Về mặt từ nguyên, thì "săng" có lẽ là một từ gốc Nam Á, ( có loại cây gọi là Săng lẻ ở Tây Nguyên?). Tiếng Mường có các từ chỉ gỗ như "kơn, gỗ, săng"[xem Nguyễn Văn Tài 2006: 225].
Từ điển "Chỉ Nam ngọc âm" thế kỷ XVI-XVII ghi: "MAO THỨ: tranh săng lợp qua" (26a), "LUÂN TÀI: thợ khéo chọn săng" (tr.34b), "MỘC TƯỢNG: tạc làm tượng săng" (44b), "ÁP MỘC: khéo tiện cây đầu nên săng"(63a).
Từ điển của A de RHodes ghi: "săng: gỗ, cây. Gỗ: cùng một nghĩa. săng cỏ: cây và cỏ. Blanh săng: tranh dùng để lợp nhà, nhưng không phải là rơm lúa" [tb1994: 201].
Sách "Lý hạng ca dao" thế kỷ XIX ghi: "đục đến chạm, chạm đến săng" (3b)
Từ nghĩa này nên mới có, "săng" là trỏ cái hòm bằng GỖ để chôn người chết,
kiểu như chữ "tầu sáu ván" của ta ngày nay.
Từ điển của A de RHodes ghi: "Săng: hòm, săng dùng để chôn người chết. Cái săng, cái quan: cùng một nghĩa. Áo săng: tấm vải phủ hòm, săng" [tb1994: 201].
Từ điển của Huình Tịnh Của cuối tkXIX ghi
"săng: hòm chôn người ta. Muốn ăn thì lăn vào bếp, muốn chết thì lết vào săng: muốn cho có mà ăn thì phải chịu khó nhọc"[tr.900]. Từ đển Tự Đức thánh chế cũng ghi nhận "cái săng" (q.IV, tr 19b)
"Việt Nam tự điển" của hội Khai trí Tiến Đức ghi cả hai nghĩa, trong đo có bổ sung một số ngữ liệu: "hàng săng chết bó chiếu" t.ng, "Bán hàng như bán hàng săng, ai mua thì bán chẳng rằng mời ai" cd. (1931: 485.)
Từ thế kỷ XV về trước, có lẽ từ SĂNG là một từ có tổ hợp phụ âm đầu,
đọc là *khlăng.
Cứ liệu để đi đến nhận định này là hai dạng chữ Nôm dùng thanh phù "lăng棱" và thanh phù "khang 康".
Lưu tích của nó hiện còn trong từ "khăng" (trò chơi của trẻ em, dùng các đoạn GỖ mà đánh). "Đánh khăng" là "đánh gỗ" vậy.
Phương ngữ Bình trị Thiên có săng (gỗ) [Võ Xuân Trang 1997: 264]
như vậy, câu "bật săng văng tiểu" nghĩa là "bật nắp quan tài và quật tiểu lên",
Câu này liên quan đến "văn hóa quật mả":), trong các cuộc chiến tranh, đều có hiện tượng này, Ví dụ như vua Trần Nhân Tông sau chiến thắng quân Nguyên về thăm lăng mộ, thái miếu đã từng thốt rằng: "xã tắc hai phen chồn ngựa đá" (ngựa ở lăng mộ). cái này cần khảo thêm các tư liệu ở Đại việt sử ký toàn thư và các bộ sử khác.
Hay việc nhà Nguyễn quật mả Quang Trung, Ngọc Hân,...
những việc như thế rất nhiều.
Hiển thị các bài đăng có nhãn từ nguyên học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn từ nguyên học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012
Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012
từ nguyên của "nhà quan", "nhà nước", "nhà vua"
nhà quan ◎ Nôm:
dt. lời bề tôi tôn xưng nhà vua, dịch chữ quan gia 官家. Sách Tư trị thông giám資治通鑒phần Tấn Thành đế Hàm Khang tam niên晉成帝咸康三年do Hồ Tam Tỉnh 胡三省chú: 西漢謂天子為縣官,東漢謂天子為國家,故兼而稱之。或曰:五帝官天下,三王家天下,故兼稱之”. (đời Tây Hán gọi Thiên tử là Huyện quan, đời Đông Hán gọi là Quốc gia, nên gộp xưng là quan gia. Có người cho rằng: Ngũ đế cai quản (官) thiên hạ, Tam vương đặt định (家) thiên hạ, nên gọi vậy). ẩn cả lọ chi thành thị nữa, Nào đâu là chẳng đất nhà quan. (Ngôn chí 17.8). dịch câu 普天之下,莫非王土,率土之濱,莫非王臣 phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ, suất thổ chi tân, mạc phi vương thần (dưới khắp gầm trời, đâu chẳng đất vua, trên mọi bến bờ, ai không thần tử) [Kinh thi]. Ăn lộc nhà quan chịu việc quan, Chớ tham tiểu lợi phải gian nan. (Bảo kính cảnh giới 144.1). Tương tự, nhà vua < vương gia王家, nhà nước < quốc gia國家.
(trích Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển)
xem thêm:
TÌM HIỂU Ý NGHĨA HAI MÃ CHỮ QUỐC GIA (國家) THỜI TRẦN THÁI TÔNG
TS. Phạm Văn Thắm (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
Có thể nói, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho thần dân gọi vua bằng Quốc gia. Hai chữ Quốc gia đã thể hiện quan niệm và trách nhiệm của nhà vua đối với đất nước Đại Việt.
Nhà Trần, bắt đầu từ Trần Cảnh lên ngôi vua vào ngày 12 tháng 12 năm 1225 đã không ngừng thực thi các chính sách trị nước để củng cố ngôi vị, trong đó có việc qui định cách xưng hô. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 18 (1250), nhà vua đã xuống chiếu cho thiên hạ 稱帝為國家.(Đại Việt sử ký toàn thư, bản chữ Hán khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tr.175, tờ 16a-b). Khi chuyển mệnh đề này sang Việt văn, có bản dịch để nguyên âm Hán Việt là Quốc gia và không có lời giải thích (1). Có bản dịch đã chữa chữ Quốc (國) thành Quan (官) và có chú giải (2). Về hai mã chữ này, chúng tôi xin được nêu ý kiến như sau:
1. Về thời gian thực thi cách gọi vua là Quốc gia (國家) và thời điểm xuất hiện cách gọi vua là Quan gia (官家)
1.1. Về thời gian thực thi cách gọi vua là Quốc gia (國家).
Chúng ta biết rằng vua Trần Thái Tông lên ngôi vua vào ngày 12 tháng 12 năm 1225, ở ngôi 33 năm, nhường ngôi 19 năm, mất năm 1278. Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 18 (1250) nhà vua đã xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua bằng Quốc gia (國家). Qui định gọi vua bằng Quốc gia lẽ dĩ nhiên được thực thi trong thời gian Trần Thái Tông ở ngôi đến năm 1258. Cách gọi vua bằng Quốc gia có được tiếp tục thực hiện trong thời gian vua Trần Thái Tông nhường ngôi làm Thái Thượng hoàng hay không ? Hiện chưa đủ tư liệu để khảo cứu. Nhưng cách gọi vua bằng Quốc gia được tồn tại trong 9 năm (1250-1258).
1.2. Về thời điểm xuất hiện cách gọi Quan gia (官家)
Cho đến nay, chưa thấy tư liệu nào ghi chép về qui định gọi vua là Quan gia (官家). Tìm trong sử sách thì thấy có một lần, Trần Thái Tông khi đã nhường ngôi giữ chức Thượng hoàng gọi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đến và muốn trao chức Tư đồ để tiếp sứ Bắc. Trần Quốc Tuấn trả lời:
與接之使者臣不敢辭。如拜司徒則臣不敢奉詔。況官家遠征,光啟浥從而陛下自行封拜,上下情意恐有未安不慡官家和光啟之意, 俟架回拜命不晚.
(Đại Việt sử ký toàn thư, bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tr.200, tờ 1a-b).
Phiên âm: Dự tiếp chi sứ giả, thần bất cảm từ. Như bái Tư đồ tắc thần bất cảm phụng chiếu. Huống Quan gia viễn chinh, Quang Khải ấp tòng nhi bệ hạ tự hành phong bái, thượng hạ tình ý khủng hữu vị an bất sảng Quan gia hòa Quang Khải chi ý. Sĩ giá hồi bái mệnh vị vãn.
Dịch nghĩa: Dự tiếp sứ giả, thần không giám từ chối. Còn như thăng chức Tư đồ, thần không giám vâng chiếu, [vì] Quan gia đi đánh giặc phương xa, Quang Khải đi theo hộ giá mà bệ hạ tự làm việc phong chức, [e] lòng người trên dưới sợ có chỗ không yên và cũng không vừa ý Quan gia và Quang Khải. Đợi xa giá trở về, việc phong chức cũng chưa muộn.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vua Trần Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc phương xa vào năm Bảo Phù thứ 5 (1277). Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm Bảo Phù thứ 5 (1277), vua Trần Thánh Tông, một lần hỏi Uy Văn Vương Toại (3) về nghĩa của từ Quan gia, Uy Văn Vương Toại đáp:
五帝官天下,三王家天下。故曰官家"Ngũ đế quan thiên hạ, tam vương gia thiên hạ. Cố viết quan gia" (Thời ngũ đế coi thiên hạ là của chung, thời tam vương coi thiên hạ là nhà chung (4) (Đại Việt sử ký toàn thư, bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tr.186, tờ 37a-b). Cho nên gọi là Quan gia. Vua Trần Thánh Tông đã khen Uy Văn Vương Toại có kiến thức rộng.
Từ các cứ liệu nêu trên, cho thấy thời điểm xuất hiện cách gọi vua là Quan gia có thể vào thời Trần Thánh Tông lên ngôi vua ( 1259-1278).
2. Ý nghĩa của hai mã chữ Quốc gia (國家)
Qui định cách gọi vua bằng các thuật ngữ kính trọng có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sử sách chép rằng Tần vương Doanh Chính sau khi tiêu diệt 6 nước Ngụy, Hàn, Triệu, Sở, Yên và Điền Tề thống nhất đất nước cho rằng danh hiệu Vương (王) không thích hợp với ông, bèn lệnh cho quan Thừa tướng và Ngự sử bàn đổi danh hiệu. Các quan xin đổi danh hiệu là Thái hoàng 泰皇. Tần Doanh Chính sau khi xem xét đã hạ lệnh bỏ chữ Thái 泰 để lại chữ Hoàng 皇, lấy chữ đế 帝 thời thượng cổ để ghép lại thành Hoàng đế 皇帝. Ý nguyện của Tần Doanh Chính lấy hiệu Hoàng đế là để công lao sự nghiệp của ông được lưu lại cho con cháu muôn đời.
Tần Doanh Chính sau khi lấy hiệu Hoàng đế, sai bề tôi suy nghĩ đề xuất các nội dung bảo đảm quyền uy hành xử cho Hoàng đế. Trước hết, về cách xưng hô, Hoàng đế tự xưng là Trẫm 朕, mệnh ban ra gọi là chế 制, lệnh ban xuống gọi là chiếu 詔... Đến đời Hán, những qui định bảo đảm quyền uy cho danh vị Hoàng đế được cụ thể hơn. Thiên tử nhà Hán tự xưng là Trẫm. Thần dân gọi Hoàng đế là Bệ hạ 陛下. Lời của Hoàng đế gọi là chế chiếu 制詔, sử quan ghi chép sự việc dâng lên vua gọi là thướng 上. Vật dụng Hoàng đế dùng như xa giá, y phục, khí giới gọi là thừa dư 乘與. Nơi Hoàng đế ở gọi là cấm trung 禁中, ấn 印Hoàng đế dùng gọi là tỷ 壁... Như vậy, một nội dung bảo đảm quyền uy hành xử cho Hoàng đế là cách xưng hô giữa Hoàng đế với dân chúng. Cách xưng hô này biểu thị sự tôn kính giữa thần dân với Hoàng đế. Các vương triều phong kiến Trung Quốc đời sau đều tuân theo qui định này.
Ở Việt Nam, thần dân cũng đã tiếp nhận cách xưng hô gọi vua là bệ hạ. Nhưng cũng có triều đại như vua Lý Thái Tông năm Thiên Thành thứ 7 (1034), xuống chiếu lệnh cho các quan khi tâu việc trước mặt vua thì gọi vua bằng Triều đình (朝庭) (5). Lý Thánh Tông xưng là Vạn Thặng, Lý Cao Tông bảo người gọi vua là Phật (6). Triều đình (朝庭) mang nhiều nét nghĩa, trong đó có nét nghĩa chỉ nơi các quan vào triều nghị việc và cũng có nét nghĩa chỉ chính quyền trung ương giải quyết công việc, và là từ dùng để gọi thay cho từ đế vương. Cách xưng hô này biểu thị sự tập trung, và thâu tóm quyền lực của vương triều Lý.
Về nghĩa của mã chữ Quốc gia, theo Từ điển tiếng Việt thì từ này mang nét nghĩa chỉ nhà nước (Từ điển tiếng Việt. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1999) hay nước hoặc nước nhà (Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, H. 1988). Để tìm hiểu ý nghĩa của hai mã chữ Quốc gia, chúng tôi tiếp cận các sự kiện xảy ra trong thời gian Trần Thái Tông cầm quyền thì thấy:
Việc tổ chức bộ máy nhà nước nhất là việc bổ nhiệm người để thực thi quyền lực, Trần Thái Tông đều dựa theo huyết thống. Theo Đại Việt sử ký toàn thư năm 1226, Trần Thái Tông phong Trần Thủ Độ là chú họ làm Quốc sư, năm 1234 cho Tri Thanh Hóa phủ sự. Tháng 5 năm 1226 phong em là Nhật Hiệu làm Khâm thiên Đại vương. Năm 1228 phong anh là Liễu làm Thái úy, năm 1234 lấy Thái úy Liễu làm Phụ chính. Năm 1236 định quan hàm: Phàm người tôn thất vào chính phủ hoặc là Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Thái úy hoặc là Tư đồ, Tả Hữu tướng quốc đều kiêm hàm Kiểm hiệu đặc tiến nghi đồng tam ty Bình chương sự. Năm 1241, vua Trần Thái Tông phong con trưởng làm Đại vương, con thứ làm Thượng vị hầu.
Về kinh tế, nhà vua thực hiện việc cắt đất phân phong. Năm 1237, Trần Thái Tông đã lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm thang mộc ấp.
Về văn hóa xã hội, quan hệ vua tôi hòa thuận. Năm 1251 vua ban yến ở nội điện, các quan đều dự, khi uống say, mọi người đứng cả dậy dang tay mà hát.
Từ các sự kiện nêu trên, có thể thấy quan niệm của nhà vua về công việc trị vì. Đó là quyền lực được chia sẻ cho dòng họ, đất đai được phân cắt cho anh em. Bổng lộc vua tôi cùng hưởng. Vua Trần Thái Tông lệnh cho thiên hạ gọi vua bằng hai chữ Quốc gia đã thể hiện ý nguyện của nhà vua muốn thần dân biết được quan niệm trị vì của ông và hai mã chữ này cũng thể hiện rõ chức năng của nhà vua đối với công việc xây dựng, bảo vệ đất nước Đại Việt.
Tư tưởng của Trần Thái Tông cũng đã được vua Trần Thánh Tông khi nối ngôi vẫn tiếp tục tinh thần trị vì của vua cha. Có lần Trần Thánh Tông nói với các tôn thất:
Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quí với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc của tông miếu xã tắc (7).
Có thể nói, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho thần dân gọi vua bằng Quốc gia. Hai chữ Quốc gia đã thể hiện quan niệm và trách nhiệm của nhà vua đối với đất nước Đại Việt.
Chú thích:
(1) Đại Việt sử ký toàn thư. T.II, Nxb. KHXH, H. 1971, tr.23.
(2) Nguyên văn chú thích: Quốc gia, ngờ là bản in lầm. Vì Quan gia là tiếng để gọi vua đời Trần thường hay gặp. Chưa có sách nào ghi gọi vua là Quốc gia. Chúng tôi sửa lại. (Đại Việt sử ký toàn thư. Tập II, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.22).
(3) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Uy Văn Vương Toại là chồng của công chúa Thụy Bảo. Công chúa Thụy Bảo là con gái của vua Trần Thái Tông.
(4) Chúng tôi dịch theo cách giải thích của Từ nguyên. Thương vụ ấn thư quán. 1999. Bắc Kinh. Mục từ Quan. tr.444.3
(5) Đại Việt sử ký toàn thư. T.I, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.256.
(6) Đại Việt sử ký toàn thư. T.I, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.256. ghi theo lời bình của sử thần Lê Văn Hưu.
(7) Đại Việt sử ký toàn thư. T.II, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.37.
Tài liệu tham khảo
1- Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. KHXH, H. 1971.
2- Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. KHXH, H. 1998.
3- Từ điển tiếng Việt. Nxb. KHXH, H. 1988.
4- Từ điển tiếng Việt. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1999.
5- 中國官制大辭典。黑龍江人民出版社。1992
6-中國官制史。中國出版集團。東方出版中心。2006
7- 辭源。商務印書館。北京。1999 .
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 6 - 2008
dt.
xem thêm:
TÌM HIỂU Ý NGHĨA HAI MÃ CHỮ QUỐC GIA (國家) THỜI TRẦN THÁI TÔNG
TS. Phạm Văn Thắm (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
Có thể nói, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho thần dân gọi vua bằng Quốc gia. Hai chữ Quốc gia đã thể hiện quan niệm và trách nhiệm của nhà vua đối với đất nước Đại Việt.
Nhà Trần, bắt đầu từ Trần Cảnh lên ngôi vua vào ngày 12 tháng 12 năm 1225 đã không ngừng thực thi các chính sách trị nước để củng cố ngôi vị, trong đó có việc qui định cách xưng hô. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 18 (1250), nhà vua đã xuống chiếu cho thiên hạ 稱帝為國家.(Đại Việt sử ký toàn thư, bản chữ Hán khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tr.175, tờ 16a-b). Khi chuyển mệnh đề này sang Việt văn, có bản dịch để nguyên âm Hán Việt là Quốc gia và không có lời giải thích (1). Có bản dịch đã chữa chữ Quốc (國) thành Quan (官) và có chú giải (2). Về hai mã chữ này, chúng tôi xin được nêu ý kiến như sau:
1. Về thời gian thực thi cách gọi vua là Quốc gia (國家) và thời điểm xuất hiện cách gọi vua là Quan gia (官家)
1.1. Về thời gian thực thi cách gọi vua là Quốc gia (國家).
Chúng ta biết rằng vua Trần Thái Tông lên ngôi vua vào ngày 12 tháng 12 năm 1225, ở ngôi 33 năm, nhường ngôi 19 năm, mất năm 1278. Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 18 (1250) nhà vua đã xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua bằng Quốc gia (國家). Qui định gọi vua bằng Quốc gia lẽ dĩ nhiên được thực thi trong thời gian Trần Thái Tông ở ngôi đến năm 1258. Cách gọi vua bằng Quốc gia có được tiếp tục thực hiện trong thời gian vua Trần Thái Tông nhường ngôi làm Thái Thượng hoàng hay không ? Hiện chưa đủ tư liệu để khảo cứu. Nhưng cách gọi vua bằng Quốc gia được tồn tại trong 9 năm (1250-1258).
1.2. Về thời điểm xuất hiện cách gọi Quan gia (官家)
Cho đến nay, chưa thấy tư liệu nào ghi chép về qui định gọi vua là Quan gia (官家). Tìm trong sử sách thì thấy có một lần, Trần Thái Tông khi đã nhường ngôi giữ chức Thượng hoàng gọi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đến và muốn trao chức Tư đồ để tiếp sứ Bắc. Trần Quốc Tuấn trả lời:
與接之使者臣不敢辭。如拜司徒則臣不敢奉詔。況官家遠征,光啟浥從而陛下自行封拜,上下情意恐有未安不慡官家和光啟之意, 俟架回拜命不晚.
(Đại Việt sử ký toàn thư, bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tr.200, tờ 1a-b).
Phiên âm: Dự tiếp chi sứ giả, thần bất cảm từ. Như bái Tư đồ tắc thần bất cảm phụng chiếu. Huống Quan gia viễn chinh, Quang Khải ấp tòng nhi bệ hạ tự hành phong bái, thượng hạ tình ý khủng hữu vị an bất sảng Quan gia hòa Quang Khải chi ý. Sĩ giá hồi bái mệnh vị vãn.
Dịch nghĩa: Dự tiếp sứ giả, thần không giám từ chối. Còn như thăng chức Tư đồ, thần không giám vâng chiếu, [vì] Quan gia đi đánh giặc phương xa, Quang Khải đi theo hộ giá mà bệ hạ tự làm việc phong chức, [e] lòng người trên dưới sợ có chỗ không yên và cũng không vừa ý Quan gia và Quang Khải. Đợi xa giá trở về, việc phong chức cũng chưa muộn.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vua Trần Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc phương xa vào năm Bảo Phù thứ 5 (1277). Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm Bảo Phù thứ 5 (1277), vua Trần Thánh Tông, một lần hỏi Uy Văn Vương Toại (3) về nghĩa của từ Quan gia, Uy Văn Vương Toại đáp:
五帝官天下,三王家天下。故曰官家"Ngũ đế quan thiên hạ, tam vương gia thiên hạ. Cố viết quan gia" (Thời ngũ đế coi thiên hạ là của chung, thời tam vương coi thiên hạ là nhà chung (4) (Đại Việt sử ký toàn thư, bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tr.186, tờ 37a-b). Cho nên gọi là Quan gia. Vua Trần Thánh Tông đã khen Uy Văn Vương Toại có kiến thức rộng.
Từ các cứ liệu nêu trên, cho thấy thời điểm xuất hiện cách gọi vua là Quan gia có thể vào thời Trần Thánh Tông lên ngôi vua ( 1259-1278).
2. Ý nghĩa của hai mã chữ Quốc gia (國家)
Qui định cách gọi vua bằng các thuật ngữ kính trọng có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sử sách chép rằng Tần vương Doanh Chính sau khi tiêu diệt 6 nước Ngụy, Hàn, Triệu, Sở, Yên và Điền Tề thống nhất đất nước cho rằng danh hiệu Vương (王) không thích hợp với ông, bèn lệnh cho quan Thừa tướng và Ngự sử bàn đổi danh hiệu. Các quan xin đổi danh hiệu là Thái hoàng 泰皇. Tần Doanh Chính sau khi xem xét đã hạ lệnh bỏ chữ Thái 泰 để lại chữ Hoàng 皇, lấy chữ đế 帝 thời thượng cổ để ghép lại thành Hoàng đế 皇帝. Ý nguyện của Tần Doanh Chính lấy hiệu Hoàng đế là để công lao sự nghiệp của ông được lưu lại cho con cháu muôn đời.
Tần Doanh Chính sau khi lấy hiệu Hoàng đế, sai bề tôi suy nghĩ đề xuất các nội dung bảo đảm quyền uy hành xử cho Hoàng đế. Trước hết, về cách xưng hô, Hoàng đế tự xưng là Trẫm 朕, mệnh ban ra gọi là chế 制, lệnh ban xuống gọi là chiếu 詔... Đến đời Hán, những qui định bảo đảm quyền uy cho danh vị Hoàng đế được cụ thể hơn. Thiên tử nhà Hán tự xưng là Trẫm. Thần dân gọi Hoàng đế là Bệ hạ 陛下. Lời của Hoàng đế gọi là chế chiếu 制詔, sử quan ghi chép sự việc dâng lên vua gọi là thướng 上. Vật dụng Hoàng đế dùng như xa giá, y phục, khí giới gọi là thừa dư 乘與. Nơi Hoàng đế ở gọi là cấm trung 禁中, ấn 印Hoàng đế dùng gọi là tỷ 壁... Như vậy, một nội dung bảo đảm quyền uy hành xử cho Hoàng đế là cách xưng hô giữa Hoàng đế với dân chúng. Cách xưng hô này biểu thị sự tôn kính giữa thần dân với Hoàng đế. Các vương triều phong kiến Trung Quốc đời sau đều tuân theo qui định này.
Ở Việt Nam, thần dân cũng đã tiếp nhận cách xưng hô gọi vua là bệ hạ. Nhưng cũng có triều đại như vua Lý Thái Tông năm Thiên Thành thứ 7 (1034), xuống chiếu lệnh cho các quan khi tâu việc trước mặt vua thì gọi vua bằng Triều đình (朝庭) (5). Lý Thánh Tông xưng là Vạn Thặng, Lý Cao Tông bảo người gọi vua là Phật (6). Triều đình (朝庭) mang nhiều nét nghĩa, trong đó có nét nghĩa chỉ nơi các quan vào triều nghị việc và cũng có nét nghĩa chỉ chính quyền trung ương giải quyết công việc, và là từ dùng để gọi thay cho từ đế vương. Cách xưng hô này biểu thị sự tập trung, và thâu tóm quyền lực của vương triều Lý.
Về nghĩa của mã chữ Quốc gia, theo Từ điển tiếng Việt thì từ này mang nét nghĩa chỉ nhà nước (Từ điển tiếng Việt. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1999) hay nước hoặc nước nhà (Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, H. 1988). Để tìm hiểu ý nghĩa của hai mã chữ Quốc gia, chúng tôi tiếp cận các sự kiện xảy ra trong thời gian Trần Thái Tông cầm quyền thì thấy:
Việc tổ chức bộ máy nhà nước nhất là việc bổ nhiệm người để thực thi quyền lực, Trần Thái Tông đều dựa theo huyết thống. Theo Đại Việt sử ký toàn thư năm 1226, Trần Thái Tông phong Trần Thủ Độ là chú họ làm Quốc sư, năm 1234 cho Tri Thanh Hóa phủ sự. Tháng 5 năm 1226 phong em là Nhật Hiệu làm Khâm thiên Đại vương. Năm 1228 phong anh là Liễu làm Thái úy, năm 1234 lấy Thái úy Liễu làm Phụ chính. Năm 1236 định quan hàm: Phàm người tôn thất vào chính phủ hoặc là Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Thái úy hoặc là Tư đồ, Tả Hữu tướng quốc đều kiêm hàm Kiểm hiệu đặc tiến nghi đồng tam ty Bình chương sự. Năm 1241, vua Trần Thái Tông phong con trưởng làm Đại vương, con thứ làm Thượng vị hầu.
