên mới có ngọ 午làm ý phù. Karlgren tái lập âm của ba chữ 馭,御,禦là ngiwo’ [1923: 376]. Ngoài ra còn có ngự 午卩 , mà Huệ Thiên (2004: 305-310) coi là một đồng nguyên tự của ngọ 午. Norman (1985: 88) coi 午 là từ mượn của Mon Khmer, chua tiếng Việt có ngựa, Proto Việt Mường là maŋƏƏ [Ferlus 1992: 57]. Axel Schuessler (1987: 519) tái lập 午 là ŋuoB LH ŋa, OCM *ŋâ, đồng thời cũng xác nhận御là đồng nguyên tự và tái lập là ŋjwoB (1987: 590). Với cứ liệu maŋƏƏ từ tiếng Pakatan, và các cứ liệu bà ngựa trong tiếng Việt cổ có thể nghĩ đến giả thuyết rằng đây là lưu tích của một từ để trỏ ngựa trong tiếng Hán thượng cổ, từ này vốn có tổ hợp phụ âm đầu [mng] (ng có tiền mũi) mà mã là lưu tích của tiền mũi còn [ng] trong ngọ, ngựa là lưu tích của [ng]. Cũng có khả năng maŋƏƏ là cách đọc Việt hóa vào giai đoạn tiếng Việt cổ, như lốc, trọc, trốc ngày nay vốn xuất phát từ một âm Việt hóa vào thế kỷ XV là *tlốc vốn có nguyên từ là độc髑. X. trốc. mắng. Nôm: 婆馭.
dt. con ngựa. (Thủ vĩ ngâm 1.4)‖ (Tự thuật 114.3)‖ Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, Quan cao nào đến dạng người ngây. (Bảo kính cảnh giới 137.3). Sách đối đan trì, văn chói chói gấm trên bà ngựa (Lê Thánh Tông- Thập giới cô hồn…) Xích tiểu đằng là dây răng bà ngựa…Mã hành lấy não bà ngựa (Tuệ Tĩnh- Nam dược quốc ngữ phú).
(trích Nguyễn Trãi Quốc âm Từ điển)

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

chữ Nôm qua KHLGN và KHLGA

TÌNH HÌNH CẤU TRÚC CHỮ NÔM QUA
KHÓA HƯ LỤC GIẢI NGHĨA VÀ KHÓA HƯ LỤC GIẢI ÂM
Trần Trọng Dương 陳 仲 洋

1. Tình hình phân loại cấu trúc chữ Nôm.
Các nhà nghiên cứu từ trước đến nay khi nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm đều luôn cố gắng đưa ra một mô hình phân loại cho đối tượng nghiên cứu khá phức tạp này. Đến nay, chúng ta có thể thấy năm cách phân loại sau: 1. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo lục thư: Ngô Thì Nhậm, Vương Lực, Nguyễn Quang Xỹ, Vũ Văn Kính, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn. 2. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo nguồn gốc tiếng Việt trong mối tương quan với âm Hán Việt: Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đình Hoà, Bửu Cầm. 3. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo sự đối lập hình thể của những chữ vay mượn và những chữ sáng tạo: GS. Nguyễn Tài Cẩn và N.V.Xtankêvich, Lê Văn Quán, Lê Anh Tuấn. 4. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo hướng âm đọc: GS. Nguyễn Ngọc San chia chữ Nôm làm hai loại: dựa âm và không dựa âm ; TS. Hoàng Thị Ngọ chia chữ Nôm làm hai loại: loại ghi một tiếng bằng hai mã chữ và loại ghi một tiếng bằng một mã chữ . 5. Phân loại chữ Nôm theo hướng tổng hợp: Nguyễn Khuê-Nguyễn Nam, Trần Xuân Ngọc Lan.
Có thể thấy, hai cách phân loại đầu là nhìn cấu trúc chữ Nôm trong tương quan với cách cấu tạo của chữ Hán. Cách phân loại thứ hai đã chú ý đến vị trí của âm Hán Việt khi tham gia vào cấu trúc của chữ Nôm. Cách phân loại thứ ba của Nguyễn Tài Cẩn có cái nhìn rạch ròi hơn về tự dạng, xét về tự dạng để phân định mã chữ nào là của chữ Hán, mã chữ nào là sáng tạo của riêng Việt Nam. Cách phân loại thứ tư có ưu thế riêng, phản ánh được các nguyên tắc, cơ chế hình thành chữ Nôm. Cách phân loại này được đánh giá là hữu lý và mới bởi lẽ âm là thành tố chủ yếu trong phương thức cấu tạo chữ Nôm, gồm 14 kiểu chữ Nôm. Cách phân loại thứ năm là cách phân loại có cố gắng đưa ra một mô hình rộng nhất cho mọi trường hợp của chữ Nôm theo lịch đại. Các tiêu chí hình, âm, nghĩa- dụng học được tiến hành hết sức chặt chẽ. Mô hình của Nguyễn Khuê với 24 tiểu loại chữ Nôm là mô hình hợp lý hơn cả với thực tế sáng tạo cấu trúc chữ Nôm trong suốt lịch sử tồn tại của loại chữ này. Tuy nhiên, đơn vị trong một số tiểu loại không nhiều, nếu không muốn nói là xuất hiện rất ít và khó có thể áp dụng đối với việc phân loại chữ Nôm trong một văn bản cụ thể.

2. Cơ sở phân loại cấu trúc chữ Nôm
Đối tượng của bài viết là tình hình cấu trúc chữ Nôm qua hai bản Khoá hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh và Khoá hư lục giải âm của Phúc Điền Hoà thượng. Bài viết này nhằm mục đích xác lập sự khác biệt về cấu trúc chữ Nôm trong cái nhìn lịch sử qua hai bản trên.
2.1. Mô hình phân loại.
Mô hình phân loại chúng tôi thấy hợp lý với đối tượng khảo sát hơn cả là mô hình phân loại theo âm đọc. Nếu sử dụng mô hình phân loại chữ Nôm theo tiêu chí hình thức thì không đủ để lý giải mọi trường hợp một cách thoả đáng, ví dụ như: chữ 驢 LƯ đọc âm Nôm là LỪA (nghĩa là con lừa), nhưng trong văn cảnh đó nghĩa là “lừa đảo”. Mô hình tổng hợp của Nguyễn Khuê thì quá lớn, nhiều tiểu loại chắc chắn sẽ không có đơn vị thống kê. Chúng tôi chọn mô hình phân loại chữ Nôm theo âm đọc là cách lựa chọn hợp lý hơn cả với đối tượng khảo sát tương ứng.
