Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện Kiều. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện Kiều. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016
Sách mới: Lý thuyết và thực hành chữ Nôm- nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2016. 346 trang
Phát hành: 0985299535 (chị Măng).
LỜI DẪN
Cuốn sách này là một sản phẩm khoa học mang tính giáo trình, với hai đích đến là lý thuyết và các phương diện thực hành giải đọc văn bản chữ Nôm. Mặc dù cho đến nay, nhiều hệ vấn đề trong nghiên cứu và giảng dạy chữ Nôm đã được xuất bản, song nhu cầu của xã hội vẫn luôn cần phải có những bài giảng nhập môn để hướng dẫn sinh viên cũng như nhiều người ham mê văn hóa cổ truyền đi vào lĩnh vực đặc sắc của văn hóa chữ Nôm.
Lý thuyết và thực hành chữ Nôm là cuốn giáo trình dành cho mọi đối tượng muốn tìm hiểu về chữ Nôm, cũng như tiếng Việt và văn hóa cổ truyền của Việt Nam. Đây là sản phẩm tích lũy từ kinh nghiệm giảng dạy thực tế của các tác giả tại một số trường đại học, như Đại học Sư Phạm, Đại học Văn hóa, Đại học Tây Bắc, Đại học Khoa học Huế, Học viện Phật giáo Việt Nam... trong sự tham chiếu với các giáo trình trước nay đã được giảng dạy tại Đại học Đà Nẵng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh)… Như thế, cuốn sách này ra đời như một nỗ lực tích hợp các khung giáo trình chữ Nôm của nhiều chuyên ngành khác nhau trong các trường Đại học trên toàn quốc.
Kỳ vọng của cuốn sách là muốn đưa ra một bức tranh tương đối tổng quát về chức năng và vị trí của chữ Nôm trong đời sống văn hóa của người Việt Nam xưa. Tính tổng quát đa dụng của chữ Nôm được thể hiện ở sự đa dạng trong phương diện nội dung, như: các thể tài văn học (thơ, phú, chuyện tiếu lâm, tục ngữ ca dao...), các tác phẩm dịch thuật kinh điển tôn giáo (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo), các văn bản hành chính (dụ, hịch), các văn bản diễn xướng cổ truyền (tuồng, ca trù), các văn bản tín ngưỡng dân gian (thần tích, hương ước,...), các tác phẩm mỹ thuật (tranh Đông Hồ, tranh đồ họa), và các văn bản sử kí, luật, địa lí phong thủy... Cuốn sách này, vì thế, không chỉ giới thiệu những đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, mà còn muốn trở thành một chiếc chìa khóa để mọi người có thể mở cánh cửa vào một thế giới văn hóa chứa đựng trong kho tàng di sản chữ Nôm của người Việt.
Như một thực tế, lý thuyết là vấn đề không thể thiếu trong bất kì một chuyên môn khoa học nào. Vì thế, cuốn sách này mở đầu bằng năm bài giới thiệu về những vấn đề cơ bản của chữ Nôm, bao gồm: nhập môn lý thuyết chữ Nôm, thời kỳ xuất hiện chữ Nôm, các loại hình văn bản chữ Nôm, phân kỳ lịch sử chữ Nôm và cấu trúc chữ Nôm. Các bài học này phần lớn đều hướng đến tổng thuật các thành tựu nghiên cứu cũng như lịch sử vấn đề nghiên cứu trong hơn một trăm năm qua. Nhiều người sẽ nghĩ, cách viết hàn lâm như vậy sẽ không phải là cách viết của một giáo trình như quan niệm thường thấy ở Việt Nam. Sự trích dẫn các nguồn tri thức, các thành tựu của nền Nôm học, nhìn bề ngoài có vẻ như rắc rối, nhưng thực ra đó là một phương cách cần phải có để các soạn giả cũng như người học tránh được những vi phạm về liêm chính học thuật. Phần lý thuyết chỉ giới thiệu những khái niệm cơ bản của nghiên cứu chữ Nôm, trong đó bài 3 liên quan đến vấn đề cấu trúc tổng quan của các bài khóa, đó là các loại hình văn bản Nôm với môi trường hành chức tương ứng. Bài 4 (phân kì lịch sử), có liên đới đến bài 2 (thời kì xuất hiện), đó là những phác thảo về lịch sử chữ Nôm như một yếu tố cơ hữu của lịch sử văn hiến Việt Nam. Bài 5 (cấu trúc chữ Nôm), ngoài việc nêu danh các học giả tiền bối và các mô hình phân loại trước đây, cũng sẽ đưa ra một phân loại riêng của cuốn sách này. Đây chính là xương sống của toàn bộ các bài khóa trong giáo trình, và đây cũng là trọng tâm mà các tác giả muốn hướng đến người sơ cơ nhập học. Bởi dẫu sao, văn tự học chữ Nôm là một khoa học mà những kĩ năng giải độc các văn bản Nôm và phân tích cấu trúc văn tự là những tri thức nền tảng cơ bản.