Về kinh tế, nhà vua thực hiện việc cắt đất phân phong. Năm 1237, Trần Thái Tông đã lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm thang mộc ấp.
Về văn hóa xã hội, quan hệ vua tôi hòa thuận. Năm 1251 vua ban yến ở nội điện, các quan đều dự, khi uống say, mọi người đứng cả dậy dang tay mà hát.
Từ các sự kiện nêu trên, có thể thấy quan niệm của nhà vua về công việc trị vì. Đó là quyền lực được chia sẻ cho dòng họ, đất đai được phân cắt cho anh em. Bổng lộc vua tôi cùng hưởng. Vua Trần Thái Tông lệnh cho thiên hạ gọi vua bằng hai chữ Quốc gia đã thể hiện ý nguyện của nhà vua muốn thần dân biết được quan niệm trị vì của ông và hai mã chữ này cũng thể hiện rõ chức năng của nhà vua đối với công việc xây dựng, bảo vệ đất nước Đại Việt.
Tư tưởng của Trần Thái Tông cũng đã được vua Trần Thánh Tông khi nối ngôi vẫn tiếp tục tinh thần trị vì của vua cha. Có lần Trần Thánh Tông nói với các tôn thất:
Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quí với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc của tông miếu xã tắc (7).
Có thể nói, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho thần dân gọi vua bằng Quốc gia. Hai chữ Quốc gia đã thể hiện quan niệm và trách nhiệm của nhà vua đối với đất nước Đại Việt.
Chú thích:
(1) Đại Việt sử ký toàn thư. T.II, Nxb. KHXH, H. 1971, tr.23.
(2) Nguyên văn chú thích: Quốc gia, ngờ là bản in lầm. Vì Quan gia là tiếng để gọi vua đời Trần thường hay gặp. Chưa có sách nào ghi gọi vua là Quốc gia. Chúng tôi sửa lại. (Đại Việt sử ký toàn thư. Tập II, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.22).
(3) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Uy Văn Vương Toại là chồng của công chúa Thụy Bảo. Công chúa Thụy Bảo là con gái của vua Trần Thái Tông.
(4) Chúng tôi dịch theo cách giải thích của Từ nguyên. Thương vụ ấn thư quán. 1999. Bắc Kinh. Mục từ Quan. tr.444.3
(5) Đại Việt sử ký toàn thư. T.I, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.256.
(6) Đại Việt sử ký toàn thư. T.I, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.256. ghi theo lời bình của sử thần Lê Văn Hưu.
(7) Đại Việt sử ký toàn thư. T.II, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.37.
Tài liệu tham khảo
1- Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. KHXH, H. 1971.
2- Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. KHXH, H. 1998.
3- Từ điển tiếng Việt. Nxb. KHXH, H. 1988.
4- Từ điển tiếng Việt. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1999.
5- 中國官制大辭典。黑龍江人民出版社。1992
6-中國官制史。中國出版集團。東方出版中心。2006
7- 辭源。商務印書館。北京。1999 .
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 6 - 2008
Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012
Từ nguyên của "chằm" và "trải"
Bài viết tham gia hội thảo kỷ niệm 1 năm ngày mất Gs Nguyễn Tài Cẩn
KHẢO VỀ CHẰM VÀ TRẢI TRONG TIẾNG VIỆT CỔ
QUA “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
Nguyễn Hùng Vĩ và Trần Trọng Dương
Bắt đầu bằng việc ngồi đọc lại tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông. Trong tác phẩm này, ở Hội năm, câu 11 (câu 63 tính theo toàn bài) ghi:

GS Đào Duy Anh trong cuốn Chữ Nôm- nguồn gốc- cấu tạo- diễn biến phiên:
-Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc kim hoặc chỉ;
Cơm cùng áo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu xoa.
Trăn trở với cách phiên đó, GS Hoàng Xuân Hãn phiên lại:
-Áo miển (mliễn) chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể.
Và dường như chưa thật yên tâm với cách đọc của mình, trong phần Đại ý và lược chú, GS Hoàng Xuân Hãn viết: “Áo thì mặc chằm vá, rách xể cũng chẳng hề, quí hồ ấm (hai chữ Châm 針 và Trĩ 雉 chắc đều chép chữ nôm theo phép mượn âm; nhưng đọc thế nào thì không chắc. CN đọc kim chỉ. Theo âm thì đọc châm trễ là gần nhất, nhưng tứ không hợp. Tôi đọc chằm xể, hợp hơn, tuy rằng những âm ấy ngày nay có thể viết bằng chữ Nho khác. Cũng có thể âm xể xưa là xlể)...” [tr.1118].
Rõ ràng mặc dù chủ trương đọc là chằm- xể nhưng GS cũng không chắc là đã đọc đúng. Vả lại, về nghĩa, cụ hiểu chằm là “chằm vá”, động tác dùng dây, kim luồn để nối kết các tấm vật liệu lại với nhau; còn xể là “rách xể”, lưu tích còn trong từ chổi xể.
Những băn khoăn của các nhà cựu học khiến chúng tôi phải tiếp tục suy nghĩ. Sau quá trình nghiên cứu, khảo sát các ngữ liệu cổ, chúng mạnh dạn đề xuất cách đọc hai câu phú trên như sau:
-Áo miễn chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm (chầm) hoặc trải.
Dưới đây là những giải thích của chúng tôi qua sự khảo sát từ các từ điển cổ và các ngữ liệu cổ được ghi bằng chữ Nôm. Phương pháp làm việc của chúng tôi là: dựa trên cách đọc Hán Việt của thanh phù ghi âm trong chữ Nôm, từ đó đưa ra các khả năng đoán định về âm đọc; khả năng của âm đọc được củng cố trên các tư liệu từ điển cổ từ cuối thế kỷ XIX về trước. Khi chữ Nôm có dấu vết bị sửa đổi do dọn bản của các đời sau, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tái lập ngữ âm tiếng Việt đồng thời soi chiếu với các cứ liệu chữ Nôm cổ để tìm ra từ nguyên cũng như lịch sử phát triển, biến đổi ngữ âm- ngữ nghĩa của ngữ tố đang khảo sát.
1. Khảo về chữ CHẰM
GS Hoàng Xuân Hãn ghi ngờ cách phiên “hoặc kim hoặc chỉ” của Gs Đào hẳn có lý của ông. Theo phép đối trong một liên phú, câu dưới ghi “dầu bạc dầu xoa” (cấu trúc: dầu + vị ngữ tính từ; dầu + vị ngữ tính từ), thì câu trên có cấu trúc (hoặc + danh từ; hoặc + danh từ) là cần phải cân nhắc lại. Cách phiên của GS Hoàng “hoặc chằm hoặc xể” với “chằm” và “xể” đều là các tính từ hoặc động từ có chức năng làm vị ngữ, theo chúng tôi là khá hữu lý. Vấn đề cần thảo luận tiếp là cách phiên chuyển, hơn nữa là cách hiểu về ngữ tố tiếng Việt cổ đang xét. Bởi lẽ, như ta biết, Cư trần lạc đạo phú có thể coi là một trong vài ba ngữ liệu sớm nhất hiện nay còn giữ được thuộc về điểm mút đầu của giai đoạn tiếng Việt cổ (thế kỷ XIII-XVI).
Chữ Châm針, chúng tôi cũng đọc là chằm (hoặc chầm) nhưng hiểu nghĩa khác đi so với giáo sư Hoàng Xuân Hãn, chúng tôi hiểu chằm là quàng, choàng, ôm lấy...
Đọc như trên, câu phú được hiểu lọn ý hơn với nghĩa nhàn nhã với cuộc sống đạm bạc của một người tu hành hòa mình với bụi trần mà vẫn thung dung lạc đạo: Để đầm ấm cho qua mùa rét thì áo hoặc chăn cái gì cũng xong, hoặc là quàng (áo) hoặc là trải (chăn), tùy lúc, không câu nệ.
Chúng ta thấy một số từ điển từ thế kỉ XIX về trước ghi nhận chữ chằm với nghĩa là quàng, choàng, ôm lấy. Cụ thể như trình bày dưới đây.
1772 – 1773, từ điển Dictionarium Anamitico Latinum (Tự vị Annam Latinh) của Piere Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) còn ghi mục từ Chằm lấy với chữ扌針 và với nghĩa Ôm chặt [theo Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên tb. 1999, tr. 67].
1838, từ điển mang tên La Tinh như trên của Aj. L. Taberd (tên Hán Việt là Nam Việt dương hiệp tự vị) cũng có mục từ như trên, được viết bằng chữ Nôm扌針 [tr.54].
1884, Việt Pháp từ điển của Trương Vĩnh Kí có mục từ Chằm và chú tiếng Pháp là Tenir fortement.
1895, Đại Nam quấc âm tự vị của Huình – Tịnh Paulus Của cũng cho ta ngữ liệu “Chằm lấy. Giữ lấy, chụp lấy. Thấy mặt thì chằm lấy mà mắng” [tr.118]. Chữ Chằm được viết ở dạng 扌針.
Như vậy, trong quá khứ, chữ Chằm với nghĩa “ôm chặt, ôm quàng lấy” đang là một động từ hoạt động độc lập. Nghĩa của nó là rất gần gũi với các chữ quàng, choàng. Ngày nay với tư cách là một động từ như vậy, nó hầu như đã rụng khỏi ngữ dụng phổ thông, chỉ còn lại trong các kết cấu ôm chằm / ôm chầm, chằm vặp / chầm vập, ôm chằm chặp. Ta có thể giải nghĩa được từ chầm trong ôm chầm, vốn là một kết cấu đẳng lập hai động từ gần nghĩa với nhau: Ôm và Chầm. Nhưng chầm dần dần mờ nghĩa nên được hiểu như là một trạng thái bổ trợ cho Ôm và được hiểu như từ ghép chính phụ. Trong tiếng Tày ta có tiếng Chổm là quàng, ví dụ: chổm pạ slửa khửn bá mưà (choàng áo lên vai) [Hoàng Văn Ma 1984: tr.377]. tiếng Dăm có nghĩa là ôm, ví dụ: dăm chăp ăn thù nâng (ôm một mối thù) [Hoàng Văn Ma 1984: 356]. Có thể thấy chằm là một từ cổ thuộc vốn từ vựng của tiếng Việt cổ (tk XIII-XVI). Chữ này sẽ thuộc loại từ cổ thứ ba theo cách phân loại của Vương Lộc [2001, lời nói đầu tr.I]. Những từ cùng nhóm này như: han trong hỏi han, chường trong chán chường, tác trong tuổi tác, tói trong đòi tói (dây xích) và lòi tói (dây dợ),… Từ chằm không còn hoạt động một cách độc lập trong tiếng Việt Trung đại (XVII-XIX) và tiếng Việt hiện đại nữa.
Nếu nghiên cứu của chúng tôi có thể chấp nhận được, thì sẽ đem đến cho kho tàng từ cổ tiếng Việt thêm một đơn vị thú vị nữa, giải tỏa những dùng dằng mà GS Đào Duy Anh và GS Hoàng Xuân Hãn đã đề cập tới. Không những thế, có thể bổ sung cho các từ điển từ cổ và từ điển chữ Nôm một mục từ mới chưa từng xuất hiện trong bất cứ một công trình nào trước đây.
2. Khảo về chữ TRẢI
Chữ Trĩ雉đọc là trải theo kiểu mượn âm là hoàn toàn có thể xảy ra trên lý thuyết và thực tế. Mối quan hệ giữa i- ai là một mốt quan hệ đã từng được biết đến, ví dụ qua đối ứng giữa âm Hán Việt đời Đường và âm Hán Việt phi Đường: 疑nghi- ngại, 義nghĩ- ngãi,眉 mi- mày, 胝 tri- chai/ trai (cái chai tay),脂 chi- chài (mỡ chài), ,厘 li- lai (một li một lai), 理 lí- lái (lí tài- lái buôn),… Với một âm đọc phiên chuyển sang tiếng Việt hiện nay thì khả năng đọc trải là có thể chấp nhận được. Trải với tư cách động từ, có nghĩa là “trải ra, giãi ra”. Sự tương ứng của mô hình âm trong chữ Nôm, dùng thanh phù Hán có thủy âm TR- để ghi chính xác thủy âm TR- khiến chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là một chữ Nôm do đời sau lọt vào trong quá trình dọn bản từ thiền sư Chân Nguyên (tk XVII), rồi được bảo lưu trong bản của sư Thanh Hanh (1932). Điều này chứng tỏ việc dọn bản cho chữ Nôm ở đây được thực hiện sau khi quá trình chuyển đổi của các thủy âm kép đã hoàn thành, tức quãng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Chính thiền sư Chân Nguyên cũng đã viết trong cuốn Yên Tử sơn Trần Triều Thiền tông bản hạnh rằng:
“Dược Am gió mát bóng cây
Dọn Thiền tông lại để nay san truyền”[1]
Sở dĩ chúng tôi đi đến nhận định trên đây, bởi những kết quả của ngành ngữ âm học lịch sử đã soi sáng thêm rất nhiều cho giả thuyết này. Từ điển Việt Bồ La đã có phương án ghi khá chính xác cho ngữ tố đang xét. Từ điển này ghi như sau: “blải: trải, giải nghĩa. Léy áo blải lót đàng: lấy áo trải trên đường đi” [tb1994: 39]. Đến đây ta có thể tạm thời đi đến nhận định rằng, blải thế kỷ XVII sẽ cho âm giải ở Miền Bắc và trải ở Miền Trung. Hơn nữa có thể khẳng định lại lần nữa rằng trĩ không phải là chữ Nôm đời Trần mà là chữ Nôm đời Lê Trung Hưng trong quá trình dọn bản, dùng để nghi ngữ tố trải từ thế kỷ XVIII trở lại đây.
Để hiểu thêm về từ này, chúng tôi tiến hành khảo sát các ngữ cảnh có từ thế kỷ XVII trở về trước qua một số tư liệu chữ Nôm. Sách Truyền kỷ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú ghi: Ngủ thì áng cỏ trải làm nệm chiếu, khát thì nước suối dâng làm rượu ngọt (Q.III 67b), bèn khiến trải chiếu bên Đông bên Tây, sánh ngồi luận sự văn (Q.IV 40b), chữ trải đều được ghi bằng . Có thể thấy, chữ Nôm trong Truyền kỳ mạn lục là một chữ Nôm hình thanh, nhưng vẫn có thanh phù lại 吏dùng để ghi phần âm lỏng và khuôn vần của ngữ tố đang xét. Dù cách ghi có khiếm khuyết, nhưng dựa vào cứ liệu của Từ điển Việt Bồ La, ta vẫn có thể tái lập là *blai3. Như thế mô hình âm của chữ Nôm sẽ là L-(BL-), dùng L- để ghi BL-. Theo các kết quả nghiên cứu của Vương Lộc qua An Nam dịch ngữ, từ thế kỷ XV-XVI về trước, ngữ tố này có thể có hai biến thể ngữ âm là *blai3và *tlai3. Quá trình diễn biến ngữ âm, theo chúng tôi có thể trình bày như sau:
*blai3> hòa đúc> trải (Trung)
*blai3> hòa đúc> giải (Bắc)
*blai3> rụng âm [b] > rải/ rãi.
*tlai3> rụng âm lỏng> tãi/ toãi.
Thế kỷ XII, ngữ tố đang xét xuất hiện trong câu sau: mẹ nằm ngày sinh con, năm tạng đều - ra (13a3), dịch từ câu Hán văn 慈母生居日,五臟揔開張. Từ điển Chữ Nôm của Viện NC Hán Nôm cho tự dạng Nôm là (tr.1142). Hoàng Thị Ngọ cho rằng chữ Nôm đang xét là阿 賴 [tr.58] và nhận định đây là một tổ hợp phụ âm có âm tiền tắc thanh hầu hóa. Chúng tôi theo ý kiến này và tái lập là *?laj3. Tuy nhiên, chúng tôi xin đính chính lại một điểm, tự dạng Nôm chính xác là , vi tính hóa là 阿懶 a lãn. Chữ (cự巨 + lãn懶) thì chữ cự là chữ viết bằng bút lông (chứ không phải nét khắcvốn có của bản khắc), nét chữ mềm, yếu và lạc hẳn phong cách so với toàn bộ văn bản, có lẽ do người đời sau thêm vào. Từ điển chữ Nôm của Viện NC Hán Nôm thì coi 阿 là một thành tố chưa thể lý giải, bởi nó nằm ở vị trí cuối cùng của dòng trước, cho nên mặc nhận chữ (nằm ở đầu dòng) là đúng.
Tuy nhiên, dấu cự lại là một chứng tích khá xưa do người đời sau thêm vào. Nó phản ảnh một tự dạng cổ trước thế kỷ XVII. Có thể thấy tự dạng này trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi dùng để ghi ngữ tố trái. (cự巨 + lãn懶), âm tái lập: *klai5 xuất hiện trong các câu muốn ăn *blai5 dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy (Bảo kính cảnh giới 137.1), (ThuËt høng 64.4)[2]. Như thế, ta có thể có chữ Nôm cổ có trước và xuất hiện sau阿懶. Quá trình diễn biến chữ Nôm có thể như sau:
阿懶 (XII (XV)> 惐(XVII)>雉(XVIII).
Các biến thể ngữ âm đã tái lập từ thế kỷ XVII về trước có thể là, *?laj3, *klai3, *tlai3, *plai3 hoặc *blai3. Các biến thể ngữ âm hậu kỳ là: trải, giải, giãi, rải, rãi, tãi, toãi.
Ít nhiều, ta có thể thấy rằng, cổ hơn雉. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm là chữ惐 là một tự dạng phổ dụng hơn nhiều so với 雉, có thể thấy chữ này xuất hiện trong hàng loạt các tác phẩm Nôm thế kỷ XVIII-XIX và đầu thế kỷ XX nữa, như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, thơ Nôm Nguyễn Khuyến,…. Lúc ấy, chỉ tồn tại như là một lưu tích của chữ Nôm cổ, chứ không mang giá trị ghi âm như trước nữa.
Về nghĩa, thì các ngữ cảnh đã xét ở trên cho ta nghĩa cơ bản của ngữ tố trải, trỏ một vật được rãi ra, tãi ra trên một mặt phẳng, trên một không gian. Như quy luật chung của ngôn ngữ, nghĩa liên quan đến không gian sẽ được chuyển sang nghĩa liên quan đến thời gian. Đến đây, chúng tôi cho rằng, trải trong các từ và các ngữ trải qua, từng trải, trải làm, trải giữ, trải đời, bươn trải,… là nghĩa dẫn thân của chữ giải/ trải/ rải/ tãi đang xét. Khảo các ngữ liệu cổ, chúng tôi bắt gặp khá nhiều ngữ cảnh có nghĩa này. Cụ thể như sau: NhËt nguyÖt soi ®ßi chèn hiÖn, §«ng hÌ tr¶i ®· xa hay (Quốc âm thi tập, TrÇn t×nh 45.6), được ghi bằng (thanh phù: lại), âm tái lập: *tlai3 > trải/ giải (-qua, kinh lịch qua). AR ghi một từ đồng âm gần nghĩa là blải (trải, giải nghĩa) [1994: 39]. Gaston Nhẫn tái lập âm *plải [1967: 50]. Chữ trải trong QATT của Nguyễn Trãi mang nghĩa “trôi qua” thuộc loại động từ bất cập vật. Bạch Vân Am thi tập thế kỷ XVI của Nguyễn Bỉnh Khiêm ghi trong câu trải gian nguy đã mấy phen (tr.3b), chữ trải mang nghĩa “từng kinh qua”, lưu tích còn trong từ nếm trải, từng trải. Hai nghĩa trên còn thấy xuất hiện trong một số ngữ cảnh sau. Truyền kỳ mạn lục thế kỷ XVI-XVII có câu trải xuân thu hai khoa thi (QI 52b), ở quan trải một tháng (QIII 4b), Trải khổ từng nghèo (QVI 36b). Truyện Kiều có câu trải bao thỏ lặn ác tà (26). Lục Vân Tiên có câu trải bao dấu thỏ đường dê (15). Nguyễn Khuyến có câu ăn chơi đã trải chết chôn chưa hề (14a). Thiên Nam ngữ lục thế kỷ XVII ghi trải xem lịch đại đế vương (tr.130a), ở ngữ cảnh này trải mang nghĩa là “khắp”, là một trạng từ bổ nghĩa cho động từ vị ngữ. Sô Nghiêu đối thoại thế kỷ XVIII ghi ngắm chơi đã trải miền thôn dã (5a), chữ trải ở đây là một động từ nghĩa là “đi hết, đi khắp”.
Với âm giãi, ta có một số nghĩa sau. Nghĩa thứ nhất là trỏ (ánh sáng) rải ra trên một bề mặt. Ví dụ QATT của Nguyễn Trãi có những câu như: Quỹ Đông giãi nguyệt in câu (Ngôn chí 14.4), cửa song giãi xâm hơi nắng (Ngôn chí 21.3), Hang thỏ chìm tăm hải nhược, Nhà giao giãi bóng thiềm cung (Thủy thiên nhất sắc 213.4). Nghĩa dẫn thân là “phơi ra” trong câu mới hay thế khốn anh hùng giãi thây (Thiên Nam ngữ lục,104a). Nghĩa bóng dẫn thân cuối cùng là “phơi bày tâm can” như giãi thực niềm đan trẫm được hay (Hồng Đức quốc âm thi tập 66b), rỉ tai nàng mới giãi bày thấp cao (Kiều 19a), lưu tích còn trong từ giãi bày, giãi lời. Chữ giãi trong các ngữ cảnh trên đều được ghi bằng chữ Nôm có thanh phù 豸trĩ /trãi. Điều này càng củng cố cho cách đọc trải cho ngữ liệu Nôm trong Cư trần lạc đạo đã bàn ở trên.
Tóm lại, qua khảo sát các cứ liệu chữ Nôm và ngữ liệu tiếng Việt cổ từ thế kỷ XIX trở về trước, chúng tôi đề xuất cách đọc chằm và trải cho câu phú của vua Trần Nhân Tông: Áo miễn chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm (chầm) hoặc trải. Đây là cách phiên chuyển từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, từ tiếng Việt cổ sang tiếng Việt hiện đại. Còn nếu thật sự chặt chẽ, phải tiến hành phiên sang tiếng Việt cổ- với một hệ thống các ký hiệu chữ Quốc ngữ riêng biệt- đặc thù, nhất là với những ngữ tố có tổ hợp phụ âm đầu như mliễn hay klải. Tuy nhiên, vấn đề nêu ra là khá phức tạp, cần phải thảo luận chi tiết trong một dịp khác.
Hà Nội 10-13/12/2011
Tư liệu tham khảo:
A. de. Rhodes 1651. Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico. - Romae : typis & sumptibus eiusdem Sacr. Congreg. p. 633., tb.1994. Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb. Khoa học Xã hội.
Cư trần lạc đạo. Thanh Hanh trùng san 1932. Bản in ván chùa Vĩnh Nghiêm do tác giả thực hiện năm 1999.
Đào Duy Anh – Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến. Nxb KHXH. Hà Nội.
Gaston Nhẫn. 1967. Etude du consonantisme du Quốc âm thi tập (Nghiên cứu hệ thống phụ âm đầu của Quốc âm thi tập, Luận án Tiến sĩ đệ tam cấp, 203 trang, hiện lưu tại Thư viện I. N. A. C. O. - Pháp).
Hoàng Thị Ngọ (khảo cứu, phiên âm, chú giải). 2009. Thiền tông bản hạnh. Nxb Văn học. Tp Hồ Chí Minh.
Hoàng Xuân Hãn. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần Lê… Trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập 3. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo. 1984. Từ điển Việt- Tày- Nùng. Nxb KHXH. Hà Nội.
Huình Tịnh Paulus Của, (1895-1896), “大 南 國 音 字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896).
Khuyết danh. XII. Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Bản Trịnh Quán in <1730. Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1772 (Tự vị An nam La tinh) bản chép tay, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb.Trẻ. (tb.1999). L.J. Taberd, 1838, Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore. Thiều Chửu. 1997. Hán Việt tự điển. Nxb Tp Hồ Chí Minh. Trương Vĩnh Ký, P.J.-B., 1884, Petit dictionnaire français-Annamite, Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Định. Vương Lộc. 2001. Từ điển từ cổ. Nxb. Đà Nẵng. Vệ Thạch Đào Duy Anh. 1932. Từ điển Hán Việt. (Hãn Mạn Tử - Giao Tiều hiệu đính) TIENG DAN. HUE. (tb 2001) Nxb KHXH. Hà Nội. -------------------------------------------------------------------------------- [1] Quá trình truyền bản và “dọn bản”, Hoàng Thị Ngọ đã viết như sau: “Lúc đầu Thiền tông bản hạnh vốn chỉ có bốn bài, trong bốn bài này thì bài đầu do thiền sư Chân Nguyên sáng tác còn ba bài phú tiếp theo là do thiền sư sưu tập những trước tác của các vị sư tổ thứ nhất và thứ ba thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để làm thành một cuốn sách. Cuốn sách đầu tiên này phải được hoàn thành khi thiền sư Chân Nguyên còn sống, tức là vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Như vậy, rất nhiều khả năng chính thiền sư Chân Nguyên là người đầu tiên đã biên soạn lại hay nói như người xưa là "dọn" lại văn bản Nôm thời Trần và cho khắc in cùng với bài kể hạnh của mình lấy nhan đề sách là Thiền tông bản hạnh để lưu truyền lại. Sở dĩ nói là "dọn" lại hay biên soạn lại văn bản chữ Nôm thời Trần vì cả 2 văn bản hiện còn đều không phải là chữ Nôm thời Trần mà chỉ còn lưu lại dấu vết của văn Nôm và chữ Nôm thời Trần mà thôi. Bản in càng sớm thì dấu vết chữ Nôm thời Trần còn càng nhiều và ngược lại, bởi vậy mà chữ Nôm trong 2 bản khắc in đều mang những đặc điểm của chữ Nôm ở thời điểm khắc in văn bản.” [tr.26-27]. [2] Ngoài ra, QATT còn dùng tự dạng khác, để ghi một biến thể ngữ âm khác. (ba巴+ l¹i賴), âm tái lập: *blai5. . Như vậy ta có hai biến thể ngữ âm cùng tồn tại trong một văn bản là: *blai5/ *klai5> trái (cây trái). An Nam dịch ngữ ghi: 菓園:文拜quả viên: vườn trái, âm tái lập là *blai5. Từ điển Việt Bồ La tuy không có mục từ trái trỏ hoa quả, nhưng có ghi nhận từ đồng âm trái (với nghĩa phía trái, mặt trái), như: tlái áo, tay tlái, tlái mlẽ, nói tlái, tlái mặt thuốc, lúa tlái. [A. de Rhodes 1651, tb 1994: 230]. Xuất hiện tại các vị trí: co que thay bấy ruột ốc, khúc khuỷu làm chi *blai5 hòe (Trần tình 44.4).