Chữ Nôm là loại văn tự ghi âm. Âm dựa bao gồm ba loại: âm Hán Việt, âm Phi Hán Việt (âm Tiền Hán Việt và âm Hậu Hán Việt) và âm Nôm. Theo phương thức ghi âm, chúng tôi thực hiện bước lưỡng phân thứ nhất, chia chữ Nôm làm 2 loại: I.Chữ Nôm cấu tạo theo phương thức dựa âm và II.Chữ Nôm cấu tạo theo phương thức không dựa âm. Loại chữ Nôm không dựa âm chỉ có 2 tiểu loại: Tiểu loại H là tiểu loại ghép nghĩa (hội ý), hình chữ cấu tạo trên cơ sở chất liệu văn tự Hán; Tiểu loại N là tiểu loại đọc theo nghĩa của từ Hán, mượn nguyên văn tự Hán. Theo cách dựa âm (dựa âm hoàn toàn và dựa âm không hoàn toàn), chúng tôi thực hiện bước lưỡng phân thứ hai, chia làm 2 loại: 1.Loại chữ Nôm không chỉnh âm và 2.Loại chữ Nôm chỉnh âm.
Đặc điểm của loại chữ Nôm không chỉnh âm là mượn hoàn toàn cả văn tự Hán. Theo tiêu chí âm dựa, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân thứ 3, chia loại này làm 2: 1.Loại chữ Nôm đọc theo âm Hán Việt và 2.Loại chữ Nôm đọc theo âm phi Hán Việt (tức loại A2, theo cách quy ước truyền thống, chúng tôi để nguyên kí hiệu quy ước này cho tiện theo dõi, so sánh với các kết quả thống kê trước đây), lấy nghĩa và mượn văn tự Hán. Theo tiêu chí nghĩa của chữ Hán, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân thứ 4, chia làm 2 loại: 1.Loại chữ Nôm lấy nghĩa (Loại A1) và 2.Loại chữ Nôm bỏ nghĩa (Loại B). Đặc điểm chung của loại chữ Nôm chỉnh âm là dùng âm dựa để ghi một âm Nôm có vỏ ngữ âm gần giống. Theo phương thức định hướng âm dựa, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân tiếp theo, chia chữ Nôm làm 2 loại: 1.Loại chữ Nôm không có định hướng và 2.Loại chữ Nôm có kí hiệu định hướng.
Loại chữ Nôm không có định hướng có đặc điểm chung là không dùng kí hiệu để báo đọc chệch âm. Theo âm dựa, chúng tôi thực hiện bước lưỡng phân thứ 4, chia chữ Nôm làm 2 loại: 1.Loại chữ Nôm không định hướng cho âm dựa-Hán Việt ( Loại C1) 2.Loại chữ Nôm không định hướng cho âm dựa-Nôm (Loại C2). Loại chữ Nôm có định hướng có đặc điểm chung là: ngoài thành phần ghi âm còn có thành phần để báo hiệu về nghĩa và âm đọc. Theo tiêu chí này, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân thứ 4, chia loại chữ Nôm có định hướng làm 2 loại: 1.Loại chữ Nôm có định hướng về âm đọc và 2.Loại chữ Nôm có định hướng về nghĩa/âm. Loại chữ Nôm có định hướng về âm đọc tiếp tục được lưỡng phân thành 2 loại: 1.Loại chữ Nôm dùng kí hiệu (bộ khẩu, cá nháy, hai phẩy biên) để báo hiệu đọc chệch âm (Loại D) và 2.Loại chữ Nôm có kí hiệu ghi tổ hợp phụ âm đầu. Loại chữ Nôm có kí hiệu ghi tổ hợp phụ âm đầu được tiến hành lưỡng phân: 1.Loại chữ Nôm dùng 2 mã chữ tương đương với 2 khối vuông tách rời để ghi tổ hợp phụ âm đầu (Loại E1) và 2.Loại chữ Nôm có 2 mã chữ nén trong một khối vuông dùng để ghi tổ hợp phụ âm đầu tiếng Việt cổ (Loại E2). Chúng tôi tiếp tục tiến hành bước lưỡng phân tiếp theo, chia loại chữ Nôm có định hướng về nghĩa làm hai: 1.Loại chữ Nôm có định hướng về trường nghĩa bằng bộ thủ và 2.Loại chữ Nôm có định hướng xác chỉ nghĩa bằng một chữ Hán (Loại G). Chúng tôi tiến hành lưỡng phân tiếp theo, chia loại chữ Nôm có định hướng về trường nghĩa bằng bộ thủ làm hai: 1.Loại chữ Nôm định hướng về âm Hán Việt (Loại F1) và 2.Loại chữ Nôm định hướng âm Nôm (Loại F2). Trên thực tế, loại A1 có thể tiến hành lưỡng phân một bậc nữa theo tiêu chí văn tự: 1.Loại chữ dùng văn tự chính xác (A1.1) và 2.Loại chữ dùng văn tự không chính xác (Loại A1.2). Loại A1.2 là loại dùng văn tự của một từ Hán đồng âm để ghi một từ Hán đồng âm khác nghĩa. Loại chữ này GS. Nguyễn Tài Cẩn đã từng nhắc đến. Nguyễn Tuấn Cường cũng đã khảo sát một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, bài viết tạm thời chưa đưa tiểu loại này vào mô hình phân loại vì tư liệu hiện còn chưa thật đủ.
Mô hình phân loại chữ Nôm:




2.2. Đơn vị và tiêu chí xác định đơn vị thống kê
Một đơn vị thống kê bao giờ cũng được xác định bằng nhiều tiêu chí khác nhau. Trong bài viết, đơn vị thống kê được xác định lần lượt theo từng tiêu chí như sau: 1. Tiêu chí hình thức: Mỗi một đơn vị thống kê là một khối vuông Nôm (Trừ những trường hợp đặc biệt như bà cắt, la đá; bởi xét về cấu trúc âm tiết chúng thuộc loại C(v)(c)CV(C), chúng tôi coi các từ la, bà là các từ dùng để ghi tiền âm tiết, được coi là các âm tiết mờ; đá, ngựa là các âm tiết tỏ). 2. Tiêu chí âm đọc: Các chữ có âm đọc khác nhau thì sẽ có vị trí tương đương nhau: cùng là một đơn vị thống kê. 3. Tiêu chí cấu trúc: các chữ có cấu trúc phân loại khác nhau sẽ là các đơn vị độc lập với nhau. 4. Tiêu chí tự dạng (hình chữ): Các chữ Nôm cùng cấu trúc, cùng âm đọc, nhưng nếu có hình thức, tự dạng khác nhau sẽ được tách thành các đơn vị tương đương nhau.