Như trên đã nói, giáo trình này muốn đưa ra một bức tranh tương đối tổng quát về các cạnh khía, các khả năng diễn đạt, các khả năng hành chức và các loại hình văn bản chữ Nôm trong lịch sử. Một kết cấu đa tầng được đưa ra ở đây. Các bài khóa vừa thể hiện sự phong phú của các vật liệu định hình văn bản (giấy, gỗ, đá, đồng, gốm sứ), vừa thể hiện sự cân đối trong các môi trường hành chức (giáo dục, dịch thuật, hành chính, tôn giáo, luật pháp, văn hóa), vừa thể hiện sự phong phú của các thể loại văn học (thơ, phú, văn xuôi, ca dao, tục ngữ,…) các loại hình nghệ thuật (văn chương, diễn xướng, hội họa…), vừa phản ánh sự đa dạng của nội dung (lịch sử, địa lý, phong tục,…). Không những thế, cuốn sách cũng cố gắng giới thiệu các văn bản của văn hóa vùng miền, như tờ dụ của Nguyễn Ánh, hay tuồng Trương Ngáo truyện thuộc phạm vi văn hóa Nam bộ; thơ Nôm, thần tích, diễn ca lịch sử của văn hóa Bắc bộ, Tư Dung vãn, Hải môn ca, châu bản Nôm thời Gia Long, bài ca trù ở Ngũ Hành sơn là của văn hóa Trung bộ…
Mặc dù đã rất cố gắng, song các soạn giả vẫn chưa thể bao quát hết được các chiều kích của văn hóa Hán Nôm, và cũng chưa thể nào nêu ra hết các viên ngọc quý của kho tàng văn hóa chữ Nôm. Thêm nữa, cuốn sách cũng sẽ không tránh được sai sót, rất mong được quý độc giả bổ chính, để chúng tôi có thể sửa chữa, bổ sung trong tương lai.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thay mặt các soạn giả
Trần Trọng Dương
MỤC LỤC
Mục lục i
Kí hiệu viết tắt ii
Lời giới thiệu iv
Lời dẫn 7
Bài 1: Nhập môn lý thuyết chữ Nôm 10
Bài 2: Thời kỳ xuất hiện chữ Nôm 24
Bài 3: Loại hình văn bản chữ Nôm 51
Bài 4: Phân kỳ lịch sử chữ Nôm 62
Bài 5: Cấu trúc chữ Nôm 68
Bài 6: Số đếm, ngày tháng 83
Bài 7: Chữ Nôm trên tranh Đông Hồ 91
Bài 8: Chữ Nôm trên tranh Henri Oger 95
Bài 9: Từ điển đối chiếu Hán Nôm 98
Bài 10: Câu đối chữ Nôm 112
Bài 11: Tục ngữ ca dao Nôm 121
Bài 12: Truyện cười Nôm 125
Bài 13: Thơ Nôm dân gian 127
Bài 14: Thơ Nôm Nguyễn Trãi 133
Bài 15: Thơ Nôm Đoàn Thị Điểm 139
Bài 16: Thơ Nôm Nguyễn Du 148
Bài 17: Thần tích Nôm 157
Bài 18: Tờ trình Nôm 165
Bài 19: Hương ước Nôm 178
Bài 20: Sử kí Nôm 193
Bài 21: Diễn ca lịch sử Nôm 200
Bài 22: Văn bia Nôm 214
Bài 23: Biển gỗ Nôm 224
Bài 24: Ma nhai Nôm 229
Bài 25: Thơ Nôm trên đồ sứ 233
Bài 26: Tờ dụ Nôm 238
Bài 27: Hịch Nôm 244
Bài 28: Sách địa lý Nôm 251
Bài 29: Dịch Nôm kinh điển Phật giáo 262
Bài 30: Dịch Nôm kinh điển Nho giáo 274
Bài 31: Dịch Nôm kinh điển Thiên Chúa giáo 281
Bài 32: Văn bản luật Nôm 287
Bài 33: Tuồng Nôm 295
Bài 34: Hải môn ca 307
Bài 35: Ca trù Nôm 318
Sách dẫn (Index) 323
Thư mục tài liệu tham khảo 328
LỜI GIỚI THIỆU
Theo nghĩa nghiêm ngặt, “chữ Nôm” trỏ các loại hình chữ vuông được sáng tạo dựa trên cơ sở chất liệu chữ Hán, có bổ sung những đặc điểm mang tính đặc thù của ngôn ngữ và văn tự Việt Nam. Theo tư liệu hiện biết, trong lịch sử Việt Nam đã tồn tại ít nhất bốn loại chữ Nôm ghi chép ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau, gồm Nôm Việt (còn gọi Nôm Kinh), Nôm Tày, Nôm Dao, Nôm Ngạn. Trong đó, văn tự phổ biến nhất và quan trọng hơn cả đối với lịch sử văn hoá Việt Nam chính là chữ Nôm Việt. Vì vậy, trừ trường hợp cần phân biệt với các loại chữ Nôm khác, giới học thuật thường chỉ nói “chữ Nôm” và hiểu là “chữ Nôm Việt”, tức là chữ Nôm ghi tiếng Việt.