KHẢO VỀ CHẰM VÀ TRẢI TRONG TIẾNG VIỆT CỔ
QUA “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
Nguyễn Hùng Vĩ và Trần Trọng Dương
Bắt đầu bằng việc ngồi đọc lại tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông. Trong tác phẩm này, ở Hội năm, câu 11 (câu 63 tính theo toàn bài) ghi:
GS Đào Duy Anh trong cuốn Chữ Nôm- nguồn gốc- cấu tạo- diễn biến phiên:
-Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc kim hoặc chỉ;
Cơm cùng áo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu xoa.
Trăn trở với cách phiên đó, GS Hoàng Xuân Hãn phiên lại:
-Áo miển (mliễn) chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể.
Và dường như chưa thật yên tâm với cách đọc của mình, trong phần Đại ý và lược chú, GS Hoàng Xuân Hãn viết: “Áo thì mặc chằm vá, rách xể cũng chẳng hề, quí hồ ấm (hai chữ Châm 針 và Trĩ 雉 chắc đều chép chữ nôm theo phép mượn âm; nhưng đọc thế nào thì không chắc. CN đọc kim chỉ. Theo âm thì đọc châm trễ là gần nhất, nhưng tứ không hợp. Tôi đọc chằm xể, hợp hơn, tuy rằng những âm ấy ngày nay có thể viết bằng chữ Nho khác. Cũng có thể âm xể xưa là xlể)...” [tr.1118].
Rõ ràng mặc dù chủ trương đọc là chằm- xể nhưng GS cũng không chắc là đã đọc đúng. Vả lại, về nghĩa, cụ hiểu chằm là “chằm vá”, động tác dùng dây, kim luồn để nối kết các tấm vật liệu lại với nhau; còn xể là “rách xể”, lưu tích còn trong từ chổi xể.
Những băn khoăn của các nhà cựu học khiến chúng tôi phải tiếp tục suy nghĩ. Sau quá trình nghiên cứu, khảo sát các ngữ liệu cổ, chúng mạnh dạn đề xuất cách đọc hai câu phú trên như sau:
-Áo miễn chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm (chầm) hoặc trải.
Dưới đây là những giải thích của chúng tôi qua sự khảo sát từ các từ điển cổ và các ngữ liệu cổ được ghi bằng chữ Nôm. Phương pháp làm việc của chúng tôi là: dựa trên cách đọc Hán Việt của thanh phù ghi âm trong chữ Nôm, từ đó đưa ra các khả năng đoán định về âm đọc; khả năng của âm đọc được củng cố trên các tư liệu từ điển cổ từ cuối thế kỷ XIX về trước. Khi chữ Nôm có dấu vết bị sửa đổi do dọn bản của các đời sau, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tái lập ngữ âm tiếng Việt đồng thời soi chiếu với các cứ liệu chữ Nôm cổ để tìm ra từ nguyên cũng như lịch sử phát triển, biến đổi ngữ âm- ngữ nghĩa của ngữ tố đang khảo sát.
1. Khảo về chữ CHẰM
GS Hoàng Xuân Hãn ghi ngờ cách phiên “hoặc kim hoặc chỉ” của Gs Đào hẳn có lý của ông. Theo phép đối trong một liên phú, câu dưới ghi “dầu bạc dầu xoa” (cấu trúc: dầu + vị ngữ tính từ; dầu + vị ngữ tính từ), thì câu trên có cấu trúc (hoặc + danh từ; hoặc + danh từ) là cần phải cân nhắc lại. Cách phiên của GS Hoàng “hoặc chằm hoặc xể” với “chằm” và “xể” đều là các tính từ hoặc động từ có chức năng làm vị ngữ, theo chúng tôi là khá hữu lý. Vấn đề cần thảo luận tiếp là cách phiên chuyển, hơn nữa là cách hiểu về ngữ tố tiếng Việt cổ đang xét. Bởi lẽ, như ta biết, Cư trần lạc đạo phú có thể coi là một trong vài ba ngữ liệu sớm nhất hiện nay còn giữ được thuộc về điểm mút đầu của giai đoạn tiếng Việt cổ (thế kỷ XIII-XVI).
Chữ Châm針, chúng tôi cũng đọc là chằm (hoặc chầm) nhưng hiểu nghĩa khác đi so với giáo sư Hoàng Xuân Hãn, chúng tôi hiểu chằm là quàng, choàng, ôm lấy...
Đọc như trên, câu phú được hiểu lọn ý hơn với nghĩa nhàn nhã với cuộc sống đạm bạc của một người tu hành hòa mình với bụi trần mà vẫn thung dung lạc đạo: Để đầm ấm cho qua mùa rét thì áo hoặc chăn cái gì cũng xong, hoặc là quàng (áo) hoặc là trải (chăn), tùy lúc, không câu nệ.
Chúng ta thấy một số từ điển từ thế kỉ XIX về trước ghi nhận chữ chằm với nghĩa là quàng, choàng, ôm lấy. Cụ thể như trình bày dưới đây.
1772 – 1773, từ điển Dictionarium Anamitico Latinum (Tự vị Annam Latinh) của Piere Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) còn ghi mục từ Chằm lấy với chữ扌針 và với nghĩa Ôm chặt [theo Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên tb. 1999, tr. 67].
1838, từ điển mang tên La Tinh như trên của Aj. L. Taberd (tên Hán Việt là Nam Việt dương hiệp tự vị) cũng có mục từ như trên, được viết bằng chữ Nôm扌針 [tr.54].
1884, Việt Pháp từ điển của Trương Vĩnh Kí có mục từ Chằm và chú tiếng Pháp là Tenir fortement.
1895, Đại Nam quấc âm tự vị của Huình – Tịnh Paulus Của cũng cho ta ngữ liệu “Chằm lấy. Giữ lấy, chụp lấy. Thấy mặt thì chằm lấy mà mắng” [tr.118]. Chữ Chằm được viết ở dạng 扌針.
Như vậy, trong quá khứ, chữ Chằm với nghĩa “ôm chặt, ôm quàng lấy” đang là một động từ hoạt động độc lập. Nghĩa của nó là rất gần gũi với các chữ quàng, choàng. Ngày nay với tư cách là một động từ như vậy, nó hầu như đã rụng khỏi ngữ dụng phổ thông, chỉ còn lại trong các kết cấu ôm chằm / ôm chầm, chằm vặp / chầm vập, ôm chằm chặp. Ta có thể giải nghĩa được từ chầm trong ôm chầm, vốn là một kết cấu đẳng lập hai động từ gần nghĩa với nhau: Ôm và Chầm. Nhưng chầm dần dần mờ nghĩa nên được hiểu như là một trạng thái bổ trợ cho Ôm và được hiểu như từ ghép chính phụ. Trong tiếng Tày ta có tiếng Chổm là quàng, ví dụ: chổm pạ slửa khửn bá mưà (choàng áo lên vai) [Hoàng Văn Ma 1984: tr.377]. tiếng Dăm có nghĩa là ôm, ví dụ: dăm chăp ăn thù nâng (ôm một mối thù) [Hoàng Văn Ma 1984: 356]. Có thể thấy chằm là một từ cổ thuộc vốn từ vựng của tiếng Việt cổ (tk XIII-XVI). Chữ này sẽ thuộc loại từ cổ thứ ba theo cách phân loại của Vương Lộc [2001, lời nói đầu tr.I]. Những từ cùng nhóm này như: han trong hỏi han, chường trong chán chường, tác trong tuổi tác, tói trong đòi tói (dây xích) và lòi tói (dây dợ),… Từ chằm không còn hoạt động một cách độc lập trong tiếng Việt Trung đại (XVII-XIX) và tiếng Việt hiện đại nữa.
Nếu nghiên cứu của chúng tôi có thể chấp nhận được, thì sẽ đem đến cho kho tàng từ cổ tiếng Việt thêm một đơn vị thú vị nữa, giải tỏa những dùng dằng mà GS Đào Duy Anh và GS Hoàng Xuân Hãn đã đề cập tới. Không những thế, có thể bổ sung cho các từ điển từ cổ và từ điển chữ Nôm một mục từ mới chưa từng xuất hiện trong bất cứ một công trình nào trước đây.
2. Khảo về chữ TRẢI
Chữ Trĩ雉đọc là trải theo kiểu mượn âm là hoàn toàn có thể xảy ra trên lý thuyết và thực tế. Mối quan hệ giữa i- ai là một mốt quan hệ đã từng được biết đến, ví dụ qua đối ứng giữa âm Hán Việt đời Đường và âm Hán Việt phi Đường: 疑nghi- ngại, 義nghĩ- ngãi,眉 mi- mày, 胝 tri- chai/ trai (cái chai tay),脂 chi- chài (mỡ chài), ,厘 li- lai (một li một lai), 理 lí- lái (lí tài- lái buôn),… Với một âm đọc phiên chuyển sang tiếng Việt hiện nay thì khả năng đọc trải là có thể chấp nhận được. Trải với tư cách động từ, có nghĩa là “trải ra, giãi ra”. Sự tương ứng của mô hình âm trong chữ Nôm, dùng thanh phù Hán có thủy âm TR- để ghi chính xác thủy âm TR- khiến chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là một chữ Nôm do đời sau lọt vào trong quá trình dọn bản từ thiền sư Chân Nguyên (tk XVII), rồi được bảo lưu trong bản của sư Thanh Hanh (1932). Điều này chứng tỏ việc dọn bản cho chữ Nôm ở đây được thực hiện sau khi quá trình chuyển đổi của các thủy âm kép đã hoàn thành, tức quãng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Chính thiền sư Chân Nguyên cũng đã viết trong cuốn Yên Tử sơn Trần Triều Thiền tông bản hạnh rằng:
“Dược Am gió mát bóng cây
Dọn Thiền tông lại để nay san truyền”[1]
Sở dĩ chúng tôi đi đến nhận định trên đây, bởi những kết quả của ngành ngữ âm học lịch sử đã soi sáng thêm rất nhiều cho giả thuyết này. Từ điển Việt Bồ La đã có phương án ghi khá chính xác cho ngữ tố đang xét. Từ điển này ghi như sau: “blải: trải, giải nghĩa. Léy áo blải lót đàng: lấy áo trải trên đường đi” [tb1994: 39]. Đến đây ta có thể tạm thời đi đến nhận định rằng, blải thế kỷ XVII sẽ cho âm giải ở Miền Bắc và trải ở Miền Trung. Hơn nữa có thể khẳng định lại lần nữa rằng trĩ không phải là chữ Nôm đời Trần mà là chữ Nôm đời Lê Trung Hưng trong quá trình dọn bản, dùng để nghi ngữ tố trải từ thế kỷ XVIII trở lại đây.
Để hiểu thêm về từ này, chúng tôi tiến hành khảo sát các ngữ cảnh có từ thế kỷ XVII trở về trước qua một số tư liệu chữ Nôm. Sách Truyền kỷ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú ghi: Ngủ thì áng cỏ trải làm nệm chiếu, khát thì nước suối dâng làm rượu ngọt (Q.III 67b), bèn khiến trải chiếu bên Đông bên Tây, sánh ngồi luận sự văn (Q.IV 40b), chữ trải đều được ghi bằng . Có thể thấy, chữ Nôm trong Truyền kỳ mạn lục là một chữ Nôm hình thanh, nhưng vẫn có thanh phù lại 吏dùng để ghi phần âm lỏng và khuôn vần của ngữ tố đang xét. Dù cách ghi có khiếm khuyết, nhưng dựa vào cứ liệu của Từ điển Việt Bồ La, ta vẫn có thể tái lập là *blai3. Như thế mô hình âm của chữ Nôm sẽ là L-(BL-), dùng L- để ghi BL-. Theo các kết quả nghiên cứu của Vương Lộc qua An Nam dịch ngữ, từ thế kỷ XV-XVI về trước, ngữ tố này có thể có hai biến thể ngữ âm là *blai3và *tlai3. Quá trình diễn biến ngữ âm, theo chúng tôi có thể trình bày như sau:
*blai3> hòa đúc> trải (Trung)
*blai3> hòa đúc> giải (Bắc)
*blai3> rụng âm [b] > rải/ rãi.
*tlai3> rụng âm lỏng> tãi/ toãi.
Thế kỷ XII, ngữ tố đang xét xuất hiện trong câu sau: mẹ nằm ngày sinh con, năm tạng đều - ra (13a3), dịch từ câu Hán văn 慈母生居日,五臟揔開張. Từ điển Chữ Nôm của Viện NC Hán Nôm cho tự dạng Nôm là (tr.1142). Hoàng Thị Ngọ cho rằng chữ Nôm đang xét là阿 賴 [tr.58] và nhận định đây là một tổ hợp phụ âm có âm tiền tắc thanh hầu hóa. Chúng tôi theo ý kiến này và tái lập là *?laj3. Tuy nhiên, chúng tôi xin đính chính lại một điểm, tự dạng Nôm chính xác là , vi tính hóa là 阿懶 a lãn. Chữ (cự巨 + lãn懶) thì chữ cự là chữ viết bằng bút lông (chứ không phải nét khắcvốn có của bản khắc), nét chữ mềm, yếu và lạc hẳn phong cách so với toàn bộ văn bản, có lẽ do người đời sau thêm vào. Từ điển chữ Nôm của Viện NC Hán Nôm thì coi 阿 là một thành tố chưa thể lý giải, bởi nó nằm ở vị trí cuối cùng của dòng trước, cho nên mặc nhận chữ (nằm ở đầu dòng) là đúng.
Tuy nhiên, dấu cự lại là một chứng tích khá xưa do người đời sau thêm vào. Nó phản ảnh một tự dạng cổ trước thế kỷ XVII. Có thể thấy tự dạng này trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi dùng để ghi ngữ tố trái. (cự巨 + lãn懶), âm tái lập: *klai5 xuất hiện trong các câu muốn ăn *blai5 dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy (Bảo kính cảnh giới 137.1), (ThuËt høng 64.4)[2]. Như thế, ta có thể có chữ Nôm cổ có trước và xuất hiện sau阿懶. Quá trình diễn biến chữ Nôm có thể như sau:
阿懶 (XII
Các biến thể ngữ âm đã tái lập từ thế kỷ XVII về trước có thể là, *?laj3, *klai3, *tlai3, *plai3 hoặc *blai3. Các biến thể ngữ âm hậu kỳ là: trải, giải, giãi, rải, rãi, tãi, toãi.
Ít nhiều, ta có thể thấy rằng, cổ hơn雉. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm là chữ惐 là một tự dạng phổ dụng hơn nhiều so với 雉, có thể thấy chữ này xuất hiện trong hàng loạt các tác phẩm Nôm thế kỷ XVIII-XIX và đầu thế kỷ XX nữa, như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, thơ Nôm Nguyễn Khuyến,…. Lúc ấy, chỉ tồn tại như là một lưu tích của chữ Nôm cổ, chứ không mang giá trị ghi âm như trước nữa.
Về nghĩa, thì các ngữ cảnh đã xét ở trên cho ta nghĩa cơ bản của ngữ tố trải, trỏ một vật được rãi ra, tãi ra trên một mặt phẳng, trên một không gian. Như quy luật chung của ngôn ngữ, nghĩa liên quan đến không gian sẽ được chuyển sang nghĩa liên quan đến thời gian. Đến đây, chúng tôi cho rằng, trải trong các từ và các ngữ trải qua, từng trải, trải làm, trải giữ, trải đời, bươn trải,… là nghĩa dẫn thân của chữ giải/ trải/ rải/ tãi đang xét. Khảo các ngữ liệu cổ, chúng tôi bắt gặp khá nhiều ngữ cảnh có nghĩa này. Cụ thể như sau: NhËt nguyÖt soi ®ßi chèn hiÖn, §«ng hÌ tr¶i ®· xa hay (Quốc âm thi tập, TrÇn t×nh 45.6), được ghi bằng (thanh phù: lại), âm tái lập: *tlai3 > trải/ giải (-qua, kinh lịch qua). AR ghi một từ đồng âm gần nghĩa là blải (trải, giải nghĩa) [1994: 39]. Gaston Nhẫn tái lập âm *plải [1967: 50]. Chữ trải trong QATT của Nguyễn Trãi mang nghĩa “trôi qua” thuộc loại động từ bất cập vật. Bạch Vân Am thi tập thế kỷ XVI của Nguyễn Bỉnh Khiêm ghi trong câu trải gian nguy đã mấy phen (tr.3b), chữ trải mang nghĩa “từng kinh qua”, lưu tích còn trong từ nếm trải, từng trải. Hai nghĩa trên còn thấy xuất hiện trong một số ngữ cảnh sau. Truyền kỳ mạn lục thế kỷ XVI-XVII có câu trải xuân thu hai khoa thi (QI 52b), ở quan trải một tháng (QIII 4b), Trải khổ từng nghèo (QVI 36b). Truyện Kiều có câu trải bao thỏ lặn ác tà (26). Lục Vân Tiên có câu trải bao dấu thỏ đường dê (15). Nguyễn Khuyến có câu ăn chơi đã trải chết chôn chưa hề (14a). Thiên Nam ngữ lục thế kỷ XVII ghi trải xem lịch đại đế vương (tr.130a), ở ngữ cảnh này trải mang nghĩa là “khắp”, là một trạng từ bổ nghĩa cho động từ vị ngữ. Sô Nghiêu đối thoại thế kỷ XVIII ghi ngắm chơi đã trải miền thôn dã (5a), chữ trải ở đây là một động từ nghĩa là “đi hết, đi khắp”.
Với âm giãi, ta có một số nghĩa sau. Nghĩa thứ nhất là trỏ (ánh sáng) rải ra trên một bề mặt. Ví dụ QATT của Nguyễn Trãi có những câu như: Quỹ Đông giãi nguyệt in câu (Ngôn chí 14.4), cửa song giãi xâm hơi nắng (Ngôn chí 21.3), Hang thỏ chìm tăm hải nhược, Nhà giao giãi bóng thiềm cung (Thủy thiên nhất sắc 213.4). Nghĩa dẫn thân là “phơi ra” trong câu mới hay thế khốn anh hùng giãi thây (Thiên Nam ngữ lục,104a). Nghĩa bóng dẫn thân cuối cùng là “phơi bày tâm can” như giãi thực niềm đan trẫm được hay (Hồng Đức quốc âm thi tập 66b), rỉ tai nàng mới giãi bày thấp cao (Kiều 19a), lưu tích còn trong từ giãi bày, giãi lời. Chữ giãi trong các ngữ cảnh trên đều được ghi bằng chữ Nôm có thanh phù 豸trĩ /trãi. Điều này càng củng cố cho cách đọc trải cho ngữ liệu Nôm trong Cư trần lạc đạo đã bàn ở trên.
Tóm lại, qua khảo sát các cứ liệu chữ Nôm và ngữ liệu tiếng Việt cổ từ thế kỷ XIX trở về trước, chúng tôi đề xuất cách đọc chằm và trải cho câu phú của vua Trần Nhân Tông: Áo miễn chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm (chầm) hoặc trải. Đây là cách phiên chuyển từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, từ tiếng Việt cổ sang tiếng Việt hiện đại. Còn nếu thật sự chặt chẽ, phải tiến hành phiên sang tiếng Việt cổ- với một hệ thống các ký hiệu chữ Quốc ngữ riêng biệt- đặc thù, nhất là với những ngữ tố có tổ hợp phụ âm đầu như mliễn hay klải. Tuy nhiên, vấn đề nêu ra là khá phức tạp, cần phải thảo luận chi tiết trong một dịp khác.
Hà Nội 10-13/12/2011
Tư liệu tham khảo:
A. de. Rhodes 1651. Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico. - Romae : typis & sumptibus eiusdem Sacr. Congreg. p. 633., tb.1994. Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb. Khoa học Xã hội.
Cư trần lạc đạo. Thanh Hanh trùng san 1932. Bản in ván chùa Vĩnh Nghiêm do tác giả thực hiện năm 1999.
Đào Duy Anh – Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến. Nxb KHXH. Hà Nội.
Gaston Nhẫn. 1967. Etude du consonantisme du Quốc âm thi tập (Nghiên cứu hệ thống phụ âm đầu của Quốc âm thi tập, Luận án Tiến sĩ đệ tam cấp, 203 trang, hiện lưu tại Thư viện I. N. A. C. O. - Pháp).
Hoàng Thị Ngọ (khảo cứu, phiên âm, chú giải). 2009. Thiền tông bản hạnh. Nxb Văn học. Tp Hồ Chí Minh.
Hoàng Xuân Hãn. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần Lê… Trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập 3. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo. 1984. Từ điển Việt- Tày- Nùng. Nxb KHXH. Hà Nội.
Huình Tịnh Paulus Của, (1895-1896), “大 南 國 音 字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896).
Khuyết danh. XII. Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Bản Trịnh Quán in <1730. Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1772 (Tự vị An nam La tinh) bản chép tay, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb.Trẻ. (tb.1999). L.J. Taberd, 1838, Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore. Thiều Chửu. 1997. Hán Việt tự điển. Nxb Tp Hồ Chí Minh. Trương Vĩnh Ký, P.J.-B., 1884, Petit dictionnaire français-Annamite, Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Định. Vương Lộc. 2001. Từ điển từ cổ. Nxb. Đà Nẵng. Vệ Thạch Đào Duy Anh. 1932. Từ điển Hán Việt. (Hãn Mạn Tử - Giao Tiều hiệu đính) TIENG DAN. HUE. (tb 2001) Nxb KHXH. Hà Nội. -------------------------------------------------------------------------------- [1] Quá trình truyền bản và “dọn bản”, Hoàng Thị Ngọ đã viết như sau: “Lúc đầu Thiền tông bản hạnh vốn chỉ có bốn bài, trong bốn bài này thì bài đầu do thiền sư Chân Nguyên sáng tác còn ba bài phú tiếp theo là do thiền sư sưu tập những trước tác của các vị sư tổ thứ nhất và thứ ba thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để làm thành một cuốn sách. Cuốn sách đầu tiên này phải được hoàn thành khi thiền sư Chân Nguyên còn sống, tức là vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Như vậy, rất nhiều khả năng chính thiền sư Chân Nguyên là người đầu tiên đã biên soạn lại hay nói như người xưa là "dọn" lại văn bản Nôm thời Trần và cho khắc in cùng với bài kể hạnh của mình lấy nhan đề sách là Thiền tông bản hạnh để lưu truyền lại. Sở dĩ nói là "dọn" lại hay biên soạn lại văn bản chữ Nôm thời Trần vì cả 2 văn bản hiện còn đều không phải là chữ Nôm thời Trần mà chỉ còn lưu lại dấu vết của văn Nôm và chữ Nôm thời Trần mà thôi. Bản in càng sớm thì dấu vết chữ Nôm thời Trần còn càng nhiều và ngược lại, bởi vậy mà chữ Nôm trong 2 bản khắc in đều mang những đặc điểm của chữ Nôm ở thời điểm khắc in văn bản.” [tr.26-27]. [2] Ngoài ra, QATT còn dùng tự dạng khác, để ghi một biến thể ngữ âm khác. (ba巴+ l¹i賴), âm tái lập: *blai5. . Như vậy ta có hai biến thể ngữ âm cùng tồn tại trong một văn bản là: *blai5/ *klai5> trái (cây trái). An Nam dịch ngữ ghi: 菓園:文拜quả viên: vườn trái, âm tái lập là *blai5. Từ điển Việt Bồ La tuy không có mục từ trái trỏ hoa quả, nhưng có ghi nhận từ đồng âm trái (với nghĩa phía trái, mặt trái), như: tlái áo, tay tlái, tlái mlẽ, nói tlái, tlái mặt thuốc, lúa tlái. [A. de Rhodes 1651, tb 1994: 230]. Xuất hiện tại các vị trí: co que thay bấy ruột ốc, khúc khuỷu làm chi *blai5 hòe (Trần tình 44.4).
Từ nguyên của "thiết tha", "thướt tha"?
‘THIẾT THA’ hay ‘THƯỚT THA’?
Trần Trọng Dương
đã đăng: “Thiết tha” hay “thướt tha”? Thông báo Hán Nôm học. 2007. Nxb KHXH. Hà Nội.
Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu đang tiến hành đi tìm nguyên tác Truyện Kiều để “tiến tới những bản phiên âm thể hiện được nguyên dạng của tác phẩm về âm đọc, ngữ nghĩa và ý đồ sáng tác của tác giả, từ đó mà chú giải, khảo luận hướng dẫn người đọc hiểu đúng các bản phiên âm hiện hành.” [Nguyễn Tài Cẩn 2004:375]. Có hai xu hướng đi tìm nguyên tác Truyện Kiều chủ yếu sau: 1.Xu hướng khai thác/ phục nguyên từ ngữ cổ tiếng Việt; 2.Xu hướng so sánh các bản Kiều Nôm cổ, thống kê các chữ cùng xuất hiện trong nhiều văn bản Nôm cổ. Đại diện cho xu hướng thứ hai là cuốn Tư liệu Truyện Kiều-từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn do nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học ấn hành năm 2004. Theo xu hướng thứ nhất là một số bài viết của các học giả trong và ngoài nước như Nguyễn Tài Cẩn, An Chi, Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Tuấn Cường…
Gần đây, chúng tôi cũng đã công bố hai bài viết về vấn đề từ cổ trong Truyện Kiều qua trường hợp chữ THƠ RƠ. Hai bài viết trên đều dùng phương pháp tìm các khả năng biến âm của thanh phù để tìm ra âm đọc của chữ thông qua tra cứu từ vựng ở các bộ từ điển cổ. Phương pháp này có ưu thế ở chỗ: nó có thể giúp người đọc khảo sát hầu như toàn bộ các khả năng đọc có thể xảy ra (trên lý thuyết), và kiểm chứng các khả năng ấy thông qua sự ghi nhận của từ điển. Ví như trường hợp của chữ THƠ RƠ, từ trước đến nay từ này vẫn được phiên là Lơ thơ hay Tha la. Từ việc khảo sát các tự dạng Nôm, chúng tôi đưa ra 1456 khả năng đọc của mã chữ và kiểm tra các khả năng ấy qua tra cứu các từ điển cổ. Kết quả là chúng tôi chứng minh được rằng Tha la là cách phiên sai lầm theo mặt chữ bắt đầu từ từ điển Génibrel và Tha la không hề xuất hiện trong bất cứ một cuốn từ điển nào trước hay cùng thời với nó; Lơ thơ với nghĩa “rủ xuống” cũng không hề xuất hiện trong bất cứ một cuốn từ điển cổ nào, Lơ thơ là một từ mới xuất hiện vào quãng đầu thế kỷ XX (1931), và Thơ rơ hay Rơ thơ là cách đọc cổ của từ lơ thơ qua sự ghi nhận một cách có hệ thống của các từ điển từ A. de Rhodes, Taberd, Bỉ Nhu đến Huình Tịnh Của.