3. Kết quả phân loại cấu trúc chữ Nôm theo tiêu chí âm đọc
3.1. Bảng kết quả phân loại chữ Nôm




3.2. Nhận xét chung về chữ Nôm qua hai bản Khoá hư lục giải nghĩa và Khoá hư lục giải âm.
Loại A1: Đây là loại chữ mượn hình thể (văn tự), âm đọc và nghĩa. Việc nghiên cứu tỉ lệ loại chữ này trong các văn bản Nôm là một việc có ý nghĩa. Bởi qua đó, ta sẽ có một hình dung về sự hoạt động của từ Hán Việt ở tiếng Việt trong suốt lịch sử, qua đó ta cũng có thể nhận thức rõ ràng hơn về cơ chế gia nhập của loại từ này vào vốn từ vựng tiếng Việt trong môi trường song ngữ. Số liệu thống kê cho thấy: Tuệ Tĩnh dùng tới 608 đơn vị loại A1, Phúc Điền chỉ dùng 524 đơn vị, Tuệ Tĩnh dùng nhiều đơn vị từ Hán Việt hơn Phúc Điền; nhưng số lần sử dụng các từ Hán Việt của Phúc Điền lại cao hơn Tuệ Tĩnh (2929 đơn vị so với 2896 đơn vị). So với độ dài văn bản, loại A1 mà Tuệ Tĩnh dùng thấp hơn nhiều so với Phúc Điền. Loại A1 trong bản giải nghĩa của Tuệ Tĩnh chỉ chiếm 23, 65% độ dài văn bản, trong khi loại A1 trong bản giải âm của Phúc Điền chiếm đến 31,17%. Số liệu này góp phần làm sáng tỏ về sự khác biệt giữa phong cách giải âm và phong cách giải nghĩa.
Loại A2: Đây là loại mượn văn tự, mượn nghĩa, và mượn âm đọc (gồm âm đọc Tiền Hán Việt và âm đọc Hậu Hán Việt, gọi tắt là âm Phi Hán Việt). Số liệu thống kê cho thấy: Tuệ Tĩnh dùng 148 âm Phi Hán Việt với số lần sử dụng là 975, Phúc Điền dùng 110 âm Phi Hán Việt với số lần sử dụng là 623; So với độ dài toàn văn bản, loại A2 trong bản giải nghĩa của Tuệ Tĩnh chiếm 7,96%, loại A2 trong bản giải âm của Phúc Điền chiếm 6,63%.
Loại B: Đây là loại mượn văn tự, mượn âm Hán Việt, bỏ nghĩa (còn gọi là loại chữ giả tá, theo phép phân chia lục thư). Số liệu thống kê cho thấy: Tuệ Tĩnh dùng 160 đơn vị loại B với tần số 1130, Phúc Điền dùng 122 đơn vị với tần số 814 lần. So với độ dài văn bản, loại B trong bản giải nghĩa của Tuệ Tĩnh chiếm 9,23%, loại B trong bản giải âm của Phúc Điền chiếm 8,66%.
Loại C: Đây là loại mượn văn tự, mượn âm Hán Việt đọc chệch, bỏ nghĩa. Số liệu thống kê cho thấy: Tuệ Tĩnh dùng 665 đơn vị với tần số 4.284 lần, Phúc Điền dùng 123 đơn vị với tần số 1.038 lượt; So với độ dài văn bản, loại C trong bản giải nghĩa của Tuệ Tĩnh chiếm 34,96%, loại C trong bản giải âm của Phúc Điền chiếm 11,05%.
Loại D: Đây là loại chữ Nôm có kí hiệu đọc chệch, trong bản Khoá hư lục giải nghĩa thường có các kí hiệu đọc chệch sau: bộ khẩu 口, cự 巨, hai phẩy biên ‘ ’. Khoá hư lục giải âm chỉ có kí hiệu đọc chệch là khẩu. Xét về tiêu chí hình thức, loại này thuộc về loại tự tạo (cũng có khi có sự trùng hình giữa loại này với văn tự Hán). Nhưng xét về chức năng của kí hiệu (chức năng chỉnh âm), thì loại D chỉ là một hình thức khác của loại C, hai loại này giống nhau ở chỗ: cùng mượn văn tự, cùng bỏ nghĩa và mượn âm Hán Việt để đọc chệch, chỉ khác nhau ở điểm: loại D có kí hiệu báo đọc chệch, còn loại C lại không có. Số liệu thống kê cho thấy: Tuệ Tĩnh sử dụng 134 đơn vị với tần số 364 lần, Phúc Điền sử dụng 79 đơn vị với tần số 305 lần; So với độ dài văn bản, loại D trong bản giải nghĩa của Tuệ Tĩnh chiếm 2,97%, loại D trong bản giải âm của Phúc Điền chiếm 3,25%.