Mặc dù có lịch sử tồn tại cả nghìn năm, nhưng chữ Nôm mới được quan tâm nghiên cứu trong khoảng một trăm năm trở lại đây, và từ thập niên 1970 thì chữ Nôm ngày càng thu hút được sự quan tâm của đông đảo học giả trong và ngoài nước, với vài chục chuyên khảo và hàng ngàn bài nghiên cứu. Thậm chí, vào năm 1999, một nhóm trí thức Hoa Kì và Việt Kiều đã phối hợp thành lập “Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm” (The Vietnamese Nôm Preservation Foundation - VNPF) đặt trụ sở tại Tiểu bang North Carolina (xem website nomfoundation.org). Hai cuộc hội thảo quốc tế với quy mô lớn về chữ Nôm do VNPF phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức tại Hà Nội (2004) và Huế (2006) cũng đã phần nào cho thấy giới học thuật trong và ngoài nước đều rất quan tâm tới loại hình văn tự dân tộc này.
Chữ Nôm quan trọng là thế, nhưng nó sẽ ngày càng phai nhạt nếu không có người học và hiểu chữ Nôm. Thế hệ các nhà Hán học kinh qua khoa cử, giỏi chữ Hán chữ Nôm đã ngày càng mai một. Cho nên, để chữ Nôm tiếp tục mạch sống trong văn hoá hiện nay và mai sau, rất cần thiết phải có những bộ giáo trình giảng dạy chữ Nôm, để những người quan tâm đến loại hình văn tự này, cũng như quan tâm tới văn hoá truyền thống có điều kiện tìm hiểu, học hỏi, tích luỹ kiến thức, từ đó chuyển mã và giải mã hàng ngàn văn bản chữ Nôm hiện còn trong các kho sách Hán Nôm và trong dân gian.
Để đáp ứng nhu cầu dạy và học chữ Nôm, một số cơ sở đào tạo của Việt Nam đã tổ chức biên soạn được nhiều loại tài liệu giảng dạy chữ Nôm, là giáo trình hoặc mang dáng dấp giáo trình, ít nhiều có tính chất “trường phái” trong quan điểm tiếp cận với vấn đề chữ Nôm. Có thể nhắc tới các công trình của Bửu Cầm (trước 1975), Đào Duy Anh (1975), Lê Văn Quán (1981, 1989), Nguyễn Tài Cẩn (1985), Phan Văn Các chủ biên (1985), Nguyễn Ngọc San (1987), Nguyễn Khuê (1987 - 1988), Vũ Văn Kính (1995), Lê Nguyễn Lưu (2002), Lê Anh Tuấn (2003), Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2004), Nguyễn Tá Nhí chủ biên (2008), Nguyễn Quang Hồng (2008)…
Kế tục truyền thống biên soạn giáo trình chữ Nôm kể trên, cuốn sách Lý thuyết và thực hành chữ Nôm này là kết quả đúc rút lại sau cả chục năm nghiên cứu và giảng dạy chữ Nôm ở bậc đại học của ba nhà giáo, nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương, Phạm Thị Thảo và Hà Đăng Việt. Ba học giả này, bằng niềm say mê với văn hoá và văn hiến dân tộc, đã tích luỹ được một vốn tri thức sâu dày về chữ Nôm và văn bản Nôm vốn được họ tiếp thu từ các nhà nghiên cứu tiền bối, kết hợp với sức làm việc bền bỉ, lại tham khảo được nhiều nguồn tài liệu nước ngoài, họ đã thành công trong việc biên soạn nên một bộ giáo trình chữ Nôm nhìn từ cả bình diện lí thuyết và thực hành, trong đó mảng thực hành được coi trọng hơn.