Trong bài viết này, chúng tôi cũng thử phục nguyên một từ cổ thông qua phương pháp trên. Đó là các trường hợp Thướt tha.
Thướt tha là từ xuất hiện hai lần trong Truyện Kiều ở các vị trí câu: Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, 170; Dưới đào dường có dáng người thướt tha, 290. Trước tiên, chúng tôi khảo sát tự dạng Nôm của chữ này qua một số bản Nôm cổ. Kết quả như sau:
Qua 12 bản Nôm và Quốc ngữ cổ ta thấy rằng: tại vị trí câu 170 có 4 dị bản, trong đó thướt tha切 他 xuất hiện 2 lần, La tha羅他 xuất hiện 2 lần, Đã ra xuất hiện 2 lần, còn lại Tha la 他 羅xuất hiện 6 lần tại vị trí câu 290 chỉ có độc bản Thướt tha 切 他. Như biện luận của chúng tôi ở hai bài viết trước thì đã ra 乑 歮 là cách viết sai của他 羅Thơ rơ. Thướt tha切 他 chỉ xuất hiện hai lần (so với 6 lần của Tha la 他 羅). Chúng tôi tạm đưa ra khả năng rằng: Thướt tha切 他 cũng là cách viết sai khác của 羅他rơ thơ. Và như vậy, tại vị trí câu 170 chỉ có thể đọc là: Bên cầu tơ liễu bóng chiều THƠ RƠ[1]/ RƠ THƠ [xem Trần Trọng Dương 2006a, 2006b].
Trở lại với vị trí 290, chúng tôi thấy việc xuất hiện các mã chữ Nôm và các bản phiên âm của câu này khá thống nhất. Với sự khảo sát của mình, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn liệt câu này vào loại nguyên bản do chính Nguyễn Du viết vì không hề có dị bản. Ở đây, ta không còn phải biện luận gì về tự dạng của chữ Nôm cả. Vấn đề là ở âm đọc. Chữ này vốn âm Hán Việt gồm có: 切đọc là thiết và 他đọc là tha. Khâu tiếp theo, chúng tôi thử kiểm tra các khả năng biến âm của hai âm này. Cụ thể như bảng dưới đây:
Bảng: các khả năng biến âm của THIẾT
Các khả năng đọc của Thiết = các khả năng biến âm của Th (10) x các khả năng biến âm của iết (11) = 110.
Các khả năng đọc của Tha = các khả năng biến âm của Th (10) x các khả năng biến âm của a (07) = 70.
Các khả năng đọc của Thiết tha = Các khả năng đọc của Thiết x Các khả năng đọc của Tha = 110 x 70 = 7700.
Để kiểm tra xem các khả năng đọc trên có xảy ra trên thực tế hay không, chúng tôi tiến hành tra cứu thông qua các bộ từ điển cổ. Kết quả là: âm Thướt tha và các âm khác không hề được ghi nhận trong bất cứ từ điển cổ nào. Từ này xuất hiện lần đầu trong Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức: “Thướt tha. Trỏ bộ dài lê thê.” [1931:588]. Tiếp đó là đến G. Hue: “Gracieux, svelte. Thướt tha. Tha thướt” [1044]. Đào Văn Tập: “Thướt tha. Chỉ dáng dài mà uyển chuyển” [612]. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học: “Có dáng cao rủ dài xuống, chuyển động một cách mềm mại uyển chuyển.” [945]. Từ điển truyện Kiều: “THƯỚT THA (2): hình dung vật gì dài rủ xuống có vẻ kéo lê thê. Thượt là trong dài thượt. Về cấu tạo từ. xem Dần dà. Td. Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, 170; Dưới đào dường có dáng người thướt tha, 290” [471].
Trong khi đó, âm Thiết tha lại được ghi nhận khá đều đặn bắt đầu từ từ điển của Bỉ Nhu: “Thiết tha切 磋 .cn. ráo riết, lắm, nhiều lắm.” [466], đến Taberd: “Thiết tha切 磋 . Vehementer. Rất, kịch liệt.”[495] và cuối cùng là Huình Tịnh Paulus Của: “Thiết tha. lắm lắm, bức lắm, ngặt lắm, cần kíp lắm.”[1010]. Tự điển Chữ Nôm ghi: “khẩn khoản, da diết, Hết mức, ráo riết.” [2006:1091]. Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức ghi: “thiết tha để ý đến vì thương yêu (già rồi, tui không còn thiết tha chi nữa. “đi hay ở vẫn thiết tha với Huế, vẫn bao lần nghe Huế nhói trong tim”- thơ Tô Kiều Ngân). Nghĩa xưa là đau đớn xót xa hoặc mức độ cao (đau đớn thiết tha, giận thiết tha). Từ cổ.P.Của.” [2004:866] Từ điển này không thấy ghi nhận chữ “thướt tha”.
Như vậy, theo sự ghi nhận của các từ điển trên, từ thiết tha là trạng từ hoặc tính từ. Để khảo sát sự hoạt động của từ này như thế nào, chúng tôi tạm khảo sát một số văn cảnh trong các văn bản cổ.
1.Thiết tha là trạng từ chỉ mức độ trong các câu: “xú phụ: vợ xấu thiết tha” trong Chỉ nam ngọc âm (tr.7b), “nghe chàng năn nỉ thiết tha” trong Phan trần (tr.69a). 2.Thiết tha là tính từ trong các câu “cảnh buồn người thiết tha lòng” trong Chinh phụ ngâm (16a), “Thiết tha ban tối khoe khoang nửa ngày” trong Nhị độ mai (tr.17b), “tiếng quạ bay kêu giọng thiết tha” trong Vị thành giai cú tập biên (tr.18a). Nếu là một trạng từ, thiết tha thường đứng sau tính từ vị ngữ, hay động từ vị ngữ. Nếu là một tính từ, từ này thường làm vị ngữ hay làm định ngữ cho danh từ.
Chữ thiết tha trong câu 290 “dưới đào dường có bóng người thiết tha” nên chăng là một tính từ. Tính từ vị ngữ này làm khu biệt và xác định tính chất, đặc điểm của danh từ “bóng người” đứng trước nó. Vậy nét nghĩa của chữ thiết tha ở đây là gì? Theo chúng tôi, đây có lẽ là một tính từ chỉ sự di chuyển nhanh, gấp, thấp thoáng, ẩn hiện. Với nét nghĩa như thế nó sẽ hô ứng với chữ “dường thấy” hết sức mong manh ở trên. Vì đây là đoạn tả tâm trạng chàng Kim Trọng lúc lân la chuyển đến làm hàng xóm với Vương gia, để “tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông”, nhưng “tấc gang động tỏa nguyên phong, tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra”. Thế rồi, một buổi thấy dáng kiều thấp thoáng, “buông cầm xốc áo vội ra, hương còn thơm nức người đà vắng tanh”, chỉ có một chiếc kim thoa vướng trên cành đào. Người đẹp đi dạo thưởng hoa nhanh vậy! Nhưng cái thấp thoáng dáng kiều ấy, cái mùi hương khuê nữ ấy đã nhuốm màu tâm trạng của con người si tình kia rồi.
Sự tồn tại và diễn biến của THƯỚT THA, THIẾT THA
trong một số từ điển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Alexandro De Rhodes.1651. Dictionarivm Annamiticivm- Lusitanvm- Latinvm Sacre Congragationis de Propagada fide Cardinales. ROME. (Từ điển Việt- Bồ- La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. Khoa học Xã hội. 1994.
Đào Duy Anh.1987. Từ điển Truyện Kiều, Phan Ngọc bổ sung sửa chữa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Gustave Hue.1937. Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (chụp theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa, 1937)
Hội Khai trí Tiến đức.1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van. Mặc Lâm xuất bản.
Huình Tịnh Paulus Của.1895-1896. “大 南 國 音字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4. 1895-1896; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896).
J.F.M. Génibrel.1898. Dictionaire Annamite- Francais, Imprimerie de la Mission à Tân Định.
L.J. Taberd.1838. Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore.
Nguyễn Ngọc San & Đinh Văn Thiện. 2003. Từ điển từ Việt cổ, Nxb. Từ điển Bách khoa. Hà Nội. (lần 01 Nxb. VHTT. H.2001)
Nguyễn Quang Hồng (chủ biên).2006. Tự điển chữ Nôm. Nxb.Giáo dục.1546
Nguyễn Quảng Tuân. 2004. Chữ nghĩa Truyện Kiều. Nxb.Văn Học.Hà Nội.272.
Nguyễn Tài Cẩn. 2004.Tư liệu Truyện Kiều-từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu. Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Hà Nội.637.
Paul Schneider.1993. Dictionnaire historique des ideogrammes Vietnamiens, Domaine Carlone- 98, boulevard Edouard Heriot- BP 209- 06204 NICE Cedex 3 (France), Nice.
Pierre Pegneaux de Béhaine.1772-1773. Dictionarium Anamitico Latinum (Tự vị An nam La tinh), bản chép tay.
Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu). 1772-1773. Tự vị An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum 1772- 1773), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu. Nxb.Trẻ. 1999.
Thanh Nghị.1951.Việt Nam tân từ điển. Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon.
Trần Trọng Dương.2006a, Đi tìm âm đọc cổ cho hai chữ LƠ THƠ, t.c Hán Nôm số 03. Tr 44-53.
Trần Trọng Dương.2006b, Thử tầm nguyên hai chữ THA LA, The international conference on Nom Script, www.nomfoundation.org .
--------------------------------------------------------------------------------
[1] A. de. Rhodes ghi: “Cây thơ rơ: cây không có lá, trụi lá.” [1651: 223]. Từ điển của Bá Đa Lộc Bỉ Nhu cũng ghi: “撪冟3 Thơ rơ. Cây trụi lá.” [1773: 470]. Từ điển Taberd cũng ghi: “撪囉 thơ rơ, arbor foliis expoliata.” [1838: 499]. Tra trong từ điển của Huình Tịnh Paulus Của thì thấy: “盧 lơ thơ: xơ rơ, thưa thớt” [1895 - 1896:573], “撪xơ .n. Rã rời, tan tác, còn cái xác không, cái bã không, cái vỏ không. Xơ xơ: rách rã, tơi bời, tan tác. Xơ rơ (xác rác): thưa thớt còi cụt, trơ trọi, còn nhánh không, (cây cối). Bão bùng cành ngọn xơ rơ.” [1895 – 1896: 1198]; “撪 rơ,… xơ rơ: thưa thớt, xờ xạc. (cây cỏ)” [1895 – 1896:874]; “Thơ rơ: xơ rơ thưa thớt, như cây mùa đông, nhánh lá xơ rơ. Thơ thơ. id.” [1895 – 1896: 1018]. Từ điển Tiếng Huế: “Thơ rơ (xơ rơ) cây trụi lá, nghĩa bóng vẻ thiểu não (Cây thầu dầu thơ rơ, dáng điệu anh cũng xơ rơ in nhau)[2004:874].
Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012
từ nguyên của "chiết trung"
chiết trung折中 (HV) (1).giữ lấy điều chính đáng,dùng chuẩn tắc để xét đoán sự việc. Sách Sở từ楚辞 phần Cửu Chương·九章 bài Tích tụng惜诵》có câu: lệnh ngũ đế dĩ chiết trung hề, giới lục thần dữ hưởng phục “令五帝以折中兮,戒六神与嚮服。”. Câu trên được Chu Hy 朱熹 tập chú như sau:chiết trung, tức là nói về cái sự lý có nhiều điểm bất đồng, phải biết nắm lấy các đầu mối dây của nó mà chập vào giữa, cũng như phần Khổng Tử thế gia trong sách Sử ký nói “lục nghệ chiết trung vu phu tử六艺折中于 夫子” “折中,谓事理有不同者,执其两端而折其中,若《史记. 孔子世家赞》所谓‘六艺折中于 夫子 ’是也。” Một triết gia đời Tống là Diệp Thích叶适 trong bài Đề Tây khê tập《题<西溪集>》nói:phù dục chiết trung thiên hạ chi nghĩa lý, tất tạn khảo tường thiên hạ chi sự vật nhi hậu bất mậu“夫欲折中天下之义理,必尽攷详天下之事物而后不谬。” nghĩa là: “muốn chiết trung được nghĩa lý trong thiên hạ thì ắt phải khảo cho rõ mọi sự vật trong thiên hạ thì mới không sai nhầm được”. Lương Khải Siêu 梁启超 trong sách Luận Hồ nam ứng biện chi sự《论湖南应办之事》viết:cánh chiết trung ư cổ kinh cổ tử chi tinh hoa, lược giám phù cách trí các học chi lưu biệt“更折衷於古经古子之精华,略览夫格致各学之流别。” nghĩa là “muốn chiết trung những tinh hoa của chư tử, kinh kệ xưa, thì hãy xem qua những dòng phái của cái học cách vật trí tri.
Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012
từ nguyên của Quấn- Vấn- Bện
các cặp QUẤN- VẤN- BỆN,
cũng là từ gốc Hán, âm Hán Việt là BIỀN, các âm Thượng cổ như sau:
[Ancient Han Phonetic Database]
Chữ Hán: 緶
Thanh mẫu: 並
Vận mẫu: 仙
Thanh điệu: 平
Độ mở: 开
Nhiếp: 山
Đẳng: 重钮四等
Thiết âm: 房連
Ghi chú: 字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: bʹi ̯an
Lí Phương Quế: bjian
Vương Lực: bian
Baxter: bjen
Trịnh Trương Thượng Phương: ben
Phan Ngộ Vân: ben
Như vậy, kben là âm bản địa hóa của BIỀN (thuộc trường hợp như bài em đã gửi cho thầy Việt hóa thành CCVC),
kbjen > rụng b> kjen> thêm -w-> quấn > vấn, vặn (thừng)
kbjen > rụng k> bện
cũng là từ gốc Hán, âm Hán Việt là BIỀN, các âm Thượng cổ như sau:
[Ancient Han Phonetic Database]
Chữ Hán: 緶
Thanh mẫu: 並
Vận mẫu: 仙
Thanh điệu: 平
Độ mở: 开
Nhiếp: 山
Đẳng: 重钮四等
Thiết âm: 房連
Ghi chú: 字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: bʹi ̯an
Lí Phương Quế: bjian
Vương Lực: bian
Baxter: bjen
Trịnh Trương Thượng Phương: ben
Phan Ngộ Vân: ben
Như vậy, kben là âm bản địa hóa của BIỀN (thuộc trường hợp như bài em đã gửi cho thầy Việt hóa thành CCVC),
kbjen > rụng b> kjen> thêm -w-> quấn > vấn, vặn (thừng)
kbjen > rụng k> bện
từ nguyên của Quầng, Vầng, Vừng, Hừng, Hửng, Váng
Tương tự như vậy, QUẦNG- VẦNG (mặt trăng, -trời, -người)- VỪNG- HỪNG- HỬNG, VÁNG (-đầu)
cũng là các đồng nguyên tự của một từ gốc hán là VỰNG, cụ thể như sau:
[Ancient Han Phonetic Database]
Chữ Hán: 暈
Thanh mẫu: 云
Vận mẫu: 文
Thanh điệu: 去
Độ mở: 合
Nhiếp: 臻
Đẳng: 三等
Thiết âm: 王問
Ghi chú: 见《史记》。字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: gi ̯wən
Lí Phương Quế: gwjənh
Vương Lực: ɣiuən
Baxter: wjuns
Trịnh Trương Thượng Phương: ɢuns
Phan Ngộ Vân: ɢuns
Như vậy, QUẦNG là Tiền Hán Việt, còn lại đều là các âm Việt hóa. (không có yếu tố Hán Việt)
cũng là các đồng nguyên tự của một từ gốc hán là VỰNG, cụ thể như sau:
[Ancient Han Phonetic Database]
Chữ Hán: 暈
Thanh mẫu: 云
Vận mẫu: 文
Thanh điệu: 去
Độ mở: 合
Nhiếp: 臻
Đẳng: 三等
Thiết âm: 王問
Ghi chú: 见《史记》。字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: gi ̯wən
Lí Phương Quế: gwjənh
Vương Lực: ɣiuən
Baxter: wjuns
Trịnh Trương Thượng Phương: ɢuns
Phan Ngộ Vân: ɢuns
Như vậy, QUẦNG là Tiền Hán Việt, còn lại đều là các âm Việt hóa. (không có yếu tố Hán Việt)
Từ nguyên của Quây- Vây- Vầy
về chữ QUÂY- VÂY,
đây là một từ gốc Hán, âm Hán Việt là VI, cụ thể nhưu sau:
[Ancient Han Phonetic Database]
Chữ Hán: 圍
Thanh mẫu: 云
Vận mẫu: 微
Thanh điệu: 平
Độ mở: 合
Nhiếp: 止
Đẳng: 三等
Thiết âm: 雨非
Ghi chú: 字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: gi ̯wər
Lí Phương Quế: gwjəd
Vương Lực: ɣiuəi
Baxter: wjəj
Trịnh Trương Thượng Phương: ɢʷɯl
Phan Ngộ Vân: ɢul
Như vậy, QUÂY là Tiền Hán Việt, còn VÂY và VẦY (trong XUM VẦY) là các âm Việt hóa.
đây là một từ gốc Hán, âm Hán Việt là VI, cụ thể nhưu sau:
[Ancient Han Phonetic Database]
Chữ Hán: 圍
Thanh mẫu: 云
Vận mẫu: 微
Thanh điệu: 平
Độ mở: 合
Nhiếp: 止
Đẳng: 三等
Thiết âm: 雨非
Ghi chú: 字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: gi ̯wər
Lí Phương Quế: gwjəd
Vương Lực: ɣiuəi
Baxter: wjəj
Trịnh Trương Thượng Phương: ɢʷɯl
Phan Ngộ Vân: ɢul
Như vậy, QUÂY là Tiền Hán Việt, còn VÂY và VẦY (trong XUM VẦY) là các âm Việt hóa.
Từ nguyên của Vụt- Vọt- Vót- Mót
Về chữ VÓT, thực ra không nên nhầm theo Bỉ Nhu,
đó không phải là "vót nhọn cho thành roi nhỏ"
mà VÓT- VỌT là từ Việt cổ, đều là "cái roi".
tục ngữ: thương cho roi cho vọt...
Chỉ Nam ngọc âm: cung kiện: túi cung bền sao, Mã tiên: vọt ngựa giục vào hăm hăm
Thiên Nam ngữ lục: đúc một ngựa sắt ngàn cân, luyện một vọt sắt mười phẩn cả cao [Nguyễn Ngọc San 2003: 220]
Truyền kỳ mạn lục: Nối nghe giữa trời có tiếng phải vọt đánh mà khóc lóc (QI, 44a)
Thêm đau vọt đánh máu chảy đầm đìa (QIV, 22a) [Nguyễn Quang Hồng Tự điển chữ Nôm2006: nxb GD, H, tr1245].
Thiền tông khóa hư ngữ lục (tk XIV): Khách đi đường giơ vọt chóng bằng tên, thuyền về bến quai chèo chỉn kíp bằng thoi (46b)
Mười xin lòng ngựa chớ còn phải giơ vọt nữa (75a).[Trần Thái Tông.Thiền tông khóa hư ngữ lục. Tuệ Tĩnh giải nghĩa. Trần trọng Dương (khảo cứu, phiên chú). TT Quốc học, Nxb Văn học. Hà Nội. 2009]
Kết luận, ta có chuổi đồng nguyên: MÓT- VÓT- VỌT và VỤT (bằng cái vọt)
đó không phải là "vót nhọn cho thành roi nhỏ"
mà VÓT- VỌT là từ Việt cổ, đều là "cái roi".
tục ngữ: thương cho roi cho vọt...
Chỉ Nam ngọc âm: cung kiện: túi cung bền sao, Mã tiên: vọt ngựa giục vào hăm hăm
Thiên Nam ngữ lục: đúc một ngựa sắt ngàn cân, luyện một vọt sắt mười phẩn cả cao [Nguyễn Ngọc San 2003: 220]
Truyền kỳ mạn lục: Nối nghe giữa trời có tiếng phải vọt đánh mà khóc lóc (QI, 44a)
Thêm đau vọt đánh máu chảy đầm đìa (QIV, 22a) [Nguyễn Quang Hồng Tự điển chữ Nôm2006: nxb GD, H, tr1245].
Thiền tông khóa hư ngữ lục (tk XIV): Khách đi đường giơ vọt chóng bằng tên, thuyền về bến quai chèo chỉn kíp bằng thoi (46b)
Mười xin lòng ngựa chớ còn phải giơ vọt nữa (75a).[Trần Thái Tông.Thiền tông khóa hư ngữ lục. Tuệ Tĩnh giải nghĩa. Trần trọng Dương (khảo cứu, phiên chú). TT Quốc học, Nxb Văn học. Hà Nội. 2009]
Kết luận, ta có chuổi đồng nguyên: MÓT- VÓT- VỌT và VỤT (bằng cái vọt)
Từ nguyễn của Quạnh- Vắng
QUẠNH- VẮNG- Goạnh có thể so sánh với cách tái lập âm Hán Thượng cổ như sau:
Chữ Hán: 煢
Thanh mẫu: 群
Vận mẫu: 清
Thanh điệu: 平
Độ mở: 合
Nhiếp: 梗
Đẳng: 三等
Thiết âm: 渠營
Ghi chú: 字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
B.Karlgren: gʹi ̯we ̆ŋ
Lí Phương Quế: gwjiŋ
Vương Lực: giueŋ
W.Baxter: gʷjeŋ
Trịnh Trương Thượng Phương: gʷeŋ
Phan Ngộ Vân: gʷeŋ
Chữ Hán: 煢
Thanh mẫu: 群
Vận mẫu: 清
Thanh điệu: 平
Độ mở: 合
Nhiếp: 梗
Đẳng: 三等
Thiết âm: 渠營
Ghi chú: 字见《说文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
B.Karlgren: gʹi ̯we ̆ŋ
Lí Phương Quế: gwjiŋ
Vương Lực: giueŋ
W.Baxter: gʷjeŋ
Trịnh Trương Thượng Phương: gʷeŋ
Phan Ngộ Vân: gʷeŋ
Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012
từ nguyên của "bóc, róc, rọc, lóc, lọc, gióc, giọc, tróc"
Chữ Hán: 剝
Thanh mẫu: 幫
Vận mẫu: 覺
Thanh điệu: 入
Độ mở: 开
Nhiếp: 江
Đẳng: 二等
Thiết âm: 北角
Ghi chú: 見於《說文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: pu ̆k
Lí Phương Quế: pruk
Vương Lực: peok
Baxter: prok
Trịnh Trương Thượng Phương: proog
Phan Ngộ Vân: proog
Âm Hán Việt là BÁC, âm Bắc kinh là bō, bāo.
Các nhà ngữ âm học lịch sử dựa vào các lưu tích trong chữ Hán để tiến hành tái lập.
Cụ thể, thanh phù của chữ trên là LỤC 彔, thanh phù này cho hàng loạt các chữ hình thanh có âm này như 錄祿碌淥逯. Mặt khác âm BÁC của chữ đang xét là căn cứ quan trọng nhất để có thể tiến hành tái lập thủy âm kép *pr-.
có thể thấy tiếng Việt còn giữ một số lưu tích của thủy âm kép CC trong tiếng Hán Thượng cổ.
1. *pr-> rụng -r-> *pok > bóc (bóc lá mía), bóc lột, trong đó "lột" mới có khả năng là từ gốc Nam Á, bóc = lột, tức bóc đi và lột ra. Lại thêm từ "bóc mẽ", "bóc tem". Có khả năng "bóc" còn cho biến thể "vạc" (hết nạc thì vạc đến xương).
2. *pr-> rụng -p-> *rok > róc (róc mía), rọc (rọc giấy)
3. *pr-> rụng -p-> *rok > lóc/ lọc (lóc/ lọc xương cá).
4. *pr-> *br-/ *bl-> giọc/ gióc/ tróc (tróc vẩy, gióc vẩy)
5. Bác với tư cách là âm đời Đường, đã được dùng khá linh loạt, như: bác bỏ, phản bác, thư bác, phiếu bác, biện bác
Thanh mẫu: 幫
Vận mẫu: 覺
Thanh điệu: 入
Độ mở: 开
Nhiếp: 江
Đẳng: 二等
Thiết âm: 北角
Ghi chú: 見於《說文》
Phục nguyên âm thượng cổ:
Karlgren: pu ̆k
Lí Phương Quế: pruk
Vương Lực: peok
Baxter: prok
Trịnh Trương Thượng Phương: proog
Phan Ngộ Vân: proog
Âm Hán Việt là BÁC, âm Bắc kinh là bō, bāo.
Các nhà ngữ âm học lịch sử dựa vào các lưu tích trong chữ Hán để tiến hành tái lập.
Cụ thể, thanh phù của chữ trên là LỤC 彔, thanh phù này cho hàng loạt các chữ hình thanh có âm này như 錄祿碌淥逯. Mặt khác âm BÁC của chữ đang xét là căn cứ quan trọng nhất để có thể tiến hành tái lập thủy âm kép *pr-.
có thể thấy tiếng Việt còn giữ một số lưu tích của thủy âm kép CC trong tiếng Hán Thượng cổ.
1. *pr-> rụng -r-> *pok > bóc (bóc lá mía), bóc lột, trong đó "lột" mới có khả năng là từ gốc Nam Á, bóc = lột, tức bóc đi và lột ra. Lại thêm từ "bóc mẽ", "bóc tem". Có khả năng "bóc" còn cho biến thể "vạc" (hết nạc thì vạc đến xương).