Loại E: Đây là loại chữ có kí hiệu chỉnh âm đầu và chữ Hán làm thành tố phụ. Ở đây thành tố phụ ghi âm cụ thể hoặc ghi nghĩa cụ thể làm cho hướng chỉnh âm thu hẹp lại. Loại này chia làm hai tiểu loại: tiểu loại E1: dùng hai mã chữ, tiểu loại E1: dùng một mã chữ. Tiểu loại E1: Trong bản Khoá hư lục giải nghĩa có hai đơn vị thuộc loại E1. Đó là: la đá (xuất hiện 2 lần), bà cắt (xuất hiện 1 lần). Bỏ lưới cùng là vây vóc đánh rấp rong bà cắt mà giục cẩu.64b2. [設 網 張 羅 哾 鷹 走 狗 ]; Phải bàn la đá giập xuống thì một hồi phân ra làm hai đoạn.22b5 [遭 剉 磕 則 一 刀 兩 段 Bị bàn đá sập xuống thì thân liền đứt ra làm hai], Hoặc là nâng chưng dưới hòn la đá cùng nơi chốn dưới núi Ốc Tiêu, hoặc ở trong núi Thiết Vi chỉn là nơi chốn ngục A Tỳ.22b4 [或 接 沃 焦 石 下, 或 在 鐵 圍 山 間 ]. Đây là tiểu loại rất quan trọng để xác định niên đại cho dịch phẩm. Vì theo các nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt thì từ thế kỉ XVII về trước, trong tiếng Việt còn tồn tại một số tổ hợp phụ âm đầu và các thành tố tiền âm tiết như: PL, BL, KL, KHL, KR, GR…và nếu ngược lên sớm hơn nữa có thể có các tổ hợp phụ âm hoặc các thành tố âm tiết khác nữa. Điều này được phản ảnh trong cách ghi âm tiếng Việt của Trần Cương Trung (Sứ giao châu tập- Tk XIII), trong cách ghi chữ quốc ngữ cuốn Từ điển Việt Bồ La của de Rhodes (1651) và trong cách ghi chữ Nôm của những văn bản cổ như: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Quốc âm thi tập, Chỉ nam ngọc âm… Cụ thể là:
Trong Sứ giao châu tập của Trần Cương Trung (được Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến văn tiểu lục có hiện tượng một chữ Hán được dịch sang một từ Việt, từ này được ghi bằng hai tự, ví dụ: 月 nguyệt: 勃 夌 (bột lăng) : blăng > trăng; 天 Thiên : 勃 耒 (bột lỗi) : blời > trời. Trong An Nam dịch ngữ, theo bản Vương Lộc chú giải, giới thiệu cũng có những trường hợp tương tự: 牛 Ngưu: 革 蔞 (cách lâu) : klâu > trâu; 太 陽 Thái dương : 托 爛 (thác lan) : tlán > trán. Trong Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, hiện tượng này xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: 婆 論 Bà luận : Blọn > trọn; 波 涅 Ba niết : ( - )nát > nát. Trong Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, số lượng này đã giảm, chỉ còn một số hiện tượng như: bà ngựa, la ngàn, la đá, bà cắt (bồ cắt)… Trong Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, tiểu loại E1 không thấy xuất hiện. Lúc này từ ĐÁ đã là từ đơn tiết, tức là đã hoàn tất quá trình đơn tiết hóa.
Như vậy, có thể bước đầu khẳng định rằng: (với cứ liệu trong tiểu loại E1) bản giải nghĩa Khoá hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh viết vào khoảng thời gian trước Truyền kì mạn lục giải âm. Đến chữ Nôm thế kỉ XIX, loại E1 đã hoàn toàn biến mất, thể hiện qua số liệu thống kê trong Khoá hư lục giải âm của Phúc Điền hoà thượng. Qua số liệu của Nguyễn Tuấn Cường [11] trong Kim Vân Kiều tân truyện Liễu văn đường 1871, loại E1 cũng đã biến mất. Cụ thể như bảng dưới đây.



Như vậy, theo số lượng và tần số xuất hiện của các đơn vị trong tiểu cấu trúc E1 ta có thể phân kì chữ Nôm làm ba giai đoạn sau: 1. Giai đoạn từ thế kỉ XIV trở về trước: giai đoạn này loại chữ Nôm hai mã được dùng để ghi các từ tiền âm tiết (tổ hợp phụ âm đầu). Hiện còn các văn bản: Sứ giao châu tập, An Nam dịch ngữ, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Văn bia Hộ Thành sơn. Chiếm 2.1% độ dài văn bản (qua số liệu của Phật thuyết). 2. Giai đoạn hai từ thế kỉ XV đến thế kỷ XVI: giai đoạn mà các văn bản Nôm còn lưu lại các cách ghi hai mã chữ của giai đoạn trước đó. Chiếm 0,028% (tính theo tổng trung bình số liệu của Chỉ nam, Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Khoá hư lục giải nghĩa. Các từ đó chủ yếu là danh từ chỉ vật hay động vật, như: la đá, bà ngựa, bồ cò, bồ cắt (bà cắt), ông voi, bồ ngưu, bệnh rết, mùi tui, bồ nâu, lồ vừng, lồ mè… (17 chữ) trong các văn bản Chỉ nam ngọc âm, Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Khoá hư lục giải nghĩa, Thiên Nam ngữ lục… Các văn bản trong giai đoạn này cùng ghi cả một lúc dạng chữ ghi hai âm tiết Nôm và cả dạng chữ đã rụng mất tiền âm tiết: ví dụ như: trong Chỉ nam ngọc âm: từ ĐÁ xuất hiện 15 lần thì chỉ có 2 lần được viết là LA ĐÁ trong các câu: Cơ Thạch Bác giống cực dữ song, làm máy LA ĐÁ chước dùng bất nhân [4, tr.183], Thạch Khối hòn LÀ ĐÁ chồng [4, tr.85]; còn lại 13 lần ghi bằng ĐÁ, như: núi đá, ghềnh đá, hang đá, hòn đá, cầu đá, đá lửa, bụt đá, khánh đá, chó đá, tre đá [4, tr.82, 85, 183, 183, 185, 186, 198, 214, 244]. Trong Khoá hư lục giải nghĩa cũng có hiện tượng tương tự: từ ĐÁ xuất hiện 4 lần trong đó 2 lần được ghi là LA ĐÁ ở các câu đã dẫn trên, và 2 lần được ghi là ĐÁ ở các câu cháy mặt trời nướng trụ đá mà muôn vật đều khô nỏ.9a5, sang tiết hè nắng cháy thời trôi vàng nát đá ra.40a3. Sở dĩ, Chỉ Nam ngọc âm có nhiều đơn vị E2 với số lần xuất hiện cao hơn các văn bản cùng thời khác là vì đây là một cuốn từ điển song ngữ Hán Việt. Đối tượng được phản ánh phong phú hơn so với các văn bản khác. 3. Giai đoạn ba từ cuối thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX: loại E1 đã biến mất.