Trong cuốn sách này, phần lý thuyết gồm 5 bài, điểm qua các vấn đề căn bản nhất về chữ Nôm, gồm: khái niệm chữ Nôm, thời kì xuất hiện của chữ Nôm, các loại hình văn bản chữ Nôm, phân kì lịch sử chữ Nôm, cấu trúc chữ Nôm. Các chú thích chân trang (footnote) khá chi tiết sẽ là nguồn chỉ dẫn tài liệu để độc giả có thể mở rộng phạm vi tìm hiểu về chữ Nôm. Từ bài 6 trở đi là phần thực hành, mỗi đơn vị bài gồm bài khoá (một văn bản hoặc một đoạn văn bản chữ Nôm đánh máy vi tính), phiên âm, chữ mới, chú giảng, bài tập, và ảnh ấn nguyên bản chữ Nôm. Các bài thực hành đã nỗ lực bao quát mọi khả năng hành chức của chữ Nôm trong đời sống văn hóa: tuồng, ca trù, thư từ, giao kèo, bi kí, văn học, từ điển song ngữ, các văn bản hành chính, văn bản dịch thuật tôn giáo...; được thể hiện trên nhiều loại hình vật liệu như giấy, gỗ, đá, gốm sứ...; từ đó cung cấp cho độc giả một cái nhìn đa diện đối với chữ Nôm xét từ các khía cạnh loại hình văn bản, nội dung tác phẩm, công cụ định hình ngôn từ, và phương thức định hình ngôn từ.
Cuốn sách này sau khi vấn thế sẽ là giáo trình tham khảo đắc dụng đối với người học các ngành Hán Nôm, ngữ văn, văn học, ngôn ngữ, du lịch, thư viện, bảo tồn bảo tàng, di sản văn hoá, lịch sử văn hoá…
Trân trọng cảm ơn các tác giả đã cho tôi niềm vinh hạnh được viết vài lời để giới thiệu cuốn sách này tới quý vị độc giả.
Hà Nội, mùa hè năm 2016
TS. Nguyễn Tuấn Cường
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012
Từ nguyên của "thiết tha", "thướt tha"?
‘THIẾT THA’ hay ‘THƯỚT THA’?
Trần Trọng Dương
đã đăng: “Thiết tha” hay “thướt tha”? Thông báo Hán Nôm học. 2007. Nxb KHXH. Hà Nội.
Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu đang tiến hành đi tìm nguyên tác Truyện Kiều để “tiến tới những bản phiên âm thể hiện được nguyên dạng của tác phẩm về âm đọc, ngữ nghĩa và ý đồ sáng tác của tác giả, từ đó mà chú giải, khảo luận hướng dẫn người đọc hiểu đúng các bản phiên âm hiện hành.” [Nguyễn Tài Cẩn 2004:375]. Có hai xu hướng đi tìm nguyên tác Truyện Kiều chủ yếu sau: 1.Xu hướng khai thác/ phục nguyên từ ngữ cổ tiếng Việt; 2.Xu hướng so sánh các bản Kiều Nôm cổ, thống kê các chữ cùng xuất hiện trong nhiều văn bản Nôm cổ. Đại diện cho xu hướng thứ hai là cuốn Tư liệu Truyện Kiều-từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn do nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học ấn hành năm 2004. Theo xu hướng thứ nhất là một số bài viết của các học giả trong và ngoài nước như Nguyễn Tài Cẩn, An Chi, Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Tuấn Cường…
Gần đây, chúng tôi cũng đã công bố hai bài viết về vấn đề từ cổ trong Truyện Kiều qua trường hợp chữ THƠ RƠ. Hai bài viết trên đều dùng phương pháp tìm các khả năng biến âm của thanh phù để tìm ra âm đọc của chữ thông qua tra cứu từ vựng ở các bộ từ điển cổ. Phương pháp này có ưu thế ở chỗ: nó có thể giúp người đọc khảo sát hầu như toàn bộ các khả năng đọc có thể xảy ra (trên lý thuyết), và kiểm chứng các khả năng ấy thông qua sự ghi nhận của từ điển. Ví như trường hợp của chữ THƠ RƠ, từ trước đến nay từ này vẫn được phiên là Lơ thơ hay Tha la. Từ việc khảo sát các tự dạng Nôm, chúng tôi đưa ra 1456 khả năng đọc của mã chữ và kiểm tra các khả năng ấy qua tra cứu các từ điển cổ. Kết quả là chúng tôi chứng minh được rằng Tha la là cách phiên sai lầm theo mặt chữ bắt đầu từ từ điển Génibrel và Tha la không hề xuất hiện trong bất cứ một cuốn từ điển nào trước hay cùng thời với nó; Lơ thơ với nghĩa “rủ xuống” cũng không hề xuất hiện trong bất cứ một cuốn từ điển cổ nào, Lơ thơ là một từ mới xuất hiện vào quãng đầu thế kỷ XX (1931), và Thơ rơ hay Rơ thơ là cách đọc cổ của từ lơ thơ qua sự ghi nhận một cách có hệ thống của các từ điển từ A. de Rhodes, Taberd, Bỉ Nhu đến Huình Tịnh Của.
Trong bài viết này, chúng tôi cũng thử phục nguyên một từ cổ thông qua phương pháp trên. Đó là các trường hợp Thướt tha.
Thướt tha là từ xuất hiện hai lần trong Truyện Kiều ở các vị trí câu: Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, 170; Dưới đào dường có dáng người thướt tha, 290. Trước tiên, chúng tôi khảo sát tự dạng Nôm của chữ này qua một số bản Nôm cổ. Kết quả như sau:
Qua 12 bản Nôm và Quốc ngữ cổ ta thấy rằng: tại vị trí câu 170 có 4 dị bản, trong đó thướt tha切 他 xuất hiện 2 lần, La tha羅他 xuất hiện 2 lần, Đã ra xuất hiện 2 lần, còn lại Tha la 他 羅xuất hiện 6 lần tại vị trí câu 290 chỉ có độc bản Thướt tha 切 他. Như biện luận của chúng tôi ở hai bài viết trước thì đã ra 乑 歮 là cách viết sai của他 羅Thơ rơ. Thướt tha切 他 chỉ xuất hiện hai lần (so với 6 lần của Tha la 他 羅). Chúng tôi tạm đưa ra khả năng rằng: Thướt tha切 他 cũng là cách viết sai khác của 羅他rơ thơ. Và như vậy, tại vị trí câu 170 chỉ có thể đọc là: Bên cầu tơ liễu bóng chiều THƠ RƠ[1]/ RƠ THƠ [xem Trần Trọng Dương 2006a, 2006b].
Trở lại với vị trí 290, chúng tôi thấy việc xuất hiện các mã chữ Nôm và các bản phiên âm của câu này khá thống nhất. Với sự khảo sát của mình, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn liệt câu này vào loại nguyên bản do chính Nguyễn Du viết vì không hề có dị bản. Ở đây, ta không còn phải biện luận gì về tự dạng của chữ Nôm cả. Vấn đề là ở âm đọc. Chữ này vốn âm Hán Việt gồm có: 切đọc là thiết và 他đọc là tha. Khâu tiếp theo, chúng tôi thử kiểm tra các khả năng biến âm của hai âm này. Cụ thể như bảng dưới đây:
Bảng: các khả năng biến âm của THIẾT
Các khả năng đọc của Thiết = các khả năng biến âm của Th (10) x các khả năng biến âm của iết (11) = 110.
Các khả năng đọc của Tha = các khả năng biến âm của Th (10) x các khả năng biến âm của a (07) = 70.