2. *pr-> rụng -p-> *rok > róc (róc mía), rọc (rọc giấy)
3. *pr-> rụng -p-> *rok > lóc/ lọc (lóc/ lọc xương cá).
4. *pr-> *br-/ *bl-> giọc/ gióc/ tróc (tróc vẩy, gióc vẩy)
5. Bác với tư cách là âm đời Đường, đã được dùng khá linh loạt, như: bác bỏ, phản bác, thư bác, phiếu bác, biện bác
Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012
Từ nguyên của "ngạnh, cành, nghển, nghén,.. "
Trích bài "Từ nguyên một số từ đơn tiết gốc Hán" trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. 2011.
Từ nguyên của một số từ có thanh phù cánh 更.
Thanh phù更này được dùng để ghi âm cho nhiều chữ Hán có âm đọc Hán Việt là ngạnh như: 梗, 硬, 骾, 鯁. Các từ này đều đọc theo âm Bắc Kinh hiện đại là /geng3/ hoặc /ying3 /. Trên nguyên tắc tương ứng ngữ âm và tương ứng ngữ nghĩa, chúng ta tạm thời có thể nhận định rằng đây là các nguyên tự của một số từ gốc Hán đơn tiết trong tiếng Việt. Cụ thể như sau. Chữ ngạnh 梗 là nguyên từ của các từ cành, cọng, cậng, cặng, cuộng, cuống , nhánh, nhành , ngành (chi ngành, chi nhánh ) và ngồng . Chữ ngành được ghi bằng chữ Nôm 梗 xuất hiện trong một số văn cảnh sau: gạn gùng ngọn hỏi ngành tra (Kiều, 36b), gạn gùng ngành ngọn cho tường (Kiều, 43b), ngành than ngọn thở nhường quên bóng dời (Hoa tiên, 37b). Chữ nhánh được ghi bằng chữ Nôm 梗 xuất hiện trong một số từ điển cổ như Bá Đa Lộc Bỉ Nhu (1772-1773), Huình Tịnh Của (1895-1896).
Không chỉ có vậy, khi là động từ, nó còn cho ta từ nghển, nghểnh với nghĩa “vươn cổ lên” . Ở một nét nghĩa khác khi là một động từ, từ ngạnh 梗này đồng thời là nguyên từ của nghẽn, tiếng Hán có từ ngạnh tắc 梗塞 , được dịch đối âm tiết sang tiếng Việt là tắc nghẽn . Có điều đáng lưu ý là ở hai nét nghĩa vừa nêu, thì nghĩa phù mộc của chữ ngạnh lại không tương thích với trường nghĩa của từ đang xét. Điều này khiến chúng tôi suy đoán rằng đây là một chữ giả tá dùng thông. Tra từ điển, chúng tôi thấy chữ ngạnh 哽có lẽ là từ gốc, với bộ khẩu trỏ trường nghĩa liên quan đến mồm miệng, ăn uống. Từ điển của Lâm Ngữ Đường ghi nhận rõ như sau: “哽塞 [geng3se4], V.i., be choked and unable to speak” (bực tức không nói ra được: tức nghẹn). Như thế, chữ ngạnh 哽 này có lẽ vốn mang nét nghĩa là “tắc ở cổ họng không phát ra thành tiếng”, mà trong tiếng Việt chúng ta đọc là nghẹn và nghén. Sách Thuyết văn ghi: 哽,语为舌所介也 cạnh: tiếng nói bị lưỡi chặn lại. Thiên Lễ nhạc chí礼乐志 sách Hán thư汉书ghi: 祝哽在前,祝噎在后 chúc ngạnh tại tiền, chúc ngạnh tại hậu (khi đọc lời chúc thánh, thì nghẹn phía trước; khi đọc lời chúc thánh thì nghẹn phía sau). Theo sự ghi nhận của Đại từ điển tiếng Việt, từ nghẹn có hai nghĩa: “đgt. 1. bị tắc trong cổ họng. đang ăn bị nghẹn. nghẹn lời. muốn nói mà giọng nghẹn lại. 2. (Cây) ngừng phát triển không lớn được. Nghẹn đòng.” Trong thuật ngữ y học còn có từ nuốt nghẹn . Nghẹn lại có hình thức láy là nghèn nghẹn, nghẹn ngào, nghẹn tắc, nghẹn ứ. Nghèn nghẹn 哽哽: nghẹn khí, uẩn ức trong lồng ngực. Nghẹn tắc 哽塞 trong tiếng Việt là đảo âm của tắc nghẹn. Nghẹn ứ : Ứ là âm trại của ế噎. Ế và ứ có vị trí cấu âm gần nhau, ứ/ ế 噎có nghĩa là nghẹn, khác với chữ ứ 瘀trong từ ứ máu, khác với ứ 淤trong ứ đọng, ứ bùn, khác với ứ 飫trong no ứ ; như vậy nghẹn và ứ là hai từ đồng nghĩa, cấu trúc của từ kép nghẹn ứ là cấu trúc đẳng lập đồng đẳng giống như từ u minh. Trại âm từ nghẹn sang nghẽn là điều có thể xảy ra trên thực tế. Phương thức biến đổi ngữ âm này trong tiếng Việt đã thay thế cho phương pháp gia cố thanh phù hay dùng phép giả tá trong chữ Hán.
Từ nghén trong thai nghén, ốm nghén trỏ hiện tượng không ăn được hay nôn ọe khi mang thai. Từ nghén sau còn trỏ cả các hiện tượng khác của sản phụ, như hiện tượng thèm ăn, ví dụ: nghén cơm cháy, nghén nước mắm, nghén ốc. Từ nghén còn mở rộng theo trường nghĩa “thèm” như trên, ví dụ: nghén nhạc, có hiện tượng các bà bầu nghén ‘yêu’. Và rộng nhất, nghén còn để trỏ hiện tượng đàn ông ốm thay vợ khi vợ đang có bầu, ví dụ: Các cụ ngày xưa đúc kết ra rằng đàn ông mà nghén thay vợ chứng tỏ người đó yêu vợ rất nhiều và người vợ sau này sinh nở sẽ gặp nhiều may mắn. Thai nghén còn có nghĩa phái sinh trỏ việc nung nấu ý tưởng và cảm hứng để sáng tác nghệ thuật.
Cũng bằng phương pháp gia cố bộ thủ của chữ Hán, chúng ta còn có từ ngạnh硬 (bộ thạch) với nghĩa ban đầu là trỏ độ cứng của đá, sau khi mở rộng nét nghĩa, tiếng Hán có từ kính勁trỏ độ cứng cỏi của sức lực khí tiết con người. Chữ cứng được ghi nhận trong Đại từ điển tiếng Việt (2008) gồm có bảy nét nghĩa. Ngoài ra cứng còn là một từ tố tạo nên một số từ vựng có hai âm tiết như: cứng cát, cứng cỏi, cứng còng, cứng cổ, cứng đầu , cứng cựa, cứng đờ, cứng họng, cứng lưỡi, cứng miệng, cứng ngắc, cứng nhắc, cứng quèo, cứng rắn, cứng hóa (xi măng hóa), cương cứng, cứng đét, cưng cứng, cứng cựng, ổ cứng, phần cứng, đĩa cứng , hàng cứng, độ cứng (độ PH của nước) , tiện cứng, bìa cứng, siêu cứng, cứng tay , nằm cứng , vé cứng, giường cứng, ghế cứng , ngồi cứng, nằm cứng, xơ cứng bì. Một số kết hợp với từ cứng đang có xu hướng trở thành từ vựng cố định, như: chết cứng, xơ cứng, kẹt cứng, hóc cứng, mặn cứng, chát cứng 澀硬, liệt cứng劣硬, tê cứng痹硬, lạnh cứng冷硬, đông cứng凍硬 , nghẹn cứng哽硬 . Có thể thấy các nét nghĩa dẫn thân sau này thường là nghĩa bóng để trỏ sự ương bướng, cố chấp hay sự vững vàng về một khả năng chuyên môn nào đó.
Với âm ngạnh 硬chúng ta có từ ngạnh trực硬直 , cương ngạnh 剛硬 , ngang ngạnh , ngoan ngạnh 頑 硬 , ương ngạnh . Đây có lẽ còn là nguyên từ của từ ngang (ngang bướng, ngang ngược 硬虐 , ngang tàn 硬殘 ) trong tiếng Việt. Ngang còn có một nghĩa dẫn thân khác là “ngang qua”. Từ ngang đi khá sâu vào tiếng Việt, cho ta một số cụm như: ngang phè phè, ngang như cua, nhà ngang, đò ngang 渡硬, xà ngang闒 硬 . Xa hơn nữa, nó có thể là nguyên từ của từ ngáng trong ngáng chân, ngáng đường, ngáng trở.
Cũng bằng cách gia cố bộ thủ, tiếng Hán còn có từ ngạnh鯁 là một danh từ để trỏ xương cá . Đại từ điển tiếng Việt (2008) ghi: “ngạnh dt. 1. mũi nhọn đâm ngang chéo ra, ngược với chiều của mũi nhọn chính để làm cho vật khi mắc khó tuột, giẫy ra được: ngạnh cầu. Chông có nhiều ngạnh. 2. gai xương cứng ở vây, ngực một số loài vật, cá: ngạnh cá trê” [sdd, tr.1099]. Tuy nhiên, nếu xét theo tiêu chí từ nguyên thì nên đổi nét nghĩa thứ hai lên trước, bởi nét nghĩa “mũi nhọn quay ngược” ở nét nghĩa thứ nhất là nghĩa dẫn thân, ngay ở nét nghĩa này chúng tôi còn tìm được một số ví dụ cho thấy sự mở rộng nét nghĩa, như một số ví dụ dưới đây: Khóa nòng then xoay trông như cái ngón tay đầu có ngạnh, nếu có nhiều tầng ngạnh thì giống khóa nòng ren cắt của pháo. Tất cả binh lính La Mã đều trang bị 3-5 ngọn lao pilla, đầu có ngạnh tam giác. Cho em hỏi luôn, xe lanos thì dây công tơ mét 2 đầu có ngạnh ngang hay một đầu ngạnh ngang và một đầu ngạnh vuông ạ? Có một biến âm khác của ngạnh trong tiếng Việt, đó là cạnh với nét nghĩa: góc viền dạng chóp nhọn của một vật thể hay hình khối có độ sắc. Với nét nghĩa tương tự như từ ngạnh ở trên, chúng ta có từ ghép sắc cạnh. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (2008) ghi: “cạnh d. 1. chỗ một mặt phẳng tiếp giáp với một mặt phẳng khác trong cùng một vật. Mảnh chai có cạnh sắc. 2. chỗ sát liền bên. nhà ở cạnh đường. đứng cạnh nhau. đặt cạnh lối đi. bên cạnh thành tích còn có một số khuyết điểm. ĐN: mé, rìa. 3. Đoạn thẳng làm thành phần của một hình. hình vuông có bốn cạnh bằng nhau. cạnh của một góc” . Tuy nhiên, chúng tôi sẽ phân xuất từ này theo các lớp nghĩa như sau. Nghĩa gốc của cạnh 鯁 là cái ngạnh sắc của cá. Từ nghĩa gốc này chúng ta mới có nghĩa phái sinh cấp thứ hai. Đó là cạnh với nét nghĩa “cái mũi nhọn”. Mũi nhọn này có thể là hình chóp tròn, chóp hai cạnh, chóp ba cạnh vuông, hoặc chóp đa cạnh. Từ đó, ta mới có từ cạnh với vài nghĩa phái sinh như dưới đây. Nghĩa thứ nhất, cạnh để trỏ góc nhọn tiếp giáp của ba mặt phẳng chất liệu để tạo nên độ dày của vật hình khối, cạnh này được tạo nên bởi sự tiếp giáp của ba góc 900, đây chính là nghĩa của cụm vuông thành sắc cạnh (là một nét nghĩa có thể biểu diễn bằng hình ảnh ba chiều). Nghĩa thứ hai, cạnh còn trỏ nơi tiếp giáp giữa hai mặt phẳng của chất liệu để tạo thành góc 900 , góc này cũng tạo nên độ sắc nhất định, có thể gây nguy hiểm (đây là một nét nghĩa có thể biểu diễn bằng hình ảnh hai chiều). Tiếp tục phái sinh từ nét nghĩa phái sinh thứ hai, chúng ta có nét nghĩa thứ nhất mà từ điển của Vietlex đã bàn: “chỗ một mặt phẳng tiếp giáp với một mặt phẳng khác trong cùng một vật. Mảnh chai có cạnh sắc”. Thế nhưng ở phần ví dụ, chúng ta thấy lại có một nét nghĩa phái sinh thứ tư mà từ điển trên chưa phân xuất được, đó là “mép sắc của vật”, mép này không nhất thiết được tạo nên từ hai mặt phẳng, mà có thể từ các mặt vỡ, mặt vỉa, mặt tước. Khi rụng đi nét nghĩa “sắc nhọn”, từ cạnh là một từ đồng nghĩa với các từ mép, rìa (chỉ dùng cho vật thể có hình khối), đây là nét nghĩa thứ năm. Nét nghĩa thứ năm này lại phái sinh thêm một nghĩa nữa, để từ cạnh trở thành một phương vị từ, đây chính là nét nghĩa thứ hai được ghi nhận trong từ điển của Vietlex: “chỗ sát liền bên. nhà ở cạnh đường. đứng cạnh nhau. đặt cạnh lối đi.” Có thể định nghĩa lại như sau cạnh là trỏ vị trí ở ngay kề bên mép ngoài, rìa ngoài, cạnh ngoài của một sự vật, hay không gian cụ thể có ranh giới nào đó. Từ nét nghĩa thứ năm này, chúng ta mới có nét nghĩa phái sinh thứ sáu, đó là cạnh là một từ tố trong từ bên cạnh với tư cách là một hư từ, đồng nghĩa với các từ ngoài ra, thêm nữa.
Trong tiếng Việt, chúng ta còn có từ ngạnh 鯁để trỏ loại cá sông da trơn cùng họ với cá lăng, cá trê, cá nheo, cá bò. Cá ngạnh có đầu nhọn bẹt cứng, hai vây hai bên là hai cái xương rất cứng nhọn, đâm rất buốt. Cá ngạnh màu trắng nhợt, thân nhỏ, khác với cá bò thân vàng ruộm và nhỉnh hơn một tí, khác với ca trê to và đen, cá lăng vàng có thân hình lớn và râu dài. Từ điển Chỉ Nam ngọc âm thế kỷ XV có câu: “ngạnh ngư 鯁魚: cá ngạnh rắn xương” . Tiếng Hán có từ ngạnh 骾với bộ cốt với nghĩa chiết tự là xương cứng; ở tiếng Việt chúng ta cũng có từ ngạnh với nghĩa nguyên gốc này mà có lẽ tiếng Hán đã đánh mất, ví dụ: Mẫu tóc tém thích hợp với người có hai bên đầu có ngạnh và phần phía sau đầu hị hóp. Thằng bé lành như đất, nằm bẹp đầu đến nỗi sinh ngạnh.
Từ nguyên của một số từ có thanh phù cánh 更.
Thanh phù更này được dùng để ghi âm cho nhiều chữ Hán có âm đọc Hán Việt là ngạnh như: 梗, 硬, 骾, 鯁. Các từ này đều đọc theo âm Bắc Kinh hiện đại là /geng3/ hoặc /ying3 /. Trên nguyên tắc tương ứng ngữ âm và tương ứng ngữ nghĩa, chúng ta tạm thời có thể nhận định rằng đây là các nguyên tự của một số từ gốc Hán đơn tiết trong tiếng Việt. Cụ thể như sau. Chữ ngạnh 梗 là nguyên từ của các từ cành, cọng, cậng, cặng, cuộng, cuống , nhánh, nhành , ngành (chi ngành, chi nhánh ) và ngồng . Chữ ngành được ghi bằng chữ Nôm 梗 xuất hiện trong một số văn cảnh sau: gạn gùng ngọn hỏi ngành tra (Kiều, 36b), gạn gùng ngành ngọn cho tường (Kiều, 43b), ngành than ngọn thở nhường quên bóng dời (Hoa tiên, 37b). Chữ nhánh được ghi bằng chữ Nôm 梗 xuất hiện trong một số từ điển cổ như Bá Đa Lộc Bỉ Nhu (1772-1773), Huình Tịnh Của (1895-1896).
Không chỉ có vậy, khi là động từ, nó còn cho ta từ nghển, nghểnh với nghĩa “vươn cổ lên” . Ở một nét nghĩa khác khi là một động từ, từ ngạnh 梗này đồng thời là nguyên từ của nghẽn, tiếng Hán có từ ngạnh tắc 梗塞 , được dịch đối âm tiết sang tiếng Việt là tắc nghẽn . Có điều đáng lưu ý là ở hai nét nghĩa vừa nêu, thì nghĩa phù mộc của chữ ngạnh lại không tương thích với trường nghĩa của từ đang xét. Điều này khiến chúng tôi suy đoán rằng đây là một chữ giả tá dùng thông. Tra từ điển, chúng tôi thấy chữ ngạnh 哽có lẽ là từ gốc, với bộ khẩu trỏ trường nghĩa liên quan đến mồm miệng, ăn uống. Từ điển của Lâm Ngữ Đường ghi nhận rõ như sau: “哽塞 [geng3se4], V.i., be choked and unable to speak” (bực tức không nói ra được: tức nghẹn). Như thế, chữ ngạnh 哽 này có lẽ vốn mang nét nghĩa là “tắc ở cổ họng không phát ra thành tiếng”, mà trong tiếng Việt chúng ta đọc là nghẹn và nghén. Sách Thuyết văn ghi: 哽,语为舌所介也 cạnh: tiếng nói bị lưỡi chặn lại. Thiên Lễ nhạc chí礼乐志 sách Hán thư汉书ghi: 祝哽在前,祝噎在后 chúc ngạnh tại tiền, chúc ngạnh tại hậu (khi đọc lời chúc thánh, thì nghẹn phía trước; khi đọc lời chúc thánh thì nghẹn phía sau). Theo sự ghi nhận của Đại từ điển tiếng Việt, từ nghẹn có hai nghĩa: “đgt. 1. bị tắc trong cổ họng. đang ăn bị nghẹn. nghẹn lời. muốn nói mà giọng nghẹn lại. 2. (Cây) ngừng phát triển không lớn được. Nghẹn đòng.” Trong thuật ngữ y học còn có từ nuốt nghẹn . Nghẹn lại có hình thức láy là nghèn nghẹn, nghẹn ngào, nghẹn tắc, nghẹn ứ. Nghèn nghẹn 哽哽: nghẹn khí, uẩn ức trong lồng ngực. Nghẹn tắc 哽塞 trong tiếng Việt là đảo âm của tắc nghẹn. Nghẹn ứ : Ứ là âm trại của ế噎. Ế và ứ có vị trí cấu âm gần nhau, ứ/ ế 噎có nghĩa là nghẹn, khác với chữ ứ 瘀trong từ ứ máu, khác với ứ 淤trong ứ đọng, ứ bùn, khác với ứ 飫trong no ứ ; như vậy nghẹn và ứ là hai từ đồng nghĩa, cấu trúc của từ kép nghẹn ứ là cấu trúc đẳng lập đồng đẳng giống như từ u minh. Trại âm từ nghẹn sang nghẽn là điều có thể xảy ra trên thực tế. Phương thức biến đổi ngữ âm này trong tiếng Việt đã thay thế cho phương pháp gia cố thanh phù hay dùng phép giả tá trong chữ Hán.
Từ nghén trong thai nghén, ốm nghén trỏ hiện tượng không ăn được hay nôn ọe khi mang thai. Từ nghén sau còn trỏ cả các hiện tượng khác của sản phụ, như hiện tượng thèm ăn, ví dụ: nghén cơm cháy, nghén nước mắm, nghén ốc. Từ nghén còn mở rộng theo trường nghĩa “thèm” như trên, ví dụ: nghén nhạc, có hiện tượng các bà bầu nghén ‘yêu’. Và rộng nhất, nghén còn để trỏ hiện tượng đàn ông ốm thay vợ khi vợ đang có bầu, ví dụ: Các cụ ngày xưa đúc kết ra rằng đàn ông mà nghén thay vợ chứng tỏ người đó yêu vợ rất nhiều và người vợ sau này sinh nở sẽ gặp nhiều may mắn. Thai nghén còn có nghĩa phái sinh trỏ việc nung nấu ý tưởng và cảm hứng để sáng tác nghệ thuật.
Cũng bằng phương pháp gia cố bộ thủ của chữ Hán, chúng ta còn có từ ngạnh硬 (bộ thạch) với nghĩa ban đầu là trỏ độ cứng của đá, sau khi mở rộng nét nghĩa, tiếng Hán có từ kính勁trỏ độ cứng cỏi của sức lực khí tiết con người. Chữ cứng được ghi nhận trong Đại từ điển tiếng Việt (2008) gồm có bảy nét nghĩa. Ngoài ra cứng còn là một từ tố tạo nên một số từ vựng có hai âm tiết như: cứng cát, cứng cỏi, cứng còng, cứng cổ, cứng đầu , cứng cựa, cứng đờ, cứng họng, cứng lưỡi, cứng miệng, cứng ngắc, cứng nhắc, cứng quèo, cứng rắn, cứng hóa (xi măng hóa), cương cứng, cứng đét, cưng cứng, cứng cựng, ổ cứng, phần cứng, đĩa cứng , hàng cứng, độ cứng (độ PH của nước) , tiện cứng, bìa cứng, siêu cứng, cứng tay , nằm cứng , vé cứng, giường cứng, ghế cứng , ngồi cứng, nằm cứng, xơ cứng bì. Một số kết hợp với từ cứng đang có xu hướng trở thành từ vựng cố định, như: chết cứng, xơ cứng, kẹt cứng, hóc cứng, mặn cứng, chát cứng 澀硬, liệt cứng劣硬, tê cứng痹硬, lạnh cứng冷硬, đông cứng凍硬 , nghẹn cứng哽硬 . Có thể thấy các nét nghĩa dẫn thân sau này thường là nghĩa bóng để trỏ sự ương bướng, cố chấp hay sự vững vàng về một khả năng chuyên môn nào đó.
Với âm ngạnh 硬chúng ta có từ ngạnh trực硬直 , cương ngạnh 剛硬 , ngang ngạnh , ngoan ngạnh 頑 硬 , ương ngạnh . Đây có lẽ còn là nguyên từ của từ ngang (ngang bướng, ngang ngược 硬虐 , ngang tàn 硬殘 ) trong tiếng Việt. Ngang còn có một nghĩa dẫn thân khác là “ngang qua”. Từ ngang đi khá sâu vào tiếng Việt, cho ta một số cụm như: ngang phè phè, ngang như cua, nhà ngang, đò ngang 渡硬, xà ngang闒 硬 . Xa hơn nữa, nó có thể là nguyên từ của từ ngáng trong ngáng chân, ngáng đường, ngáng trở.
Cũng bằng cách gia cố bộ thủ, tiếng Hán còn có từ ngạnh鯁 là một danh từ để trỏ xương cá . Đại từ điển tiếng Việt (2008) ghi: “ngạnh dt. 1. mũi nhọn đâm ngang chéo ra, ngược với chiều của mũi nhọn chính để làm cho vật khi mắc khó tuột, giẫy ra được: ngạnh cầu. Chông có nhiều ngạnh. 2. gai xương cứng ở vây, ngực một số loài vật, cá: ngạnh cá trê” [sdd, tr.1099]. Tuy nhiên, nếu xét theo tiêu chí từ nguyên thì nên đổi nét nghĩa thứ hai lên trước, bởi nét nghĩa “mũi nhọn quay ngược” ở nét nghĩa thứ nhất là nghĩa dẫn thân, ngay ở nét nghĩa này chúng tôi còn tìm được một số ví dụ cho thấy sự mở rộng nét nghĩa, như một số ví dụ dưới đây: Khóa nòng then xoay trông như cái ngón tay đầu có ngạnh, nếu có nhiều tầng ngạnh thì giống khóa nòng ren cắt của pháo. Tất cả binh lính La Mã đều trang bị 3-5 ngọn lao pilla, đầu có ngạnh tam giác. Cho em hỏi luôn, xe lanos thì dây công tơ mét 2 đầu có ngạnh ngang hay một đầu ngạnh ngang và một đầu ngạnh vuông ạ? Có một biến âm khác của ngạnh trong tiếng Việt, đó là cạnh với nét nghĩa: góc viền dạng chóp nhọn của một vật thể hay hình khối có độ sắc. Với nét nghĩa tương tự như từ ngạnh ở trên, chúng ta có từ ghép sắc cạnh. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (2008) ghi: “cạnh d. 1. chỗ một mặt phẳng tiếp giáp với một mặt phẳng khác trong cùng một vật. Mảnh chai có cạnh sắc. 2. chỗ sát liền bên. nhà ở cạnh đường. đứng cạnh nhau. đặt cạnh lối đi. bên cạnh thành tích còn có một số khuyết điểm. ĐN: mé, rìa. 3. Đoạn thẳng làm thành phần của một hình. hình vuông có bốn cạnh bằng nhau. cạnh của một góc” . Tuy nhiên, chúng tôi sẽ phân xuất từ này theo các lớp nghĩa như sau. Nghĩa gốc của cạnh 鯁 là cái ngạnh sắc của cá. Từ nghĩa gốc này chúng ta mới có nghĩa phái sinh cấp thứ hai. Đó là cạnh với nét nghĩa “cái mũi nhọn”. Mũi nhọn này có thể là hình chóp tròn, chóp hai cạnh, chóp ba cạnh vuông, hoặc chóp đa cạnh. Từ đó, ta mới có từ cạnh với vài nghĩa phái sinh như dưới đây. Nghĩa thứ nhất, cạnh để trỏ góc nhọn tiếp giáp của ba mặt phẳng chất liệu để tạo nên độ dày của vật hình khối, cạnh này được tạo nên bởi sự tiếp giáp của ba góc 900, đây chính là nghĩa của cụm vuông thành sắc cạnh (là một nét nghĩa có thể biểu diễn bằng hình ảnh ba chiều). Nghĩa thứ hai, cạnh còn trỏ nơi tiếp giáp giữa hai mặt phẳng của chất liệu để tạo thành góc 900 , góc này cũng tạo nên độ sắc nhất định, có thể gây nguy hiểm (đây là một nét nghĩa có thể biểu diễn bằng hình ảnh hai chiều). Tiếp tục phái sinh từ nét nghĩa phái sinh thứ hai, chúng ta có nét nghĩa thứ nhất mà từ điển của Vietlex đã bàn: “chỗ một mặt phẳng tiếp giáp với một mặt phẳng khác trong cùng một vật. Mảnh chai có cạnh sắc”. Thế nhưng ở phần ví dụ, chúng ta thấy lại có một nét nghĩa phái sinh thứ tư mà từ điển trên chưa phân xuất được, đó là “mép sắc của vật”, mép này không nhất thiết được tạo nên từ hai mặt phẳng, mà có thể từ các mặt vỡ, mặt vỉa, mặt tước. Khi rụng đi nét nghĩa “sắc nhọn”, từ cạnh là một từ đồng nghĩa với các từ mép, rìa (chỉ dùng cho vật thể có hình khối), đây là nét nghĩa thứ năm. Nét nghĩa thứ năm này lại phái sinh thêm một nghĩa nữa, để từ cạnh trở thành một phương vị từ, đây chính là nét nghĩa thứ hai được ghi nhận trong từ điển của Vietlex: “chỗ sát liền bên. nhà ở cạnh đường. đứng cạnh nhau. đặt cạnh lối đi.” Có thể định nghĩa lại như sau cạnh là trỏ vị trí ở ngay kề bên mép ngoài, rìa ngoài, cạnh ngoài của một sự vật, hay không gian cụ thể có ranh giới nào đó. Từ nét nghĩa thứ năm này, chúng ta mới có nét nghĩa phái sinh thứ sáu, đó là cạnh là một từ tố trong từ bên cạnh với tư cách là một hư từ, đồng nghĩa với các từ ngoài ra, thêm nữa.