Tiểu loại E2: đây là loại dùng phép ghi âm + âm: tức là dùng hai yếu tố tự dạng của chữ Hán ghép trong một khối vuông Nôm để ghi lại tổ hợp phụ âm đầu trong tiếng Việt cổ. Trong bản Khoá hư lục giải nghĩa cụ thể có các mã chữ như sau: 古 Cổ + 弄lộng: 弄古 klống > trống trong các câu: tám xin klống pháp trỗi chỉn nghiêng tai.43b6, lậu canh sơ đà điểm sang klống ba.67b3, tiếng klống pháp cổ đánh ngã trong thế gian chiêm bao.75b4; 車 Cư + 略 lược: 訳 Klước > trước trong các câu suốt cả ba tài mà đứng ở trong, làm klước muôn vật chưng chỉn rất thiêng.7a4, Miếng ăn nghẹn thời ở klước, tiếng ái cha thời ở sau.8b5…; 巨 Cự + 郎 lang: 禥 Krang > sang trong các câu chẳng luận kẻ khó cùng người krang cùng vào một đường thác mất.15b2; 古 Cổ + 卥 la : 卥古 Kra > sa trong câu hai lỗ mũi nước ngưng chảy kra, hun thửa kinh giáo, xông lên tượng Phật.49a1.; 車 Cư + 卢 lô : 暦 kro > so trong câu chẳng luận kro đấng trí cùng với đấng ngu thảy thảy đều cùng vào chưng trong lòng cưu mang.7a5. Tổng cộng có 5 đơn vị với 12 lần xuất hiện. Trong Khoá hư lục giải âm cũng có tiểu loại E2: trống ở các vị trí 24b6, 30b9, 38a7, 43b7; sang ở các vị trí 12b3, 14b1, 22b5, 32a7. Tổng cộng: 2 đơn vị, 8 lần.
Bảng chữ E2 trong các bản Nôm.




Như vậy, theo số lượng và tần số xuất hiện của các đơn vị trong tiểu loại E2, ta có thể đi đến nhận định sau: 1. Từ thế kỉ XV trở về trước là giai đoạn các loại chữ E2 dùng để ghi các tiền âm tiết và tổ hợp phụ âm đầu như: BL, KR, TL xuất hiện rất nhiều với tần số cao, chiếm 11,31 % độ dài văn bản (qua số liệu của Phật thuyết). 2. Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII là giai đoạn các loại chữ E2 giảm đáng kể về mặt số lượng và tần số, 7 đơn vị xuất hiện với tần số 17 lần, chiếm 0,15%. 3. Từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX: giai đoạn các loại chữ E2 có thể coi như đã hoàn toàn biến mất. Giai đoạn này chỉ còn hai ba chữ như trống, trước và sang còn sót lại, đây là lưu tích của chữ Nôm của các giai đoạn trước, nó không còn chức năng ghi âm. Tỉ lệ xuất hiện là 0,04% (qua tổng trung bình số liệu bản Kiều 1871 và Khoá hư lục giải âm).
Khi các tiền tố trong những phụ âm đầu kép đã biến mất thì sự tồn tại trong chữ Nôm của các thành tố vốn được dùng để biểu thị tiền tố như cư, cự, ma, cá…trở nên vô nghĩa. Theo quy luật, yếu tố dư thừa, không có chức năng sẽ bị loại bỏ. Các thành tố ghi âm này, sang thế kỉ XVIII – XIX đã gần như không còn nữa. Phương thức cấu trúc lại thường xảy ra theo ba hướng sau: 1. Những yếu tố ghi âm tiết chính trước đây được giữ lại (trong khi các chữ ghi tiền âm tiết đã rụng mất) có khi để nguyên và nhập vào hệ thống chữ Nôm đọc chệch âm Hán Việt; 2. Có khi nó được gia thêm một thành tố nghĩa phù (bộ thủ) để chỉnh trường nghĩa, lúc này nó lại gia nhập vào hệ thống chữ Nôm thuộc loại hình thanh- loại F; 3. Có khi nó lại gia thêm thành tố ghi nghĩa xác chỉ, lúc này nó lại gia nhập vào loại chữ Nôm G.
Qua sự vận động của loại chữ này, ta thấy: 1. Chữ Nôm đã phản ánh tình hình đơn tiết hoá trong tiếng Việt từ thế kỉ XV – XVII. Loại chữ Nôm E2 mới đầu xuất hiện khá nhiều, rồi giảm dần cùng mới quá trình mài mòn và biến mất của một số tổ hợp phụ âm đầu như KL, TL, KR, KHL…. 2. Xu hướng chính xác hoá trong các cách ghi âm của chữ Nôm cho phù hợp với ngữ âm của từng giai đoạn. Mỗi khi vỏ âm thanh thay đổi, phương tiện dùng để kí âm (văn tự) cũng được biến đổi theo. Ta có thể coi đây như là cơ chế tự điều chỉnh trong cấu trúc của chữ Nôm.
Loại F: Đây là loại gồm nghĩa phù (bộ thủ để chỉnh trường nghĩa của chữ) và âm phù (một chữ Hán hay Nôm có sẵn). Loại F chia làm 2 tiểu loại: Tiểu loại F1 có mô hình: bộ thủ + Thanh phù đọc âm Hán Việt (mượn hình thể chữ Hán), loại này chiếm 99% số lượng và số lần xuất hiện. Tiểu loại F2 có mô hình: bộ thủ + Thanh phù đọc theo âm Việt (mượn hình thể chữ Nôm), loại này chiếm số lượng rất ít. Nhưng do đặc điểm cấu tạo đặc thù như vậy nên chúng tôi vẫn xếp thành một tiểu loại riêng.Khoá hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh có 330 đơn vị thuộc loại F (chiếm 15,24% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 1.310 (chiếm 10,70% độ dài văn bản). Trong đó, loại F2 chỉ có 1 đơn vị (lời 坘 ) xuất hiện với tần số 17 lần. Khoá hư lục giải âm của Phúc Điền có 376 đơn vị thống kê thuộc loại F (chiếm 23,72 % tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 1434 lần (chiếm 15,26% độ dài văn bản). Trong đó, có 6 đơn vị thuộc loại F2, gồm: buốt 冫 幒, lời 坘, chòm 廸 , mời 対, nhỏ 才岺 , quở 口晫. Có thể thấy, càng về sau, chữ Nôm loại này có xu hướng tăng lên nhiều hơn.