Các khả năng đọc của Thiết tha = Các khả năng đọc của Thiết x Các khả năng đọc của Tha = 110 x 70 = 7700.
Để kiểm tra xem các khả năng đọc trên có xảy ra trên thực tế hay không, chúng tôi tiến hành tra cứu thông qua các bộ từ điển cổ. Kết quả là: âm Thướt tha và các âm khác không hề được ghi nhận trong bất cứ từ điển cổ nào. Từ này xuất hiện lần đầu trong Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức: “Thướt tha. Trỏ bộ dài lê thê.” [1931:588]. Tiếp đó là đến G. Hue: “Gracieux, svelte. Thướt tha. Tha thướt” [1044]. Đào Văn Tập: “Thướt tha. Chỉ dáng dài mà uyển chuyển” [612]. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học: “Có dáng cao rủ dài xuống, chuyển động một cách mềm mại uyển chuyển.” [945]. Từ điển truyện Kiều: “THƯỚT THA (2): hình dung vật gì dài rủ xuống có vẻ kéo lê thê. Thượt là trong dài thượt. Về cấu tạo từ. xem Dần dà. Td. Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, 170; Dưới đào dường có dáng người thướt tha, 290” [471].
Trong khi đó, âm Thiết tha lại được ghi nhận khá đều đặn bắt đầu từ từ điển của Bỉ Nhu: “Thiết tha切 磋 .cn. ráo riết, lắm, nhiều lắm.” [466], đến Taberd: “Thiết tha切 磋 . Vehementer. Rất, kịch liệt.”[495] và cuối cùng là Huình Tịnh Paulus Của: “Thiết tha. lắm lắm, bức lắm, ngặt lắm, cần kíp lắm.”[1010]. Tự điển Chữ Nôm ghi: “khẩn khoản, da diết, Hết mức, ráo riết.” [2006:1091]. Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức ghi: “thiết tha để ý đến vì thương yêu (già rồi, tui không còn thiết tha chi nữa. “đi hay ở vẫn thiết tha với Huế, vẫn bao lần nghe Huế nhói trong tim”- thơ Tô Kiều Ngân). Nghĩa xưa là đau đớn xót xa hoặc mức độ cao (đau đớn thiết tha, giận thiết tha). Từ cổ.P.Của.” [2004:866] Từ điển này không thấy ghi nhận chữ “thướt tha”.
Như vậy, theo sự ghi nhận của các từ điển trên, từ thiết tha là trạng từ hoặc tính từ. Để khảo sát sự hoạt động của từ này như thế nào, chúng tôi tạm khảo sát một số văn cảnh trong các văn bản cổ.
1.Thiết tha là trạng từ chỉ mức độ trong các câu: “xú phụ: vợ xấu thiết tha” trong Chỉ nam ngọc âm (tr.7b), “nghe chàng năn nỉ thiết tha” trong Phan trần (tr.69a). 2.Thiết tha là tính từ trong các câu “cảnh buồn người thiết tha lòng” trong Chinh phụ ngâm (16a), “Thiết tha ban tối khoe khoang nửa ngày” trong Nhị độ mai (tr.17b), “tiếng quạ bay kêu giọng thiết tha” trong Vị thành giai cú tập biên (tr.18a). Nếu là một trạng từ, thiết tha thường đứng sau tính từ vị ngữ, hay động từ vị ngữ. Nếu là một tính từ, từ này thường làm vị ngữ hay làm định ngữ cho danh từ.
Chữ thiết tha trong câu 290 “dưới đào dường có bóng người thiết tha” nên chăng là một tính từ. Tính từ vị ngữ này làm khu biệt và xác định tính chất, đặc điểm của danh từ “bóng người” đứng trước nó. Vậy nét nghĩa của chữ thiết tha ở đây là gì? Theo chúng tôi, đây có lẽ là một tính từ chỉ sự di chuyển nhanh, gấp, thấp thoáng, ẩn hiện. Với nét nghĩa như thế nó sẽ hô ứng với chữ “dường thấy” hết sức mong manh ở trên. Vì đây là đoạn tả tâm trạng chàng Kim Trọng lúc lân la chuyển đến làm hàng xóm với Vương gia, để “tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông”, nhưng “tấc gang động tỏa nguyên phong, tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra”. Thế rồi, một buổi thấy dáng kiều thấp thoáng, “buông cầm xốc áo vội ra, hương còn thơm nức người đà vắng tanh”, chỉ có một chiếc kim thoa vướng trên cành đào. Người đẹp đi dạo thưởng hoa nhanh vậy! Nhưng cái thấp thoáng dáng kiều ấy, cái mùi hương khuê nữ ấy đã nhuốm màu tâm trạng của con người si tình kia rồi.