Trong tiếng Việt, chúng ta còn có từ ngạnh 鯁để trỏ loại cá sông da trơn cùng họ với cá lăng, cá trê, cá nheo, cá bò. Cá ngạnh có đầu nhọn bẹt cứng, hai vây hai bên là hai cái xương rất cứng nhọn, đâm rất buốt. Cá ngạnh màu trắng nhợt, thân nhỏ, khác với cá bò thân vàng ruộm và nhỉnh hơn một tí, khác với ca trê to và đen, cá lăng vàng có thân hình lớn và râu dài. Từ điển Chỉ Nam ngọc âm thế kỷ XV có câu: “ngạnh ngư 鯁魚: cá ngạnh rắn xương” . Tiếng Hán có từ ngạnh 骾với bộ cốt với nghĩa chiết tự là xương cứng; ở tiếng Việt chúng ta cũng có từ ngạnh với nghĩa nguyên gốc này mà có lẽ tiếng Hán đã đánh mất, ví dụ: Mẫu tóc tém thích hợp với người có hai bên đầu có ngạnh và phần phía sau đầu hị hóp. Thằng bé lành như đất, nằm bẹp đầu đến nỗi sinh ngạnh.
nguyên của từ Phường
Trích bài "Từ nguyên một số từ đơn tiết gốc Hán" trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. 2011.
Từ Phường坊nguyên trong tiếng Hán có khoảng bảy nghĩa, nhưng chỉ có hai nghĩa sau đi vào tiếng Việt. Thứ nhất, phường là nơi sản xuất của các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống; thứ hai phường trỏ các loại chợ bán dọc bên đường hoặc các quầy các tiệm trong chợ. Vào tiếng Việt, phường trỏ tổ chức liên kết tự nguyện của những người làm cùng một nghề, đây chính là nghĩa của phường trong 36 phố phường Hà Nội, hay phường vải, phường hát, phường bát âm, phường thợ, phường chèo, phường hội... Cứ liệu sớm nhất hiện nay tìm được là trong sách Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, ví dụ: Ở nhờ nhà phường Đồng Xuân bên cầu (Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm, I, 15a), mọi xã bản phường chia rước tượng Phật (Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, 20a) .Về sau, việc hành chính hóa các đơn vị này đã khiến cho phường còn để chỉ đơn vị hành chính trong nội thành, nội thị tổ chức theo khu vực dân cư, tiến tới trở thành đơn vị hành chính dưới cấp quận. Với nét nghĩa này, phường bao gồm cả những khu vực dân cư không nhất thiết phải là làng nghề sản xuất hay kinh doanh nữa. Theo hướng “trỏ nhóm người có cùng đặc điểm hay tính chất xã hội nào đó”, phường trong tiếng Việt còn xuất hiện trong các cụm phường trốn chúa, phường con đỏ,… Một số ngữ liệu cổ như: đánh đàn đánh đó cùng phường chăn trâu (Ngữ, 59b), Một phường rách rưới con như bố (Tú Xương. XIX-XX. Vị Thành giai cú tập biên, 24a) .
Từ Phường坊nguyên trong tiếng Hán có khoảng bảy nghĩa, nhưng chỉ có hai nghĩa sau đi vào tiếng Việt. Thứ nhất, phường là nơi sản xuất của các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống; thứ hai phường trỏ các loại chợ bán dọc bên đường hoặc các quầy các tiệm trong chợ. Vào tiếng Việt, phường trỏ tổ chức liên kết tự nguyện của những người làm cùng một nghề, đây chính là nghĩa của phường trong 36 phố phường Hà Nội, hay phường vải, phường hát, phường bát âm, phường thợ, phường chèo, phường hội... Cứ liệu sớm nhất hiện nay tìm được là trong sách Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, ví dụ: Ở nhờ nhà phường Đồng Xuân bên cầu (Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm, I, 15a), mọi xã bản phường chia rước tượng Phật (Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, 20a) .Về sau, việc hành chính hóa các đơn vị này đã khiến cho phường còn để chỉ đơn vị hành chính trong nội thành, nội thị tổ chức theo khu vực dân cư, tiến tới trở thành đơn vị hành chính dưới cấp quận. Với nét nghĩa này, phường bao gồm cả những khu vực dân cư không nhất thiết phải là làng nghề sản xuất hay kinh doanh nữa. Theo hướng “trỏ nhóm người có cùng đặc điểm hay tính chất xã hội nào đó”, phường trong tiếng Việt còn xuất hiện trong các cụm phường trốn chúa, phường con đỏ,… Một số ngữ liệu cổ như: đánh đàn đánh đó cùng phường chăn trâu (Ngữ, 59b), Một phường rách rưới con như bố (Tú Xương. XIX-XX. Vị Thành giai cú tập biên, 24a) .
Từ nguyên của từ Phố
Trích bài "Từ nguyên một số từ đơn tiết gốc Hán" trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. 2011.
Phố浦 nghĩa gốc trong tiếng Hán là bến nước men sông hoặc nơi sông đổ ra biển. Nguyễn Du 阮攸 trong bài Thu chí 秋至có câu: 回首藍江浦 Hồi thủ Lam giang phố (Ngoảnh đầu về bến sông Lam). Hay Bà Huyện Thanh Quan viết “gác mái ngư ông về viễn phố”, còn phố ở đất kẻ chợ Thăng Long xưa hẳn phải là bến cảng giao thương, từ bến ấy người ta mới trổ nhà dọc hai bên lối lên để đổ hàng và buôn bán ngay tại chỗ (nên mới có từ phố xá 埔舍, tức là phố có nhiều nhà dựng hai bên. Ss. quán xá 館舍 ), buôn bán càng lớn thì phố càng dài, càng kéo sâu vào đất liền, nên chữ Nôm hậu kỳ chữ phố 浦 (vốn là bộ thủy) đã bị thay bằng bộ thổ, được viết thành 埔. Từ phố 埔còn có âm nữa là bộ trong bộ đầu 埔頭 nghĩa là điểm buôn bán thuận tiện giao thông . Địa danh Đông Bộ Đầu東埔頭 có nghĩa từ nguyên là đầu mối giao thương ở cửa nước phía đông kinh thành Thăng Long vậy. Một số ngữ liệu cổ: sánh mở phố phấn chưng ngoại thành Tây đô (Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm, IV, 25b), Thị xá: hàng phố ngồi chơi bán hàng (Pháp Tính. XV. Chỉ nam ngọc âm, 24b), ra phố khăn ngang quàng lấy mặt (Tú Xương. XIX-XX. Vị thành giai cú tập biên, 15b) .
Phố浦 nghĩa gốc trong tiếng Hán là bến nước men sông hoặc nơi sông đổ ra biển. Nguyễn Du 阮攸 trong bài Thu chí 秋至có câu: 回首藍江浦 Hồi thủ Lam giang phố (Ngoảnh đầu về bến sông Lam). Hay Bà Huyện Thanh Quan viết “gác mái ngư ông về viễn phố”, còn phố ở đất kẻ chợ Thăng Long xưa hẳn phải là bến cảng giao thương, từ bến ấy người ta mới trổ nhà dọc hai bên lối lên để đổ hàng và buôn bán ngay tại chỗ (nên mới có từ phố xá 埔舍, tức là phố có nhiều nhà dựng hai bên. Ss. quán xá 館舍 ), buôn bán càng lớn thì phố càng dài, càng kéo sâu vào đất liền, nên chữ Nôm hậu kỳ chữ phố 浦 (vốn là bộ thủy) đã bị thay bằng bộ thổ, được viết thành 埔. Từ phố 埔còn có âm nữa là bộ trong bộ đầu 埔頭 nghĩa là điểm buôn bán thuận tiện giao thông . Địa danh Đông Bộ Đầu東埔頭 có nghĩa từ nguyên là đầu mối giao thương ở cửa nước phía đông kinh thành Thăng Long vậy. Một số ngữ liệu cổ: sánh mở phố phấn chưng ngoại thành Tây đô (Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm, IV, 25b), Thị xá: hàng phố ngồi chơi bán hàng (Pháp Tính. XV. Chỉ nam ngọc âm, 24b), ra phố khăn ngang quàng lấy mặt (Tú Xương. XIX-XX. Vị thành giai cú tập biên, 15b) .
Từ nguyên của từ "Tiết canh"
Trích bài "Từ nguyên một số từ đơn tiết gốc Hán" trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. 2011.
Tiết trong tiết canh, là một dạng âm đọc cổ của huyết 血(máu). Đời Đường, chữ血mới có âm đọc là huyết . Chữ 血 trong tiếng Hán cổ (trước đời Đường) là âm đầu lưỡi, nên nó được dùng làm thanh phù cho các chữ có âm tuất như 侐, 洫, 裇, 殈, 烅, 欰, 卹, 賉đặc biệt chữ tuất 恤 (nghĩa là thương xót- xót cũng là âm Tiền Hán Việt của từ này, có thể so sánh với âm Bắc Kinh hiện nay là / xù /) trong tử tuất 死恤, lân tuất 憐恤. Tiếng Việt hiện nay còn có từ tiền tuất 錢恤hay lương tuất 糧恤 để trỏ tiền lương tháng cho người cô quả mà thân nhân của mình có công với cách mạng , ngoài ra còn có từ quà tuất 饋恤. Trở lại với từ tiết血(huyết), chúng tôi cho rằng âm đọc này là sự bảo lưu văn hóa cúng tế thời cổ với tục ăn máu, uống máu của vật hy sinh. Sách Loại thiên類篇 ghi: 祭所薦牲血。从皿,一象血形 tế sở tiến sinh huyết. Tòng mãnh, nhất tượng huyết hình (huyết là máu vật hy sinh trong cúng tế, chữ thuộc bộ mãnh, chữ nhất ở trên tượng cho hình máu chảy), ý ở đây nói huyết là chữ tượng hình, trỏ dòng máu đang chảy xuống bát tế . Từ điển Hán Việt Nhật dụng thường đàm 日用常談của Phạm Đình Hổ (1768-1839) ghi: huyết canh là tiết canh (tr.26b) . Canh羹 là chữ hội ý, trên là chữ cao 羔nghĩa là dê non (chữ này gồm bộ dương với bốn chấm hỏa), dưới là chữ mỹ美, trỏ mùi thịt tươi ngon. Sách Thuyết văn 说文 nói: 五味和羹 ngũ vị hoà canh. Xét chữ canh羹đời thượng cổ đều chỉ loại thịt có nước ngọt.” Từ đời Trung cổ về sau, người Hoa Hạ khi ăn thịt dê, thường nấu thịt với rau, tạo thành món ăn có nước sệt như súp và nêm thêm ngũ vị hương, đến lúc này canh mới dùng để trỏ các món có nước. Đến đây có thể nhận định rằng, chữ canh trong từ tiết canh của tiếng Việt mang nghĩa nguyên gốc từ thời thượng cổ. Tiết canh là loại món ăn được làm từ máu động vật tươi cộng với sụn, họng và thịt của động vật băm nhỏ. Ngoài ra, món này được ăn kèm với một số gia vị như ớt, tiêu, hành tỏi sống, nước cốt chanh, cũng như rượu đế, các chất ăn kèm này vừa khử mùi chống tanh, đồng thời lại sát trùng diệt khuẩn. Tế máu, ăn máu, và uống máu là một trong những phổ niệm văn hóa của nhiều nền văn minh trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Từ tố tiết đã đi sâu vào hệ thống từ vựng tiếng Việt từ khá sớm, chúng ta còn thấy từ tố này được sử dụng khá linh hoạt trong nhiều trường hợp. Tiết là từ gốc Hán đơn tiết có thể dùng độc lập, như trong các ngữ cắt tiết, chọc tiết, và cũng có thể là từ tố để tạo nên một số ít từ khác như màu tiết gà. Ngoài ra, tiết còn có nghĩa bóng trỏ “sự tức giận sôi máu”, nhưng thường là nó được kết hợp với các từ tố khác như: điên tiết, sôi tiết, nóng tiết, cáu tiết, sặc tiết, hăng tiết, hăng tiết vịt. Câu đối chơi chữ của Nguyễn Khuyến có thể coi là văn cảnh thú vị nhất cho chữ này: tứ thời bát tiết canh chung thủy, ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang (Câu đối viết cho góa phụ bán thịt lợn- Nguyễn Khuyến).
Tiết trong tiết canh, là một dạng âm đọc cổ của huyết 血(máu). Đời Đường, chữ血mới có âm đọc là huyết . Chữ 血 trong tiếng Hán cổ (trước đời Đường) là âm đầu lưỡi, nên nó được dùng làm thanh phù cho các chữ có âm tuất như 侐, 洫, 裇, 殈, 烅, 欰, 卹, 賉đặc biệt chữ tuất 恤 (nghĩa là thương xót- xót cũng là âm Tiền Hán Việt của từ này, có thể so sánh với âm Bắc Kinh hiện nay là / xù /) trong tử tuất 死恤, lân tuất 憐恤. Tiếng Việt hiện nay còn có từ tiền tuất 錢恤hay lương tuất 糧恤 để trỏ tiền lương tháng cho người cô quả mà thân nhân của mình có công với cách mạng , ngoài ra còn có từ quà tuất 饋恤. Trở lại với từ tiết血(huyết), chúng tôi cho rằng âm đọc này là sự bảo lưu văn hóa cúng tế thời cổ với tục ăn máu, uống máu của vật hy sinh. Sách Loại thiên類篇 ghi: 祭所薦牲血。从皿,一象血形 tế sở tiến sinh huyết. Tòng mãnh, nhất tượng huyết hình (huyết là máu vật hy sinh trong cúng tế, chữ thuộc bộ mãnh, chữ nhất ở trên tượng cho hình máu chảy), ý ở đây nói huyết là chữ tượng hình, trỏ dòng máu đang chảy xuống bát tế . Từ điển Hán Việt Nhật dụng thường đàm 日用常談của Phạm Đình Hổ (1768-1839) ghi: huyết canh là tiết canh (tr.26b) . Canh羹 là chữ hội ý, trên là chữ cao 羔nghĩa là dê non (chữ này gồm bộ dương với bốn chấm hỏa), dưới là chữ mỹ美, trỏ mùi thịt tươi ngon. Sách Thuyết văn 说文 nói: 五味和羹 ngũ vị hoà canh. Xét chữ canh羹đời thượng cổ đều chỉ loại thịt có nước ngọt.” Từ đời Trung cổ về sau, người Hoa Hạ khi ăn thịt dê, thường nấu thịt với rau, tạo thành món ăn có nước sệt như súp và nêm thêm ngũ vị hương, đến lúc này canh mới dùng để trỏ các món có nước. Đến đây có thể nhận định rằng, chữ canh trong từ tiết canh của tiếng Việt mang nghĩa nguyên gốc từ thời thượng cổ. Tiết canh là loại món ăn được làm từ máu động vật tươi cộng với sụn, họng và thịt của động vật băm nhỏ. Ngoài ra, món này được ăn kèm với một số gia vị như ớt, tiêu, hành tỏi sống, nước cốt chanh, cũng như rượu đế, các chất ăn kèm này vừa khử mùi chống tanh, đồng thời lại sát trùng diệt khuẩn. Tế máu, ăn máu, và uống máu là một trong những phổ niệm văn hóa của nhiều nền văn minh trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Từ tố tiết đã đi sâu vào hệ thống từ vựng tiếng Việt từ khá sớm, chúng ta còn thấy từ tố này được sử dụng khá linh hoạt trong nhiều trường hợp. Tiết là từ gốc Hán đơn tiết có thể dùng độc lập, như trong các ngữ cắt tiết, chọc tiết, và cũng có thể là từ tố để tạo nên một số ít từ khác như màu tiết gà. Ngoài ra, tiết còn có nghĩa bóng trỏ “sự tức giận sôi máu”, nhưng thường là nó được kết hợp với các từ tố khác như: điên tiết, sôi tiết, nóng tiết, cáu tiết, sặc tiết, hăng tiết, hăng tiết vịt. Câu đối chơi chữ của Nguyễn Khuyến có thể coi là văn cảnh thú vị nhất cho chữ này: tứ thời bát tiết canh chung thủy, ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang (Câu đối viết cho góa phụ bán thịt lợn- Nguyễn Khuyến).
Từ nguyên của các từ hàm - càm - cằm - ngậm - gặm - gậm - ngâm - ngàm
Trích bài "Từ nguyên một số từ đơn tiết gốc Hán" trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. 2011.
Trong chuỗi này ta có từ Hàm 含 là một từ gốc để khảo sát. Sách Thuyết văn giải tự 說文解 字 của Hứa Thận ghi: 含,嗛也 hàm, hiềm dã (hàm, ngậm vậy). Sách Thích danh釋名thiên Thích ẩm thực 釋飲食ghi: 含,口也,合口亭之也。銜亦然也Hàm, khẩu dã, hợp khẩu đình chi dã. Hàm diệc nhiên dã (hàm là miệng, trỏ việc khép miệng rồi giữ nó như thế. Chữ hàm銜 cũng như vậy). Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nghĩa gốc của từ hàm này vốn là một danh từ chỉ chung phần xương dưới (bộ nhai), mà tiếng Việt còn bảo lưu (trong khi tiếng Hán đã rơi mất), tiếng Việt có cụm từ hất hàm. Phần đầu ngoài cùng của xương hàm chính là cái cằm (âm Hán Việt trước đời Đường của chữ 含, dấu tích còn trong thanh phù kim, câm 今), sau này, khi chữ Hán hậu kỳ gia tăng kết cấu hình thanh để khu biệt nét nghĩa thì mới có chữ頷 hàm với nghĩa là cằm (kết cấu: hàm/ càm含là thanh phù kết hợp với bộ hiệt 頁trỏ đầu và các bộ phận ở phần đầu). Vào tiếng Việt, hàm còn là một loại từ dùng để trỏ cả bộ xương răng trên, răng dưới và phần răng phía trước (hàm trên, hàm dưới, hàm mặt) . Ngoài ra, chữ hàm này còn mở rộng nét nghĩa, để trỏ cả phần xương vòm phía trên tạo nên khoang miệng (dù xương này không có khớp và không cử động được), gọi là hàm ếch . Hàm trỏ chung cả khoang miệng, trong văn hóa cổ truyền có lễ phạn hàm . Cuốn từ điển Hán Việt cổ Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa có câu: giáp tư má tựa hoa đào, càng hàm râu mọc giáp xa lồm xồm (4, 15a). Phương ngữ Nghệ An còn lưu giữ âm cổ này dưới hình thức càm hàm, hay cằm hàm. Ví như: “cằm hàm: (T.). dt. cằm: bị đấm trúng cằm hàm.”
Hàm khi là động từ, có nghĩa là giữ vật bằng hai hàm trong trạng thái để nguyên, Hán văn có thành ngữ hàm mai tật tẩu 銜枚疾走 (ngậm hàm đi nhanh) , cho nên hàm còn là nguyên từ của ngậm, chữ Nôm viết là唅 . Trong sách Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, từ ngậm 吟xuất hiện hai lần, ví dụ: nhịn chịu ngậm trong lòng , dịch câu 忍受甘心 nhẫn thụ cam tâm [42a7]; có thức ngậm thiêng liêng trong tam giới dịch từ câu 有識含靈 hữu thức hàm linh [42a7], trong đó cụm ngậm thiêng liêng được dịch từ chữ hàm linh, có nghĩa là dung chứa linh thiêng . Trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh cũng có một số ví dụ như sau: Mọc lông đeo sừng, ngậm sắt, đội yên [23a], trong đó từ ngậm sắt dịch từ chữ hàm thiết啣鐵; Phập phồng sáng đầu núi hằng ngậm bóng nguyệt [55a], trong đó cụm từ ngậm bóng nguyệt dịch từ nguyên văn chữ Hán hàm thố啣兔 . Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi cũng có câu: chim có miệng kêu âu lại ngậm (Tự thán. 108.3). Chúng ta có từ Hán Việt hàm oan 銜冤/ 含冤và một biến âm khác của nó là ngậm oan. Tương tự như vậy là các cặp hàm tiếu銜笑 - ngậm cười/ ngậm cười chín suối, hàm hận銜恨- gậm hờn (gậm một mối căm hờn trong cũi sắt- Nhớ rừng- Thế Lữ).
Hàm 銜còn là một từ tố để trỏ các vật, các máy móc có hai ngàm cử động, ví dụ máy nghiền hàm. Mối tương ứng H- NG còn cho một âm nữa là ngàm. Trong kiến trúc cổ truyền, ngàm là lỗ đục lộng trên cấu kiện gỗ để đóng chốt/ mộng/ngõng vào đó. Tuy nhiên cả với nét nghĩa này, chúng ta vẫn thấy cái ý nghĩa gốc là “cái ngàm dùng để ngậm và giữ cái mộng/cái ngõng/ cái đột ở trong”. Ngàm là dụng cụ cũng có hai hàm dùng để kẹp và giữ vật. Ví dụ một số thuật ngữ kỹ thuật hiện nay và một số văn cảnh: mô men ngàm, ngàm cứng, ngàm di động, ngàm hở, ngàm mềm, ngàm đàn hồi, ngàm một đầu, ngàm chống xoay, ngàm hoàn toàn, ngàm cục bộ, ngàm biên, tấm chu tuyến ngàm, ngàm trượt, ngàm bốn cạnh, ngàm khớp . Thử kéo mẫu thép tròn trơn trên máy kéo nén vạn năng thủy lực Instron Model 2000KN, lực tải tối đa 2000kN, ngàm kẹp thủy lực dạng nêm có tấm chắn không cho mạt sắt lọt vào má trượt .
Phái sinh theo một hướng khác, hàm còn đọc trại thành gậm (hay gặm), để trỏ việc dùng cả hàm để nhai xương, hay ăn cỏ. Sự tương ứng thủy âm H-G-NG ở đây còn có thể thấy qua một ví dụ tương tự khác là từ gẫm (ngẫm, nghiệm ra rằng). Gẫm là cách đọc Hậu Hán Việt của niệm 念, trong đó thanh phù của chữ này là câm/ kim 今. Ngay trong tiếng Hán, chữ niệm念còn cho một biến âm khác là nghiệm chữ Hán là騐 (niệm 念 làm thanh phù cấp hai, còn kim今 là thanh phù cấp một, thanh phù gốc). Thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có câu: từ thuở hóa rồng càng lạ nữa, chúa xuân gẫm càng huyễn thay (Trúc thi, 223.4); trong tập thơ này đồng thời tồn tại từ ngẫm: ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông (Lão hạc, 284.2). Cho thấy, ở thế kỷ XV, biến âm đã là một phương thức để khu biệt các nét nghĩa cho các từ có cùng một nguyên từ.
Theo nghĩa bóng, ngâm 吟tức là ngậm âm, ngậm tiếng ở trong khoang miệng rồi nhả ra theo tiết tấu, nhịp điệu của hơi thơ. Tiếng Việt có các từ theo nghĩa này như ngâm thơ 吟詩, ngâm vịnh 吟詠 , ngâm nga 吟哦 , ngâm ngợi 吟議 , ngâm khúc 吟曲, ngâm tụng 吟誦 , trầm ngâm沈吟 . Phái sinh tiếp theo hướng “để lâu vật trong một trạng thái nào đó”, chúng ta còn có từ ngâm với nét nghĩa “dìm lâu trong chất lỏng”, như ngâm mình, ngâm gạo, có khi việc ngâm đó là để tạo các quá trình phản ứng hóa học hay chuyển đổi chất, thẩm thấu chất, như ngâm thuốc, ngâm dấm, ngâm gỗ, hồng ngâm, rượu ngâm, măng ngâm,… Phái sinh xa hơn cả, chúng ta thấy còn có chữ ngâm với nghĩa bóng là “để việc lại rất lâu không chịu giải quyết” như câu có mỗi việc bé tẹo mà mấy bác hành chính ngâm mãi không xong. Từ các nét nghĩa trên, ta thấy câu thơ của Hồ Xuân Hương “cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ, đợi đến ba thu mới giãi màu” là tinh nghịch hiếm thấy.