Loại G: Loại này có cấu trúc là chữ Hán làm nghĩa phù + Chữ Hán làm thanh phù. Đây là loại có thành tố ghi nghĩa xác chỉ. Khoá hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh có 99 đơn vị (chiếm 4,57% tổng số đơn vị thống kê) xuất hiện với tần số 1148 lần (chiếm 9,38%). Khoá hư lục giải âm của Phúc Điền có 98 đơn vị (chiếm 6,12% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 1082 lần (chiếm 11,52%). Có thể thấy: tỉ lệ chữ hình thanh xác chỉ giữa hai văn bản không chênh nhau là mấy. Nguyên nhân là do bản Khoá hư lục giải nghĩa là bản chép tay, nên đã chịu nhiều sửa đổi về văn tự trong các quá trình sao chép khiến cho văn bản nhiều khi không còn mang đúng phong cách văn tự của nguyên tác nữa. Tuy nhiên, qua số liệu thống kê ta cũng có thể thấy xu hướng vận động của chữ Nôm: từ việc ghi âm sẽ gần tiến đến ghi âm- chỉnh trường nghĩa và cuối cùng là ghi âm-xác chỉ ý nghĩa. Thể hiện qua tần số xuất hiện của loại này: Khoá hư lục giải nghĩa chỉ chiếm 9,38% độ dài văn bản, trong khi Khoá hư lục giải âm chiếm 11,52%. Dùng tiêu chí này để xác định tính chất của cấu trúc chữ Nôm qua các giai đoạn lịch sử là một việc làm có ý nghĩa, bổ sung thêm vào các phương pháp khác: xác định tỉ lệ chữ giả tá, xác định tỉ lệ chữ ghi tiền âm tiết…trong các văn bản Nôm.
Loại H: Đây là loại chữ nghĩa + nghĩa. Loại này chiếm tỉ lệ rất ít trong các văn bản Nôm của các giai đoạn. Các đơn vị cũng rất ít, khoảng dưới 10 đơn vị. Khoá hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh có 2 đơn vị (chiếm 0,09% tổng số đơn vị thống kê) xuất hiện với tần số 55 lần (chiếm 0,44% độ dài văn bản). Đó là hai chữ: trời và mấy. Khoá hư lục giải âm của Phúc Điền có 2 đơn vị thống kê (chiếm 0,13% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 55 lần (chiếm 0,58% độ dài văn bản). Đó là hai chữ: trời và trùm.
Loại N: Đây là loại chữ mượn tự dạng chữ Hán, bỏ âm, đọc theo nghĩa. Khoá hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh có 8 đơn vị thống kê (chiếm 0,35% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 22 lần (chiếm 0,17% độ dài văn bản). Khoá hư lục giải âm của Phúc Điền có 2 đơn vị thống kê (chiếm 0,13% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 3 lần (chiếm 0,03% độ dài văn bản). Có thể thấy càng lùi về sau này số lượng và tỉ lệ của loại chữ đọc theo nghĩa càng giảm dần. Nguyên nhân: trong giai đoạn tiếng Việt cổ (thế kỉ XIII cuối thế kỉ XVI) tiếng Việt đang tiếp thu những yếu tố Hán mà nó còn đang khuyết thiếuTình hình này ta có thể thấy rất rõ qua số lượng các từ gốc Hán gia nhập vào các văn bản Nôm sơ kì.
4. Kết quả phân loại chữ Nôm theo tiêu chí tự dạng (chữ Nôm vay mượn và chữ Nôm sáng tạo)
Phương pháp định lượng tỉ lệ hình chữ vay mượn và hình chữ tự tạo trên cơ sở chất liệu chữ Hán là một trong những phương pháp sớm nhất được sử dụng để xác định diễn biến cấu trúc của chữ Nôm trong lịch sử. Theo các nhà nghiên cứu chữ Nôm, loại vay mượn tự dạng càng nhiều thì niên đại của văn bản càng có khả năng xưa hơn, vì trong giai đoạn đầu phát triển, chữ Nôm chủ yếu dùng phương pháp giả tá. Càng về sau này, loại chữ Nôm tự tạo tăng lên, thể hiện xu hướng ghi âm chính xác cả về nghĩa và âm trong chữ Nôm. Loại chữ vay mượn bao gồm các chữ thuộc loại A1, A2, B, C1, C2, N. Loại chữ tự tạo trên cơ sở chất liệu chữ Hán bao gồm các chữ loại D, E1, E2, F1, F2, G, H. Ta có thể thấy sự vận động của chữ Nôm trong 2 văn bản qua bảng so sánh sau:



Như vậy, ta có thể thấy: loại vay mượn hình chữ trong văn bản Khoá hư lục giải nghĩa gấp đôi loại vay mượn hình chữ trong văn bản Khoá hư lục giải âm, cả về số lượng đơn vị lẫn tần số xuất hiện. Loại tự tạo hình chữ trong văn bản Khoá hư lục giải nghĩa thấp hơn loại hình chữ tự tạo trong Khoá hư lục giải âm. Theo các nhà nghiên cứu chữ Nôm, loại vay mượn hình thể càng nhiều với tần số xuất hiện càng cao thì niên đại văn bản càng có khả năng xưa hơn, vì nó phản ánh lịch sử phát triển của chữ Nôm từ giả tá sang hình thanh. Đế có cái nhìn rộng hơn về vị trí của bản Khoá hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm trong tiến trình từ chữ Nôm Việt. Chúng tôi lập bảng so sánh với một số tác phẩm Nôm tiêu biểu như sau:




Có thể thấy xu hướng chung trong mô thức cấu trúc chữ Nôm là giảm dần số lần sử dụng loại vay mượn và tăng dần loại tự tạo (về mặt hình thể, tự dạng). Theo bảng trên, ta có thể phân làm hai giai đoạn: 1.Giai đoạn thứ nhất (từ thế kỉ XVIII về trước): đây là giai đoạn loại chữ vay mượn tự dạng có tỉ lệ rất cao từ 80% đến 90% độ dài văn bản. 2.Giai đoạn thứ hai (thế kỉ XIX): đây là giai đoạn loại chữ vay mượn đã giảm xuống đáng kể, chiếm dưới 70% độ dài văn bản. Loại chữ vay mượn tự dạng trong văn bản Khoá hư lục giải âm chỉ chiếm 57,51%; đây có thể coi là con số thấp nhất thống kê được từ trước đến nay về loại. Loại chữ vay mượn tự dạng trong văn bản Khoá hư lục giải âm chiếm 76,73% độ dài văn bản. Điều này cho thấy: văn bản AB.269 là một bản chép tay sau này, nó không còn phản ánh đúng tình hình cấu trúc của chữ Nôm vào thời điểm sáng tác nữa. Như vậy, phương pháp tính niên đại tác phẩm theo tỉ lệ chữ vay mượn/ tự tạo sẽ gặp khó khăn nếu gặp phải những trường hợp khó khăn về văn bản học. Mặt khác, phương pháp này cũng có một số bất cập khác như: tỉ lệ cấu tạo chữ Nôm còn chịu sự chi phối của đề tài cũng như chủ thể sáng tạo. Trong những văn bản chính thống, quan phương, hay các văn bản triết học (như Phật, Nho) tỉ lệ chữ Hán sẽ tăng lên do có sự suất hiện đáng kể của các thuật ngữ Nho học, Phật học…Trong các thể loại thơ, phú; từ Hán Việt cũng được sử dụng phổ biến để thứ nhất tạo sự cổ kính, trang nhã cho câu thơ, thứ hai để phục vụ việc gieo vần, thứ ba để chứng tỏ sự uyên bác của người viết. Phương pháp này cũng sẽ gặp khó khăn đối với những trường hợp giải âm và giải nghĩa: các tác phẩm giải âm có xu hướng đối dịch âm tiết rất cao, đối dịch âm tiết đối với cả những từ Hán Việt quen thuộc, trong khi xu hướng này thể hiện không mạnh bằng ở các tác phẩm giải nghĩa. Sự bất cập của phương pháp này còn thể hiện ở việc phân kì chữ Nôm như chúng tôi đã trình bày. Chia cấu trúc chữ Nôm làm hai giai đoạn (theo tiêu chí hình thức) sẽ không phản ánh đúng bản chất của chữ Nôm trong từng giai đoạn nhỏ hơn: giai đoạn chữ Nôm trước thế kỉ XV, giai đoạn chữ Nôm từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII, giai đoạn chữ Nôm thế kỉ XVIII – XIX.
Việc phân kì chữ Nôm nên được tiến hành theo phương pháp ngữ âm xác định theo một hệ các tiêu chí khác nhau, bao gồm: 1. Sự vận động của các đơn vị thuộc loại C sang loại D trong các giai đoạn phát triển: tức là sự vận động của các chữ mượn hình đọc chệch sang loại chữ định hướng bằng báo hiệu. 2. Sự vận động của các đơn vị thuộc loại D sang loại F1 trong các giai đoạn phát triển: cụ thể là sự vận động của các chữ mượn âm Hán Việt đọc chệch có gia thêm dấu phụ báo hiệu chỉnh âm/ chỉnh nghĩa sang loại chữ mượn âm Hán Việt đọc chệch có gia cố thêm bộ thủ để báo hiệu đọc chệch và chỉnh trường nghĩa. Chức năng chỉnh trường nghĩa là chức năng chính, chức năng đọc chệch là chức năng đi sau. Khác với các kí hiệu phụ (nháy, cá, cự…), các kí hiệu này chỉ thông báo đọc chệch âm mà không cho biết phải đọc chệch theo trường nghĩa nào. Muốn đọc chính xác phải dựa vào văn cảnh. 3. Sự vận động của các đơn vị thuộc loại C1/ D và F1 sang loại chữ G: + Sự vận động của các đơn vị thuộc loại C1/D sang loại G: tức là sự vận động của các chữ đọc chệch âm Hán Việt (có/ không có kí hiệu đọc chệch) sang loại chữ đọc chệch âm Hán Việt có gia cố thêm thành phần xác chỉ về nghĩa. Có một số đơn vị chuyển thẳng từ C sang G như các từ thuộc về số đếm như: từ chín㐱 sang chín 佂, ba 巴 sang ba 倈 , muôn 門 sang muôn 鎽, ngàn 彥 sang ngàn 懯, sau 婁 sang sau 畱 /蜶 , trước 略 sang trước 苉 /遟 , trâu 婁 sang trâu 橮 , cũ 屢 sang cũ 辸 … Có một số đơn vị chuyển từ D sang G; + Sự vận động của các đơn vị thuộc loại F1chuyển sang loại G: như từ cỏ 枯 sang cỏ 礊 …. 4. Sự vận động của các đơn vị trong E1 chuyển sang E2/ C/ D/ F1/ G: tức là sự vận động của các chữ được ghi bằng hai mã chữ (hai khối vuông tách biệt) sang chữ Nôm được ghi bằng một mã chữ (một khối vuông nén hai chữ Hán dùng để ghi tổ hợp phụ âm đầu và tiền âm tiết trong giai đoạn đầu của chữ Nôm). Ví dụ: chuyển từ mắng 車 莽 sang mắng 車莽/ 渕 , trọn 婆 論 sang trọn 論/淿 , trông 車 籠 sang trông 籠/饢 , ngàn 卥 彥 sang ngàn 彥 /懯 ,…Tuy nhiên, việc khảo sát cụ thể hiện tượng diễn biến sẽ được đề cập trong một dịp khác.
5. Tiểu kết
5.1. Văn bản Khóa hư lục giải nghĩa vẫn còn sót lại một số ít các mã chữ Nôm cổ: loại E1 và E2 chỉ có ở các văn bản chữ Nôm được sáng tác đầu thế kỉ XV như: Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Chỉ Nam ngọc âm. Loại E1 có 2 trường hợp xuất hiện với tần số 3 lần. Ngoài ra, văn bản còn có một số chữ Nôm thuộc loại C ghi các tổ hợp phụ âm đầu như: BL, KL, KR (cùng với loại E2). Cụ thể là: có 3 chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm KR xuất hiện với tần số 5 lần; có 5 chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm đầu KL xuất hiện với tần số 49 lần; có 3 chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm đầu BL xuất hiện với tần số 11 lần. Trong khi văn bản Khóa hư lục giải âm hoàn toàn không có hiện tượng này.