Sự tồn tại và diễn biến của THƯỚT THA, THIẾT THA
trong một số từ điển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Alexandro De Rhodes.1651. Dictionarivm Annamiticivm- Lusitanvm- Latinvm Sacre Congragationis de Propagada fide Cardinales. ROME. (Từ điển Việt- Bồ- La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. Khoa học Xã hội. 1994.
Đào Duy Anh.1987. Từ điển Truyện Kiều, Phan Ngọc bổ sung sửa chữa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Gustave Hue.1937. Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (chụp theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa, 1937)
Hội Khai trí Tiến đức.1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van. Mặc Lâm xuất bản.
Huình Tịnh Paulus Của.1895-1896. “大 南 國 音字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4. 1895-1896; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896).
J.F.M. Génibrel.1898. Dictionaire Annamite- Francais, Imprimerie de la Mission à Tân Định.
L.J. Taberd.1838. Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore.
Nguyễn Ngọc San & Đinh Văn Thiện. 2003. Từ điển từ Việt cổ, Nxb. Từ điển Bách khoa. Hà Nội. (lần 01 Nxb. VHTT. H.2001)
Nguyễn Quang Hồng (chủ biên).2006. Tự điển chữ Nôm. Nxb.Giáo dục.1546
Nguyễn Quảng Tuân. 2004. Chữ nghĩa Truyện Kiều. Nxb.Văn Học.Hà Nội.272.
Nguyễn Tài Cẩn. 2004.Tư liệu Truyện Kiều-từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu. Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Hà Nội.637.
Paul Schneider.1993. Dictionnaire historique des ideogrammes Vietnamiens, Domaine Carlone- 98, boulevard Edouard Heriot- BP 209- 06204 NICE Cedex 3 (France), Nice.
Pierre Pegneaux de Béhaine.1772-1773. Dictionarium Anamitico Latinum (Tự vị An nam La tinh), bản chép tay.
Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu). 1772-1773. Tự vị An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum 1772- 1773), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu. Nxb.Trẻ. 1999.
Thanh Nghị.1951.Việt Nam tân từ điển. Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon.
Trần Trọng Dương.2006a, Đi tìm âm đọc cổ cho hai chữ LƠ THƠ, t.c Hán Nôm số 03. Tr 44-53.
Trần Trọng Dương.2006b, Thử tầm nguyên hai chữ THA LA, The international conference on Nom Script, www.nomfoundation.org .
--------------------------------------------------------------------------------
[1] A. de. Rhodes ghi: “Cây thơ rơ: cây không có lá, trụi lá.” [1651: 223]. Từ điển của Bá Đa Lộc Bỉ Nhu cũng ghi: “撪冟3 Thơ rơ. Cây trụi lá.” [1773: 470]. Từ điển Taberd cũng ghi: “撪囉 thơ rơ, arbor foliis expoliata.” [1838: 499]. Tra trong từ điển của Huình Tịnh Paulus Của thì thấy: “盧 lơ thơ: xơ rơ, thưa thớt” [1895 - 1896:573], “撪xơ .n. Rã rời, tan tác, còn cái xác không, cái bã không, cái vỏ không. Xơ xơ: rách rã, tơi bời, tan tác. Xơ rơ (xác rác): thưa thớt còi cụt, trơ trọi, còn nhánh không, (cây cối). Bão bùng cành ngọn xơ rơ.” [1895 – 1896: 1198]; “撪 rơ,… xơ rơ: thưa thớt, xờ xạc. (cây cỏ)” [1895 – 1896:874]; “Thơ rơ: xơ rơ thưa thớt, như cây mùa đông, nhánh lá xơ rơ. Thơ thơ. id.” [1895 – 1896: 1018]. Từ điển Tiếng Huế: “Thơ rơ (xơ rơ) cây trụi lá, nghĩa bóng vẻ thiểu não (Cây thầu dầu thơ rơ, dáng điệu anh cũng xơ rơ in nhau)[2004:874].
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