Trong chuỗi này ta có từ Hàm 含 là một từ gốc để khảo sát. Sách Thuyết văn giải tự 說文解 字 của Hứa Thận ghi: 含,嗛也 hàm, hiềm dã (hàm, ngậm vậy). Sách Thích danh釋名thiên Thích ẩm thực 釋飲食ghi: 含,口也,合口亭之也。銜亦然也Hàm, khẩu dã, hợp khẩu đình chi dã. Hàm diệc nhiên dã (hàm là miệng, trỏ việc khép miệng rồi giữ nó như thế. Chữ hàm銜 cũng như vậy). Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nghĩa gốc của từ hàm này vốn là một danh từ chỉ chung phần xương dưới (bộ nhai), mà tiếng Việt còn bảo lưu (trong khi tiếng Hán đã rơi mất), tiếng Việt có cụm từ hất hàm. Phần đầu ngoài cùng của xương hàm chính là cái cằm (âm Hán Việt trước đời Đường của chữ 含, dấu tích còn trong thanh phù kim, câm 今), sau này, khi chữ Hán hậu kỳ gia tăng kết cấu hình thanh để khu biệt nét nghĩa thì mới có chữ頷 hàm với nghĩa là cằm (kết cấu: hàm/ càm含là thanh phù kết hợp với bộ hiệt 頁trỏ đầu và các bộ phận ở phần đầu). Vào tiếng Việt, hàm còn là một loại từ dùng để trỏ cả bộ xương răng trên, răng dưới và phần răng phía trước (hàm trên, hàm dưới, hàm mặt) . Ngoài ra, chữ hàm này còn mở rộng nét nghĩa, để trỏ cả phần xương vòm phía trên tạo nên khoang miệng (dù xương này không có khớp và không cử động được), gọi là hàm ếch . Hàm trỏ chung cả khoang miệng, trong văn hóa cổ truyền có lễ phạn hàm . Cuốn từ điển Hán Việt cổ Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa có câu: giáp tư má tựa hoa đào, càng hàm râu mọc giáp xa lồm xồm (4, 15a). Phương ngữ Nghệ An còn lưu giữ âm cổ này dưới hình thức càm hàm, hay cằm hàm. Ví như: “cằm hàm: (T.). dt. cằm: bị đấm trúng cằm hàm.”
Hàm khi là động từ, có nghĩa là giữ vật bằng hai hàm trong trạng thái để nguyên, Hán văn có thành ngữ hàm mai tật tẩu 銜枚疾走 (ngậm hàm đi nhanh) , cho nên hàm còn là nguyên từ của ngậm, chữ Nôm viết là唅 . Trong sách Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, từ ngậm 吟xuất hiện hai lần, ví dụ: nhịn chịu ngậm trong lòng , dịch câu 忍受甘心 nhẫn thụ cam tâm [42a7]; có thức ngậm thiêng liêng trong tam giới dịch từ câu 有識含靈 hữu thức hàm linh [42a7], trong đó cụm ngậm thiêng liêng được dịch từ chữ hàm linh, có nghĩa là dung chứa linh thiêng . Trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh cũng có một số ví dụ như sau: Mọc lông đeo sừng, ngậm sắt, đội yên [23a], trong đó từ ngậm sắt dịch từ chữ hàm thiết啣鐵; Phập phồng sáng đầu núi hằng ngậm bóng nguyệt [55a], trong đó cụm từ ngậm bóng nguyệt dịch từ nguyên văn chữ Hán hàm thố啣兔 . Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi cũng có câu: chim có miệng kêu âu lại ngậm (Tự thán. 108.3). Chúng ta có từ Hán Việt hàm oan 銜冤/ 含冤và một biến âm khác của nó là ngậm oan. Tương tự như vậy là các cặp hàm tiếu銜笑 - ngậm cười/ ngậm cười chín suối, hàm hận銜恨- gậm hờn (gậm một mối căm hờn trong cũi sắt- Nhớ rừng- Thế Lữ).
Hàm 銜còn là một từ tố để trỏ các vật, các máy móc có hai ngàm cử động, ví dụ máy nghiền hàm. Mối tương ứng H- NG còn cho một âm nữa là ngàm. Trong kiến trúc cổ truyền, ngàm là lỗ đục lộng trên cấu kiện gỗ để đóng chốt/ mộng/ngõng vào đó. Tuy nhiên cả với nét nghĩa này, chúng ta vẫn thấy cái ý nghĩa gốc là “cái ngàm dùng để ngậm và giữ cái mộng/cái ngõng/ cái đột ở trong”. Ngàm là dụng cụ cũng có hai hàm dùng để kẹp và giữ vật. Ví dụ một số thuật ngữ kỹ thuật hiện nay và một số văn cảnh: mô men ngàm, ngàm cứng, ngàm di động, ngàm hở, ngàm mềm, ngàm đàn hồi, ngàm một đầu, ngàm chống xoay, ngàm hoàn toàn, ngàm cục bộ, ngàm biên, tấm chu tuyến ngàm, ngàm trượt, ngàm bốn cạnh, ngàm khớp . Thử kéo mẫu thép tròn trơn trên máy kéo nén vạn năng thủy lực Instron Model 2000KN, lực tải tối đa 2000kN, ngàm kẹp thủy lực dạng nêm có tấm chắn không cho mạt sắt lọt vào má trượt .
Phái sinh theo một hướng khác, hàm còn đọc trại thành gậm (hay gặm), để trỏ việc dùng cả hàm để nhai xương, hay ăn cỏ. Sự tương ứng thủy âm H-G-NG ở đây còn có thể thấy qua một ví dụ tương tự khác là từ gẫm (ngẫm, nghiệm ra rằng). Gẫm là cách đọc Hậu Hán Việt của niệm 念, trong đó thanh phù của chữ này là câm/ kim 今. Ngay trong tiếng Hán, chữ niệm念còn cho một biến âm khác là nghiệm chữ Hán là騐 (niệm 念 làm thanh phù cấp hai, còn kim今 là thanh phù cấp một, thanh phù gốc). Thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có câu: từ thuở hóa rồng càng lạ nữa, chúa xuân gẫm càng huyễn thay (Trúc thi, 223.4); trong tập thơ này đồng thời tồn tại từ ngẫm: ngẫm hay sự thế nhẹ bằng lông (Lão hạc, 284.2). Cho thấy, ở thế kỷ XV, biến âm đã là một phương thức để khu biệt các nét nghĩa cho các từ có cùng một nguyên từ.
Theo nghĩa bóng, ngâm 吟tức là ngậm âm, ngậm tiếng ở trong khoang miệng rồi nhả ra theo tiết tấu, nhịp điệu của hơi thơ. Tiếng Việt có các từ theo nghĩa này như ngâm thơ 吟詩, ngâm vịnh 吟詠 , ngâm nga 吟哦 , ngâm ngợi 吟議 , ngâm khúc 吟曲, ngâm tụng 吟誦 , trầm ngâm沈吟 . Phái sinh tiếp theo hướng “để lâu vật trong một trạng thái nào đó”, chúng ta còn có từ ngâm với nét nghĩa “dìm lâu trong chất lỏng”, như ngâm mình, ngâm gạo, có khi việc ngâm đó là để tạo các quá trình phản ứng hóa học hay chuyển đổi chất, thẩm thấu chất, như ngâm thuốc, ngâm dấm, ngâm gỗ, hồng ngâm, rượu ngâm, măng ngâm,… Phái sinh xa hơn cả, chúng ta thấy còn có chữ ngâm với nghĩa bóng là “để việc lại rất lâu không chịu giải quyết” như câu có mỗi việc bé tẹo mà mấy bác hành chính ngâm mãi không xong. Từ các nét nghĩa trên, ta thấy câu thơ của Hồ Xuân Hương “cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ, đợi đến ba thu mới giãi màu” là tinh nghịch hiếm thấy.
Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011
từ nguyên của từ "Đại Cồ Việt"
Khảo về “Đại Cồ Việt”
(Nước Việt - nước Phật giáo)
Trần Trọng Dương (e-mail: trantrongduonghn@gmail.com)
Download bản cứng (có thể trích dẫn, quoteable):
http://www.mediafire.com/?g6075g79zh2t7wy
Quốc hiệu Đại Cồ Việt 大 瞿 越 do vua Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968 SCN. Đại Cồ Việt là quốc hiệu đầu tiên, được dùng trong 8 đời vua của 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý, với quãng thời gian dài 86 năm (từ 968 - 1054). Tức là mãi đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 (1054), vua Lý Thái Tông mới đặt lại quốc hiệu là Đại Việt[1]. Nội dung của ba chữ “Đại Cồ Việt” đã được một số học giả quan tâm nghiên cứu. Sở dĩ, nó được chú ý đến như vậy bởi lẽ đây là quốc hiệu chính thức đầu tiên của người Việt sau khi đánh đuổi người phương Bắc, kết thúc giai đoạn một ngàn năm mà cương vực của người Việt chịu sự cai quản của ngoại bang. Quốc hiệu Đại Cồ Việt đương nhiên chứa trong đó tư tưởng chính trị và xu hướng tôn giáo của người cầm quyền, tuy nhiên trước nay đây vẫn luôn là một bài toán khó giải. Rất nhiều ý kiến đã đưa ra, nhưng vẫn chỉ được coi như là những giả thuyết. Giả thuyết được đồng thuận nhiều nhất được một số học giả hàng đầu của thế kỷ XX đưa ra, giả thuyết này coi CỒ (lớn) là một từ Việt cổ. Bài viết này viết ra với mục đích tổng thuật, đánh giá về các giả thuyết trước đây, cũng như khảo luận về quốc hiệu đầu tiên này, từ đó đưa ra cách nhận định riêng trên cơ sở những thành quả của các ngành lịch sử, tôn giáo (Phật học), văn bản học, văn tự học v.v.
I. Giả thuyết coi CỒ là từ Việt cổ
2.1. CỒ “瞿 ” là một từ Việt cổ?
Những học giả như Sở Cuồng Lê Dư (1932)[2], Bửu Cầm (1960)[3], Thúc Ngọc Trần Văn Giáp (1969)[4], Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1971)[5], Lê Văn Quán (1981, 1982, 2007) [6], Trần Quốc Vượng (1960, 2000)[7] v.v. đều cho rằng chữ “瞿 ”, âm Hán-Việt đọc là “cù”, thực tế thường được đọc là CỒ nghĩa là “to, lớn”. Năm 1975, Đào Duy Anh viết như sau: “Cồ nghĩa là lớn: mến đức cồ, kinh bùi ngọt. Trong Sử ký thấy dùng từ CỒ trong tên nước ở thời nhà Đinh là Đại Cồ Việt. Ngày nay ta cũng còn thấy dùng chữ kép đại cồ lồ. Song từ Quốc âm thi tập về sau thì không thấy từ cồ được dùng riêng.”[8] Sở dĩ ông coi CỒ là một từ cổ vì ông tra được chữ này (thực ra chỉ là từ tố TTD nhm) trong từ điển của A de Rhodes (1651)[9], Pierre Pegneaux de Béhaine (1772 - 1773)[10], L.J. Taberd (1838)[11], Huình Tịnh Paulus Của (1895)[12], J.F.M. Génibrel (1898)[13], G.Hue (1937)[14] . Nhưng các từ này không phải là từ cổ mà vẫn dùng trong tiếng Việt ít nhất từ thế kỷ XVII hiện nay. Thực tế, trong suốt lịch sử tiếng Việt, chữ CỒ chưa từng đứng độc lập làm thành phần trong câu. Bởi giai đoạn Cổ- Trung đại, tiếng Việt đã có từ CẢ, CÁI để trỏ nghĩa “lớn”, đến giờ là từ LỚN, BỰ, TO, ĐẠI. “CỒ” chỉ là một từ tố trong các từ song tiết như gà cồ, vịt cồ, cồ cộ, vịt xiêm cồ, mà thôi. Sắc thái của nó không chỉ có nghĩa là “to” mà đôi khi còn có nghĩa là “ngố, ngờ nghệch” như câu: lóng ngóng như gà cồ/ tồ, Nữ kê tác quái - gà mái đá gà cồ. “Gà cồ” còn có nghĩa là gà đực, gà chọi, như gà cồ sớt chó sói… Đồng dao có câu: Sáo đen là em gà cồ. Gà cồ là cô sáo sậu. Sáo sậu là cậu chim ri..; Vè nói ngược có câu: …lên non đặt lờ/ xuống sông bửa củi/ gà cồ hay ủi/ heo nái hay bươi… Tục ngữ còn có câu: gà cồ ăn quẩn cối xay (tk XIX), nay chuyển sang nói gà què ăn quẩn cối xay, lại có câu ca dao: Gà cồ lẩn quẩn cối xay/ Ai cho muối ớt xé phay gà cồ. Câu đố dân gian có câu: Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, đụng phải gà cồ lại cõng mẹ chạy vô… Từ tố CỒ hiện vẫn đang còn dùng trong một số địa phương. Ví dụ: vùng Sơn Tây, gọi anh nào to cao ngồ ngộ gọi là CỒ, như Thắng Cồ. Hay gọi loài ve sầu to và đen hơn loại ve sầu thường là con “cồ cộ”. Chữ “cồ cộ” ở một số nơi khác còn để chỉ loại châu chấu cỡ lớn. Xin xem các từ điển từ xưa đến nay.[15] Những tin đồn thất thiệt thì gọi là tin vịt, hơn nữa là tin vịt cồ. Có thể đi đến nhận định, từ tk XVII đến nay, chữ CỒ là một từ tố không có khả năng đứng độc lập, vì phải nhường chỗ cho các từ đồng nghĩa khác; quan trọng nhất, nó chỉ chuyên dùng cho các đối tượng là động vật mà thôi. Cho nên, khả năng kết hợp “đức cồ” (TTD nhm)[16] là rất khó xảy ra. Việc coi CỒ trong ĐẠI CỒ VIỆT như một từ cổ là kết luận được hình thành từ cảm thức tiếng Việt hiện đại thông qua tra cứu các từ điển cổ mà thôi.
Về mặt cấu trúc của ngữ danh từ, đây là một cấu trúc của Hán văn. Trong đó, trung tâm ngữ là từ “Việt” đứng ở sau cùng, hai từ “đại” và “cồ” đứng trước để tu sức cho “Việt”. Cấu trúc này có lẽ không phải bàn cãi nhiều. Nếu theo giả thuyết CỒ là một chữ Nôm, thì cấu trúc này sẽ có trật tự khá bất ổn như sau: [từ Hán (đại) + từ Nôm (cồ: lớn) + từ Hán]. Mối quan hệ giữa “đại” và “cồ” là mối quan hệ đẳng lập, nhưng “cồ” lại là yếu tố chức năng để chua nghĩa cho “đại”. Điểm bất ổn ở chỗ, cố gắng chua nghĩa cho một từ quá đơn giản và dễ hiểu. Cho nên, nói như học giả An Chi: “Đối với chữ Cồ trong Đại Cồ Việt mà nói rằng đây là một yếu tố Nôm có nghĩa là “to, lớn” thì thật chẳng còn gì nhẹ dạ cho bằng. Với cách hiểu quá đỗi hời hợt này, người ta đã gây ra trong 3 tiếng Đại Cồ Việt một cái lỗi quá thô thiển về trùng ngôn (pleonasm): đã “đại” mà lại còn “cồ”. Chẳng những thế, cách hiểu rất ít chiều sâu đó còn biến ba tiếng Đại Cồ Việt thành một thứ ngôn ngữ “ba rọi” (vừa Tàu vừa ta) không thể chấp nhận được cho một quốc hiệu nghiêm túc và đáng kính trọng v.v.”[17] Hiện tượng từ Nôm được dùng như là một thành phần của một ngữ danh từ tiếng Hán không phải là không có. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Trang thì trong số 4000 vị thần thì có khoảng 10% tên các vị có yếu tố Nôm, như Bến Nước Đại vương, Cửa Ngòi Công chúa, Đống Đá Hiển ứng Chiêu cảm Đại vương[18] v.v. Có thể thấy yếu tố Nôm ở đây chỉ là danh từ riêng, và cấu trúc của các ngữ này chỉ là [danh từ Nôm + từ Hán]. Giả thuyết coi CỒ chua nghĩa cho ĐẠI là bất ổn cả về ngữ nghĩa lẫn cấu trúc.
2.2. Hệ quả của giả thuyết coi CỒ là một từ Việt cổ. Dựa trên giả thuyết coi CỒ là chữ Nôm để ghi từ Việt cổ của các học giả vừa nêu, năm 1984, Keith Weller Taylor đi đến nhận xét rằng: “đại cồ” là một dạng ghép “phản ánh sự phát triển sáng tạo của ngôn ngữ bản địa khi nó được sử dụng cho vấn đề chính trị”[19] trong giai đoạn tự chủ mới.
Năm 1992, nhà nghiên cứu văn tự học Trung Quốc, La Trường Sơn cũng viết: “năm 968 scn, triều Đinh bắt đầu kiến lập nhà nước phong kiến tự chủ, chữ CỒ trong quốc hiệu lại là một chữ Nôm, nhưng ý nghĩa của chữ Nôm này vốn đã nằm trong nghĩa của chữ “đại” rồi. Đó là dấu vết chữ Nôm xuất hiện đầu tiên trong thế kỷ X.”[20]
Theo chúng tôi, đây là giả thuyết thuần túy văn tự theo chiều hướng có lợi cho dân tộc (TTD nhm) của các nhà Nôm học trong thế kỷ XX, từ đó dẫn đến những ý kiến đồng thuận của các nhà sử học trong nước và các nhà nghiên cứu nước ngoài (những người phi bản địa). CỒ được coi là một từ Nôm để chứng minh ba điểm: 1. Chữ Nôm đã ra đời từ thế kỷ X; 2. Khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc thông qua sự tự ý thức của người cầm quyền về ngôn ngữ dân tộc. 3. Độc lập dân tộc là kế thừa truyền thống tộc Việt từ thời Hùng Vương, Âu Lạc, Lạc Việt, với những thành tựu văn hóa như nỏ thần kim quy! Một giả thuyết khoa học đứng trên rung động tình cảm dân tộc là một điều có thể hiểu được vào một số thập kỷ của thế kỷ trước (thế kỉ XX) khi hoàn cảnh lịch sử của đất nước còn chưa được ổn định. Nhưng, kể cả chữ CỒ là một từ Nôm đi chăng nữa thì cũng không thể khẳng định rằng chữ Nôm đã ra đời với tư cách là một hệ thống văn tự dùng để ghi một chuỗi ngôn từ thuần Việt[21]. Như trên đã chứng minh, giả thuyết coi CỒ chua nghĩa cho ĐẠI là bất ổn cả về ngữ nghĩa lẫn cấu trúc. Không những vậy, giả thuyết này còn bất hợp lý xét ở các cạnh khía văn hóa, lịch sử, chính trị, tư tưởng, như dưới đây.
2.3. Chữ CỒ từ bối cảnh văn hóa thời đại.
Qua các tài liệu lịch sử, ba đời vua (13 năm) nhà Đinh chưa có ý thức về “ngôn ngữ bản địa”. Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là Vạn Thắng Vương 萬聖王[22]. Quần thần tôn là Đại Thắng Minh Hoàng đế 大勝明皇帝(đế hiệu thuần Hán)[23]. Rồi ngay sau khi lên cầm quyền, vua Đinh phong cho con là Đinh Liễn tước là Nam Việt Vương 南越王[24], rồi sai Đinh Liễn đi sứ để triều cống và xin sự công nhận của thiên triều. Nhà Tống mới lập, còn bận nhiều việc chưa đem quân đến chinh phạt, nên năm 973 Tống Thái Tổ bèn ban bài chế công nhận Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận vương, Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ檢校太師靜海軍節度使[25]. Năm 970, đổi niên hiệu là Thái Bình太平. Đến niên hiệu Thái Bình thứ 3, vua phong Đinh Tuệ là Vệ Vương衛王, lập con thứ là Hạng Lang làm Thái tử太子[26].
Như thế, có thể thấy rằng, vào giai đoạn đầu độc lập tự chủ, triều đại đầu tiên của Việt Nam luôn ý thức được rằng, phải mềm mỏng trong vấn đề ngoại giao. Trong nước vẫn có thể có quốc hiệu, vua vẫn tự xưng đế hiệu của mình. Nhưng một mặt, vẫn phải nhún nhường xin nhà Tống công nhận mình là nước phiên thuộc, hàng năm vẫn phải cống sứ đầy đủ. Và muốn được Bắc quốc công nhận, các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý cũng phải cố gắng chứng tỏ mình là một nước thuộc về văn hóa ngôn ngữ của Trung Hoa, phải cố gắng chứng tỏ mình đã được “giáo hóa”, là nước có “văn hiến” (xét theo nghĩa gốc của từ này, như Nguyễn Trãi sau đó gần 500 năm cũng đã viết trong Bình Ngô đại cáo). Biểu hiện quan trọng nhất của việc có văn hiến là xác định hệ thống văn tự quan phương (văn) và chủ thể sử dụng thứ văn tự đó (hiến), rồi sau đó mới đến thiết lập triều nghi, dùng hình pháp (pháp trị), đóng đô, xây cung điện để làm chỗ thiết triều, xắp đặt bách quan, lập ngôi hoàng hậu, phong vương phong tước, dựng đàn Xã Tắc làm nơi tế tự của triều đình quốc gia (quốc tế, tự điển).v.v. Quan trọng không kém là đặt quốc hiệu. Vì thế, tên nước Đại Cồ Việt là thuần Hán thì thiên triều mới chấp nhận được. Và cũng chỉ có thuần là nghĩa Hán thì nó mới “đồng bộ” với các tên quan chức theo mô hình của Hán như Đô hộ phủ, Thập đạo Tướng quân, Đinh quốc công, tăng thống.v.v. Đinh triều hẳn là triều đình lấy Hán văn làm ngôn ngữ hành chính và ngoại giao (TTD nhm). Bài từ tiếp sứ Vương lang quy của Ngô Chân Lưu sau này cũng là bài thơ chữ Hán vậy.
Nếu không dùng chữ Hán, cái nhà nước vừa mới hình thành sau cả ngàn năm thuộc Bắc, cái nhà nước mới được hưởng chút ít “Thái Bình” sau cái loạn 12 sứ quân kia lại bị liệt vào danh sách những nước “mọi rợ” (không có chữ viết) thì sẽ sớm phải chịu cảnh “khai hóa” của nước lớn. Đọc lời chế của Tống Thái Tổ có thể thấy rõ điều này: “Bộ Lĩnh […], giữ tiết làm tôi hướng theo phương Bắc, […], có chí mến văn hóa của Trung Quốc, thường nghĩ đến việc nội phụ, […], qua lại cống hiến lễ vật. Nay có lời khen ngợi đã sai con đến xin làm phiên thuộc, vậy phong cho cha làm quận vương.v.v. ”[27] Cho nên, lập luận cho “Đinh Tiên Hoàng dùng lại chữ “Việt” là tìm về cội nguồn Lạc Việt (tổ tiên của dân tộc Việt chúng ta), lại thêm chữ CỒ (tiếng Việt) để muốn giương cao nước Cồ Việt là một nước rộng và có nền văn hóa “lớn” thuần Việt (phi Hoa phi Ấn)”[28] là có phần chủ quan, tiền định.
Đến đây, chúng tôi có khuynh hướng nghiêng về phía các học giả cho rằng, quốc hiệu “Đại Cồ Việt” vẫn là tên thuần Hán. Điều đó có nghĩa là, chữ “Cù” không phải là chữ Nôm dùng để ghi âm CỒ của tiếng Việt cổ trong một ngữ danh từ theo trật tự cấu trúc của tiếng Hán[29].
II. Giả thuyết coi [đại + cồ] là một chữ Nôm
Tuy nhiên, gần đây, Nguyễn Anh Huy[30] đã đưa ra một giả thuyết thú vị, giải thích về ba chữ “Đại Cồ Việt”, coi [đại + cồ] là một chữ Nôm hài thanh. Giả thuyết này của tác giả được hình thành trên tín niệm của rất nhiều học giả hàng đầu của thế kỷ XX, coi CỒ (lớn) là một từ Việt cổ, như bài viết đã nêu ở trên. Ông đưa ra bốn bước lập luận như sau:
1. “Đại Cồ” là từ thừa nghĩa, thừa chữ. Vì “đại” tiếng Hán là lớn; và CỒ tiếng Việt cổ cũng nghĩa là lớn[31]. Chính sự dư thừa một cách vô lý như vậy đã khiến cho đa số người đời sau không thể hiểu được ý nghĩa của danh từ này.
2. Ông cho rằng: ở đây có một sự nhầm lẫn về văn bản học của các nhà sử học thời trung đại. Đại Việt sử ký toàn thư (từ đây viết tắt là ĐVSKTT)- văn bản chính sử đầu tiên có ghi nhận quốc hiệu này lại “không phải là chữ viết gốc thời Đinh Tiên Hoàng mà đã “tam sao thất bản” nhiều lần qua các bản chép tay của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, sử thần triều Lê v.v. Nhưng lần “thất bản” lớn nhất, theo tôi, là chuyển từ bản chép tay sang khắc mộc bản (sic) để in sách từ thời Lê Chính Hòa năm 1697.”[32] Từ việc nghi ngờ đối với văn bản như vậy, tác giả đã đi đến giả thuyết cho rằng “Đại Cồ Việt” là một chữ có vấn đề về mặt tự dạng.
3. Ông cho rằng “đại cù” trong ĐVSKTT là một chữ Nôm hài thanh “cồ𡚝 ”. Do các văn bản cổ viết theo hàng dọc, nên chữ Nôm “cồ𡚝” rất dễ đọc nhầm thành hai chữ “đại” và “cù”.
4. Cứ liệu thành văn mà ông đưa ra để củng cố thêm cho giả thuyết của mình đó là đôi câu đối trong đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Hoa Lư, trong đó chỉ ghi quốc hiệu là CỒ VIỆT.
Giả thuyết cho hai chữ [đại + cồ] là một chữ Nôm hình thanh để ghi 1 từ Việt là CỒ (nghĩa là lớn) là giả thuyết thú vị. Nhưng, nếu đã nêu cao “tinh thần dân tộc” thì phải chăng nên đặt theo cấu trúc của ta là “Việt Cồ”? Mặt khác, các nhà khảo cổ và Nôm học chưa từng tìm thấy một chữ Nôm hình thanh nào vào thế kỷ X để làm tiền lệ hay đối chiếu[33].