5.2. Văn bản Khóa hư lục giải nghĩa có số chữ Nôm loại C gấp 4 lần văn bản Khóa hư lục giải âm cả về số lượng và tần số xuất hiện. Bản Tuệ Tĩnh dùng 665 đơn vị với tần số 4.284 lần, bản Phúc Điền dùng 123 đơn vị với tần số 1.038 lượt; so với độ dài văn bản, loại C trong bản giải nghĩa của Tuệ Tĩnh chiếm 34,96%, loại C trong bản giải âm của Phúc Điền chiếm 11,05%. Như vậy, bước đầu ta có thể nhận định rằng: tỉ lệ chữ Nôm đọc chệch âm Hán Việt (so với độ dài văn bản) trong các văn bản Nôm thế kỉ XIX chỉ bằng 1/3 so với văn bản Nôm thuộc giai đoạn trước đó. Dĩ nhiên, đây là số liệu chưa thật chính xác bởi văn bản Khóa hư lục giải nghĩa là văn bản chịu nhiều ảnh hưởng của cấu trúc chữ Nôm giai đoạn sau như chúng tôi đã chứng minh ở trên.
5.3. Khóa hư lục giải nghĩa chỉ có 10 chữ Nôm thuộc loại không dựa âm gồm loại hội ý và loại đọc theo nghĩa (/ 2.166 chữ, chiếm tỉ lệ 0,46%) xuất hiện với tần số 77 (/12.244 lượt, chiếm 0,62% độ dài văn bản). Còn lại, chữ Nôm dựa âm có 2.156 đơn vị (/2.166 đơn vị, chiếm 99,54%) xuất hiện với tần số 12.177 (/12.244, chiếm 99,36% độ dài văn bản). Khóa hư lục giải âm cũng chỉ có 4 chữ Nôm thuộc loại không dựa âm (/ 1.585 đơn vị, chiếm 0,25%) xuất hiện với tần số 58 lần (/9.396 lượt, chiếm 0,61% đọ dài văn bản). Loại chữ Nôm F trong hai văn bản xấp xỉ nhau. Trong đó, Khóa hư lục giải nghĩa chỉ có 1 trường hợp đọc dựa theo âm Nôm (loại F2) xuất hiện với tần số 17 lần, còn Khóa hư lục giải âm có 6 trường hợp, xuất hiện với tần số 55 lần. Cả hai văn bản đều có các âm dựa là: âm Hán Việt, âm phi Hán Việt, và âm Nôm. Theo tiêu chí âm đọc, chữ Nôm trong suốt lịch sử là thứ văn tự ghi âm.
5.4. Theo tiêu chí tự dạng (chữ Nôm vay mượn và chữ Nôm tự tạo), văn bản Khóa hư lục giải nghĩa có 1.591 loại chữ vay mượn (/ 2.166 chữ, chiếm 73,34%) xuất hiện với tần số 9.292 (/12.244 lượt, chiếm 76,73% độ dài văn bản); loại chữ tự tạo 575 chữ (/2.166 chữ, chiếm 26,66%) xuất hiện với tần số 5.404 (/ 12.244 lượt, chiếm 23,27% độ dài văn bản). Văn bản Khóa hư lục giải âm có 879 loại vay mượn (/ 1.585 chữ, chiếm 55,45%) xuất hiện với tần số 5.404 (/9.396 lượt, chiếm 57,51% độ dài văn bản) và có 706 chữ tự tạo (/ 1.585 chữ, chiếm 44,55% tổng số mã chữ) xuất hiện với tần số là 3.992 lượt (/ 9.396 lượt chữ, chiếm 42,49% độ dài văn bản). Số liệu này chứng tỏ:
5.4.1. Chữ Nôm trong văn bản Khóa hư lục giải nghĩa đã chịu ảnh hưởng khá nặng của chữ Nôm hậu kì. Tỉ lệ chữ Nôm vay mượn (so với độ dài văn bản) trong văn bản AB.268 chỉ có 76,73%, gần bằng số liệu của các văn bản thuộc thế kỉ XVIII như Tam thiên tự toản yếu (79,6%), kém số liệu của các văn bản từ thế kỉ XVII về trước, như: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (84,52%), Chỉ nam ngọc âm (82 %), Quốc âm thi tập (90%), Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (88%)…
5.4.2. Chữ Nôm trong văn bản Khóa hư lục giải âm cho thấy: tỉ lệ chữ Nôm vay mượn (so với độ dài văn bản) chiếm tỉ lệ khá thấp, chỉ có 57,51 %. Đây là số liệu thấp nhất thống kê được từ trước đến nay. Theo số liệu thống kê của Nguyễn Tuấn Cường qua Truyện Kiều bản Liễu Văn Đường 1871 thì tỉ lệ chữ vay mượn ở văn bản này là 68,24%). Có thể đi đến nhận định rằng: nếu đặt chữ Nôm trong văn bản Khóa hư lục giải âm trong tiến trình chữ Nôm Việt, ta thấy xu hướng chung trong cấu trúc chữ Nôm là giảm dần loại vay mượn và tăng dần loại tự tạo. Trong đó có hai xu hướng nhỏ: xu hướng gia cố nghĩa phù (trường nghĩa hoặc xác chỉ) và xu hướng ghi chính xác âm đọc bằng việc sử dụng một âm Nôm khác. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng chữ Nôm vay mượn dù ở giai đoạn nào cũng chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với loại tự tạo (cả về số chữ và số lần xuất hiện.)

Trần Trọng Dương

email: trantrongduonghn@gmail.com
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Đào Duy Anh, Chữ Nôm- nguồn gốc, cấu tạo diễn biến, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.1975.
2. Nguyễn Tài Cẩn & N.V.Stankevic, Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.1985.
3. Nguyễn Quang Hồng phiên khảo, Tân biên truyền Kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội.2001.
4. Trần Xuân Ngọc Lan, Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.1985.
5. Vương Lộc, An Nam dịch ngữ, Trung tâm Từ điển học & Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001.
6. Hoàng Thị Ngọ, Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.1999.
7. Lê Văn Quán, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.1981.
8. Nguyễn Ngọc San, Lý thuyết chữ Nôm- văn Nôm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003.
9. Nguyễn Thanh Tùng, Chữ Nôm và tiếng Việt qua Thiền tông khóa hư ngữ lục (báo cáo khoa học sinh viên), Đại học Sư phạm, Hà Nội.2002.
10. Nguyễn Khuê, Giáo trình chữ Nôm (Lưu hành nội bộ), khoa Ngữ Văn Đại học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh.1987.
11. Nguyễn Tuấn Cường, Bước đầu khảo sát cấu trúc chữ Nôm trong bản “Kim Vân Kiều tân truyện”-Liễu Văn Đường1871 (Khóa luận tốt nghiệp), ĐH KHXH&NV, Hà Nội.2003.