Trước tiên, bài viết muốn thảo luận lại về văn bản có ghi nhận CỒ VIỆT. Đó là câu đối ở đền vua Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư. Nguyên văn như sau瞿越國當宋開寶、華藘都是漢長安(Cồ Việt Quốc đương Tống Khai Bảo/ Hoa Lư đô thị Hán Trường An) nghĩa là “nước Cồ Việt tương đương với niên hiệu Khai Bảo đời Tống/ Kinh đô Hoa Lư cũng như là Trường An đời Hán”. Ngoài ra, ở Hoa Lư cũng còn có một câu đối nữa có xuất hiện chữ “Cồ Việt” với nội dung như sau: 萬勝威雄,瞿越基開正統始/ 天書分定,華藘運啟聖人生 (Vạn Thắng uy hùng, Cồ Việt cơ khai chính thống thủy/ Thiên thư phân định, Hoa Lư vận khải thánh nhân sinh) nghĩa là “Vạn Thắng Vương oai hùng, Cồ Việt nền xây, (triều đại) chính thống (từ đây) bắt đầu/ Thiên thư phân định, Hoa Lư vận mở, thánh nhân xuất hiện”. Tuy nhiên, niên đại của hai đôi câu đối này là khá muộn. Đôi đầu được viết vào năm Giáp Tý thời Tự Đức (1864)[34]. Đôi sau được viết vào năm Đinh Mão thời Bảo Đại (1927)[35]. Trong Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca do Hồng Nhung và Hồng Thiết (con của Tuy Lý Vương) diễn dịch cũng có chữ này ở đoạn “Ông Ðinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư . Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt渃稱瞿越[36], Đô đóng Trường An” (249-256). Tức là cả 3 văn bản ghi “Cồ Việt” đều là các văn bản rất muộn vào đời Nguyễn sau ĐVSKTT hai trăm năm.
Mặt khác, chúng tôi cho rằng chữ “Cồ Việt” ở đây chỉ là cách gọi tắt của “Đại Cồ Việt” dưới áp lực của thể loại văn vần. Câu đối là thể loại văn học hạn chế người sáng tác đến từng âm tiết, ngoài ra còn phải kể đến luật bằng trắc. Còn thể loại thơ bốn chữ cũng vậy, 1 câu thơ 4 chữ thật khó có thể đặt một danh từ riêng chiếm đến 3 âm tiết. Với cấu trúc “trắc - bằng - trắc”, ba chữ “Đại Cồ Việt” nếu đưa vào bất cứ một câu văn vần nào thì cũng sẽ dễ gây nên sự thất luật. Điều này có thể thấy rõ, đế hiệu Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là “Vạn Thắng Vương” cũng bị cắt mất một âm tiết. Có người không biết “Vạn Thắng” là đế hiệu nên không viết hoa mà phiên âm và hiểu theo nghĩa là “muôn chiến thắng”[37] và không chua gì cả. Một chứng cứ nữa vể việc “Đại Cồ Việt” bị cắt mất một âm tiết trong văn bản văn vần. Đó là đôi câu thơ “Nước xưng ĐẠI CỒ nối trời, xây thành lập lũy trong ngoài sửa sang" (câu 4102 và câu 4103) trong sách Thiên Nam ngữ lục[38]. Có thể thấy, có 3 văn bản ghi quốc hiệu là “Cồ Việt”, 1 văn bản ghi quốc hiệu là “Đại Cồ”. Và cả 4 văn bản này đều thuộc về văn vần (xin xem bảng tra ở dưới). Trong khi đó ĐẠI CỒ VIỆT luôn luôn được ghi một cách trọn vẹn trong các văn bản lịch sử bằng văn xuôi (9 văn bản). Cụ thể như sau:
Sử liệu[39]
Niên đại
Chữ
Thể loại
Đinh viết Đại Cồ Việt, đô Hoa Lư (Dư địa chí)[40]
Sáng tác XV, in 1868
大 瞿 越
Văn xuôi
(“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Khai Bảo năm thứ 1). Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt… bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”[41]
1697 (Khắc in)
大 瞿 越
Văn xuôi
Thiên Nam ngữ lục[42]
Thế kỉ XVIII
大 瞿
Văn vần
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Thái Tổ Khai Bảo năm thứ 1). Vua buổi đầu lên ngôi. Đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt…các bề tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”[43]
1800
(khắc in)
大 瞿 越
Văn xuôi
“Làm kẻ chợ ở động Hoa Lư, nay là Trường Yên phủ, dựng hiệu nước là nước Đại Cồ Việt”[44]
1800
(Khắc in)
大 瞿 越萬勝 王
Văn xuôi
Câu đối đền Đinh Tiên Hoàng
1864
瞿 越
Văn vần
" Mậu Thìn (968), Đinh Tiên Hoàng năm thứ 1 (Tống, Thái tổ, năm Khai Bảo thứ 1). Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế, quốc hiệu là Đại Cồ Việt (không rõ tháng nào)"[45]
1881
(Khắc in)
大 瞿 越 萬勝 王
Văn xuôi
Một mai về với Trần công/ hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua[46]
1870
萬勝
Văn vần
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Thái Tổ Khai Bảo năm thứ 1). Vạn Thắng Vương lên ngôi hoàng đế. Quốc hiệu là Đại Cồ Việt…Quần thần dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”[47]
Cuối thế kỉ XIX (chép tay)
大 瞿 越
萬勝 王
Văn xuôi
Việt Nam phong sử[48]
Cuối tk XIX (chép tay)
大 瞿 越
Văn xuôi
“Ông Ðinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư . Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt, Đô đóng Trường An” (249-256)[49].
1912
瞿越 萬 勝
Văn vần
Việt sử yếu[50]
1914
(khắc in)
大 瞿 越 萬 勝 王
Văn xuôi
Đinh tộc gia phả[51]
1916 - 1925
大 瞿 越
Văn xuôi
Câu đối đền Đinh Tiên Hoàng
1927
瞿越 / 萬勝
Văn vần
Về văn bản học, chưa từng có một văn bản sử học (bằng văn xuôi: 9 vb) nào ghi nhận cách viết [đại + cồ] là một chữ Nôm. Hơn nữa, các văn bản xuất hiện vào thời Đinh đến nay hầu như không còn gì. Hiện, chỉ có một số văn bản rất đáng chú ý; đó là 40 kinh tràng[52] hiện đang nằm trong kho hiện vật của Bảo tàng Ninh Bình. Tiếc rằng, chúng tôi, dù đã cố gắng, nhưng không thể nào tiếp cận được những tư liệu đặc biệt quý hiếm này. Trong số 40 kinh tràng trên, có 2 kinh tràng đã từng được giáo sư Hà Văn Tấn nghiên cứu[53]. Thế nhưng, cả hai là các văn bản chép kinh trì chú của phái Mật tông, nên không có thông tin nào. Tóm lại, tất cả các văn bản sử học (văn xuôi, trong đó ĐVSKTT vẫn là văn bản sớm nhất, có giá trị nhất, tính khả tín cao nhất) đều ghi quốc hiệu là “大 瞿 越”. Tất cả các văn bản văn vần đều ghi thiếu một âm tiết do hạn định của thể loại đối với số lượng âm tiết và luật bằng trắc.
Điều chúng tôi muốn nói ở đây là những nghiên cứu sẽ khó có thể đạt được kết quả khi người thực hiện cố gắng chối từ sự hiện hữu của tư liệu. Điều đó sẽ dẫn đến hành động sử dụng tất cả các dữ liệu để chứng minh cho một định đề có sẵn. Lập luận cho rằng ĐVSKTT và các văn bản lịch sử khác viết sai là một thao tác “bạt bản tắc nguyên”, phủ nhận giá trị thực tại, khách quan của các ngành khoa học cơ bản nhất trong các khoa học về xã hội nhân văn, đó là khảo cổ học, văn bản học, ngôn ngữ học. Mặt khác, chúng ta cũng khó có thể tưởng tượng rằng, sẽ như thế nào nếu toàn bộ các sử gia của một cộng đồng dân tộc cũng như “kí ức dân gian” quên bẵng mất, hoặc là nhớ nhầm/ viết nhầm quốc hiệu đầu tiên của mình? Như trên, bài viết đã phản bác lại các giả thuyết coi CỒ là một từ Việt cổ và giả thuyết coi [ĐẠI + CỒ] là một chữ Nôm. Dưới đây, bài viết muốn đề cập đến các giả thuyết coi CỒ là một chữ Hán.
III. Các giả thuyết coi CỒ là một chữ Hán
Trong những người quan tâm nghiên cứu về quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, Nguyễn Khắc Kham, Kỳ Quảng Mưu chủ trương cho rằng “Đại Cồ Việt” là một từ thuần Hán. Cả hai ông đều đưa ra những kiến giải riêng hữu lý. Bài viết giới thiệu giả thuyết của hai học giả trên nhằm góp phần lý giải về nội dung ngữ nghĩa của ba chữ “Đại Cồ Việt”- quốc hiệu đầu tiên của nước ta trong thời kỳ đầu của độc lập tự chủ.
3.1. Giả thuyết của Kỳ Quảng Mưu
Trong bài “Giải thích về tên nước Đại Cồ Việt - và phân tích ngữ nghĩa bài Vương lang quy của Ngô Chân Lưu” đăng trên tạp chí Đông Nam Á tung hoành, tác giả Kỳ Quảng Mưu (khoa Đông Phương ngữ của Lạc Dương Ngoại quốc ngữ Học viện, Trung Quốc), cho rằng Đinh Bộ Lĩnh định quốc hiệu là Đại Cồ Việt hẳn là phải có dụng ý của riêng mình. Trước tiên, ông để ý đến hai thành tố quan trọng và khó hiểu nhất đó là hai chữ “Cồ Việt”. Đó là một danh hiệu để khu biệt với các dân tộc và quốc gia khác thuộc vùng Bách Việt xưa. Đinh Bộ Lĩnh không đặt tên nước là Nam Việt quốc để tránh trùng tên nước của Việt Đà. Ông cũng không đặt tên nước là Đại Việt vì nó cũng trùng với quốc hiệu của Lý Thánh Tông. Ông này vốn tên là Lưu Long- em của Thanh Hải quân Tiết độ sứ Lưu Ổn đời Đường mạt, sau khi Lưu Long kế thừa chức nghiệp của anh, đã xưng đế vào năm 917 tại Quảng Châu, định quốc hiệu là “Đại Việt”, sau đổi thành “Hán”, sử sách gọi là Nam Hán. Nhưng năm 972, Nam Hán bị Tống thôn tính. Cho nên, Đinh Bộ Lĩnh đã tránh dùng lại quốc hiệu cũ của nước láng giềng, và đặt tên nước là Đại Cồ Việt[54].
Kỳ Quảng Mưu cho rằng, từ thực tế lịch sử, Đinh Bộ Lĩnh đã ứng thuận lòng dân, dẹp bỏ loạn lạc, thống nhất lãnh thổ, đưa chính quyền về một mối. Nhưng nước mới được lập, vừa qua cơn chiến loạn, ông chắc hẳn đã đối mặt với rất nhiều khó khăn, luôn luôn phải răn dè bản thân. Cho nên, đặt niên hiệu “Thái Bình” là để an dân. Đặt quốc hiệu “Đại Cồ Quốc” là để tự răn mình, răn rằng: “mới có niềm vui của sự thành công thì phải đề cao lòng răn dè sợ sệt, mắt phải nhìn cho xa”[55].
Như thế, Kỳ Quảng Mưu khẳng định quốc hiệu “Đại Cồ Việt” là một danh từ thuần Hán, trong đó chữ CỒ cũng mang ngữ nghĩa của tiếng Hán (TTD nhấn mạnh). Trong đó ông muốn hiểu, chữ CỒ mang đủ cả ba nghĩa như ông đã tra cứu qua Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: “瞿Cồ: 1.sức trông xa của chim ưng; 2.nhìn chú vào một chỗ; 3.sợ hãi.”
Chúng tôi thiết nghĩ, coi “Đại Cồ Việt” là một cụm từ thuần Hán là một hướng lý giải đúng hướng. Tuy nhiên, việc lấy nghĩa cơ bản của chữ CỒ để lý giải cho ba chữ này là giả thuyết cần phải bàn lại.
3.2. Các giả thuyết của Nguyễn Khắc Kham
Giống như Kỳ Quảng Mưu và các nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Khắc Kham là người trăn trở khá nhiều về quốc hiệu Đại Cồ Việt. Năm 1974, ông cũng từng coi CỒ là một chữ Nôm[56], sau ông đã từ bỏ giả thuyết này bằng cách cùng một lúc đưa ra hai giả thuyết khác vào năm 1978.
Giả thuyết đầu tiên ông đưa ra là một cách giải thích thú vị. Ông nói: “theo tôi, “Cồ Việt” có lẽ là cách đọc của người Việt cổ cho hai chữ “Âu Việt 甌 越”. Chữ Âu có hai âm đọc ở tiếng Hán cổ là *U và *KU,… có lẽ triều Đinh đã sử dụng chữ Hán “cù” thay cho “Âu” để tránh nhầm lẫn.”[57] Giả thuyết này có hai điểm yếu: 1. Chứng minh “Cù” là một cách đọc/ cách ghi âm khác của ngữ âm tiếng Việt Mường về chữ “Âu” là một cách lý giải khá hóc hiểm và kỳ khu; 2. Dùng một từ đồng âm, nhưng khác về tự dạng để “tránh nhầm lẫn” rằng nước “Âu Việt” của mình (Đinh Bộ Lĩnh) khác với nước “Âu Việt” thời cổ cũng là một giả thuyết khó có thể xảy ra nữa. Nếu đã đề cao truyền thống dân tộc thì dùng cả âm, cả chữ, cả nghĩa; chứ sao phải thay đổi phức tạp như vậy?
Ông cũng đưa ra một giả thuyết khác, rằng: “Cồ Đàm瞿 曇 là họ của Phật, dịch từ chữ Gautama trong tiếng Sanskrit. Phật giáo phát triển mạnh ở Việt Nam vào triều Đinh, lực lượng tăng lữ giữ vị trí quan trọng trong triều đình, ông có hướng cho rằng Đại Cồ Việt có lẽ nghĩa là “nước Việt- nước Phật giáo lớn. Ở đây, ta cũng nhắc đến chi tiết một trong năm Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng có tên là Cồ Quốc 瞿 國 (Nước Phật)”[58]. Chính giả thuyết này học giả J. de Francis[59] cũng đã từng đưa ra bởi ông này cũng cho rằng Phật giáo thời Đinh hẳn là quốc giáo, gần đây An Chi cũng ủng hộ thuyết này. Nhân đây xin mượn lời của Nguyễn Lang để minh chứng: “Tiếp đến, Ðinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân, lập ra nước Ðại Cồ Việt độc lập. Mật Giáo và Thiền là hai hệ thống Phật giáo hưng thịnh nhất của thời đại. Chính trong thế kỷ này mà những trụ đá (sic) về Mật Tông được tạo dựng ở Hoa Lư. Chính trong thế kỷ này mà đạo Phật tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Ðinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu của thiền phái Vô Ngôn Thông, cho ông hiệu Khuông Việt Thái Sư, chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng chính trong thế kỷ này mà vua Lê Ðại Hành mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi làm cố vấn chính sự. Các thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp.”[60]
Giả thuyết này của J. de Francis, Nguyễn Khắc Kham và An Chi hoàn toàn hợp lý với những gì chúng ta biết từ trước đến này về nhà Đinh. Đại Cồ Việt tuy mới tách ra khỏi nước lớn, nhưng Phật giáo vẫn được coi như là một quốc giáo, y như nhà Đường trước đó. Điều này có thể thấy sự đồng nhất về phong cách kiến trúc giữa văn hóa Đại Cồ Việt và văn hóa Đường. Từ chùa Nhất Trụ (chùa một cột), từ Tháp Nhạn, đến các kinh tràng…, từ xu hướng ngôn ngữ, phong cách văn chương chữ Hán cho đến hệ kiến trúc thượng tầng. Có thể nói, sự đột khởi của văn hóa Đinh - Lý - Trần, sự xuất hiện đầu tiên và lập tức là đỉnh cao, chỉ có thể đặt trong bối cảnh văn hóa Đại Cồ Việt - Đại Việt kế thừa từ văn hóa đời Đường, trên nền tảng văn hóa Đường. Phật giáo chắc hẳn phải là quốc giáo vào thời Đinh. Cho nên, lấy họ Phật để đặt quốc hiệu là một giả thuyết rất có thể xảy ra trên thực tế.
IV. Khảo về chữ CỒ trong “Đại Cồ Việt”
4.1. Khảo về âm và nghĩa Về âm đọc của chữ “瞿”, Trung văn đại từ điển[61] ghi nhận chữ này có 5 âm đọc như sau:
Quảng vận【廣韻】ghi cửu ngộ thiết (九遇切) , Tập vận【集韻】và Vận hội【韻會】đều ghi câu ngộ thiết (俱遇切),âm cú ngộ 音句遇 , khứ thanh, vậy chữ này được đọc là CỐ. Âm đọc này có 7 nét nghĩa.
Quảng vận【廣韻】ghi kỳ câu thiết (其俱切), Tập vận【集韻】và Vận hội【韻會】đều ghi quyền câu thiết (權俱切), âm cù ngu (衢虞切) (bình thanh), vậy phương án đọc thứ hai có thể cho ta hai âm là CẦU, CÙ. Âm đọc này có 15 nét nghĩa.
Tập vận【集韻】ghi kí lực thiết (記力切), âm cức, chức (亟,職), nhập thanh, vậy chữ này có cách đọc thứ 3 là CỰC. Với nghĩa là vẻ buồn rười rượi (cực cực)
Ngoài ra, Trung văn đại từ điển còn đưa ra cách đọc khá đặc biệt nữa là CỦ (âm như chữ củ 矩). Với nghĩa là quy củ (đạo hiệt củ của Nho gia).
Theo các vận thư, chữ “瞿” có thể đọc theo 5 âm: CỐ, CẦU, CÙ, CỰC, CỦ. Như thế, cứ theo mặt chữ mà đọc theo âm và theo nghĩa, ta sẽ có một bảng tổng hợp tất cả các khả năng có thể xảy ra trên lý thuyết cho các từ大 瞿 越. Cụ thể như sau: 1. ĐẠI CỐ VIỆT: Nước Việt lớn như bày nhạn tụ tập. 2. ĐẠI CỐ VIỆT: Nước Việt lớn có vẻ nhìn (hay tầm nhìn) như chim nhạn. 3. ĐẠI CỒ VIỆT: nước Việt lớn có ánh nhìn sợ hãi. 4. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn như chim sẻ quay đầu. 5. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn (nhưng) run sợ (trước Thiên triều) như ý kiến của Kỳ Quảng Mưu. 6. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn (biết) tiết kiệm. 7. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn sợ hãi. 8. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn có ánh mắt trừng trừng, láo liên[62]. 9. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn vừa chạy vừa sợ hãi. 10. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (như) gai táo. 11. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn có cái mào trên đầu. 12. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (đẹp) như hoa bách hợp. 13. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (có) binh khí (như một giả thuyết khác của Nguyễn Anh Huy). 14. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn như ngã tư đường. 15. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn, gầy gò. 16. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (có nhiều) cỏ cù. 17. ĐẠI CỤ VIỆT: nước Việt lớn buồn bã như khi đang có tang. 18. ĐẠI CỦ VIỆT: nước Việt lớn có quy củ. (18 cách dịch này chưa kể đến mối quan hệ ngữ pháp của chữ ĐẠI trong cả ngữ danh từ, cũng chưa kể đến 5 cách dùng của chữ CÙ để ghi danh từ riêng.)
Chỉ xét trên tiêu chí NGỮ NGHĨA, thì ai cũng thấy các tác giả khi coi CỒ là một từ Hán đều thực hiện thao tác chọn nghĩa của từ này thông qua tra cứu từ điển, xem nghĩa nào “hợp” nhất. Tiêu chí của sự hợp lý ấy là nghĩa phải đẹp, mang tầm vóc của quốc gia, thể hiện tâm tư, ý hướng, khát vọng của cả dân tộc. Giả thiết của Kì Quảng Mưu khó chấp nhận được cũng bởi vì không thể xảy ra xét trên hai tiêu chí âm và nghĩa, nhất là sự suy luận về nghĩa của ông lại ảnh hưởng theo nhãn quan của con dân nước lớn. Giả thuyết của Lê Văn Siêu (1964) coi “瞿” thông với chữ “衢”, coi: “Đại Cồ Việt có nghĩa là nước Việt rộng lớn trông suốt cả bốn cõi hay tám cõi (bát hoang) theo lối hiểu ngày xưa, ấy là cái cao vọng của người không những muốn thống trị mà còn muốn bành trướng thế lực ra tám cõi nữa.” [63] Hiểu như Lê Văn Siêu thì cũng theo tinh thần dân tộc mà suy diễn. Nói như ngôn ngữ mà học sinh Việt Nam hiện nay được dạy thì Đinh Bộ Lĩnh đặt tên nước là Đại Cù Việt vì ông đã nhìn thấy mảnh đất này nằm ở “ngã tư đường giao thông quốc tế”. Giả thuyết khác của Nguyễn Anh Huy cho CỒ nghĩa là loại binh khí cổ của nước Âu Lạc (để thể hiện sự tiếp nối truyền thống của dân tộc) thì quả cũng chỉ là một cách “gồng mình” thay cho lịch sử. Có thể coi giả thuyết này là sản phẩm lãng mạn hóa bởi tinh thần chauvinisme theo trường phái Kim Định.
4.2. Vì sao âm CỒ không có trong vận thư từ điển Trung Hoa?
Chỉ xét riêng ÂM ĐỌC thôi, tất cả các khả năng trên đây đều bị loại bỏ, bởi chữ “瞿” chưa từng được các từ điển Trung Quốc ghi nhận cách đọc CỒ (TTD nhm). Thế nhưng, không một ai trong các học giả trên bác bỏ âm đọc CỒ của chữ Hán, thay vào đó là công nhận CỒ chính thức hơn là âm đọc CÙ. Lý do tại sao? Bởi, ai cũng đọc theo cái “kí ức dân gian”, cái “trí nhớ dân gian” mà bài viết đã nhắc đến ở trên. Liệu hàng vạn lớp người của một dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử có thể đọc sai hay đọc nhầm quốc hiệu đầu tiên của mình không? Liệu hàng trăm sử gia thời trung đại, liệu hàng ngàn nhà Nho trong quá khứ đều đọc sai ba chữ này? Không, tất cả đều đọc đúng. Kể cả một số học giả gần đây đặt ra những giả thuyết lý thú đi thế nào chăng nữa thì cái âm CỒ vẫn là một dữ liệu bất biến, không thể thay đổi. CỒ là một hằng số. Mọi suy luận, mọi xét đoán đều phải dựa vào âm này. Thế mà cái âm đọc ấy lại không hề được ghi nhận theo các vận thư, từ điển Trung Hoa. Hẳn là có uẩn khúc gì ở đây?
Uẩn khúc ấy chính là chữ “瞿” được dùng để phiên âm một âm tiết của tiếng Phạn, âm phiên này đã được đọc chệch đi so với âm Hán Việt của nó. Đây chính là điểm mà J. de Francis, Nguyễn Khắc Kham và An Chi[64] đã đề cập đến. Chữ “瞿” với âm đọc CÙ đã được dùng để ghi âm “Go” hay “Gau” trong họ của đức Phật Gautama. Sự tương ứng thủy âm C/ G chắc không phải bàn luận nữa. Sự tương ứng giữa nguyên âm (phần vần của chữ) U với O hay AU cũng là hiển nhiên. Vì thế, cái âm CỒ hẳn là một hợp âm được hình thành trong quá trình dịch âm từ tiếng Phạn sang tiếng Hán rồi từ Hán sang tiếng Hán Việt. Âm CỒ hẳn là sản phẩm của Phật giáo đã được Việt hóa. Kiểm tra trong Từ điển Phật học Hán Việt thì thấy chữ “瞿” dùng để ghi 23 từ có ÂM đọc là CỒ (có liên quan đến Phật) như: cồ di, cồ chỉ la, cồ đàm di, cồ đáp ma…[65] và không một lần nào được dùng để ghi âm CÙ. Tuy nhiên, các học giả Trương Vĩnh Kí (1875)[66], L'Abbé Adr. Launay (1884)[67], Alfred Schreiner (1906)[68], Colonel E. Diguet (1908)[69], Pierre Rey (1913)[70] đều ghi nhận đọc là “CÙ”. Điều đáng nói ở đây là các học giả này đều là người nước ngoài, cho nên khi gặp phải một chữ Hán đã được Việt hóa khác đi, thì tất cả lại đều cứ theo vận thư từ điển mà phiên thành CÙ. Trương Vĩnh Ký tuy là người bản địa, nhưng lại là một sản phẩm hoàn hảo của Tây học, hoặc giả đó chỉ là một phút lơ đãng của học giả uyên bác này. Trái ngược lại, tất các học giả bản địa [trừ một người ngoại quốc là Gustave Dumoutier (1894)[71]] vẫn phiên là CỒ như Phan Kế Bính (1912)[72], Trần Trọng Kim (1919)[73], các học giả trong hội Khai Trí Tiến Đức (1931)[74], Đào Duy Anh (1932)[75], Hà Văn Tấn (1960)[76], Tạ Quang Phát (1971), Trần Quốc Vượng (1960[77], 2000[78]), Vũ Văn Kính (2002)[79]… Cho đến nay, các sách giáo khoa trên toàn quốc vẫn ghi ĐẠI CỒ VIỆT. Đó hẳn dựa trên sự “truyền thừa ký ức lịch sử” trong cộng đồng người Việt! Cho nên mới nói cái “ký ức dân gian” đã truyền thừa âm đọc CỒ từ xưa cho đến tận ngày nay, cũng y như chữ貉 (trong Lạc Việt) được đọc là lạc (mà không đọc là hạc theo vận thư). Đào Duy Anh cũng theo “ký ức dân gian” ấy mà đọc là CỒ, trong cuốn từ điển Hán Việt. Đọc chữ Hán theo âm Hán Việt Việt hóa là hiện tượng gặp rất nhiều trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, cũng như các sách vở của những người cổ học mà tri thức được hình thành từ quá trình truyền thừa, theo lối học ông đồ xưa[80]. Có thể nhận định rằng âm CỒ là âm phổ thông của “瞿” trong 大 瞿 越. Và CỒ (với âm đọc Việt hóa như vậy) rất có khả năng dùng để chỉ đức Đại Cồ Đàm.
4.3. CỒ - hiện tượng đơn tiết hóa
Tuy nhiên, giả thuyết coi CỒ là CỒ ĐÀM trước nay bị phản bác ở điểm, các từ điển Trung Hoa không ghi nhận “瞿” đứng độc lập là một dạng viết tắt, hay rút gọn của Cồ Đàm. Nhưng có điều, xu hướng “đơn tiết hóa” các danh từ riêng trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt (hai ngôn ngữ đơn lập đơn tiết) là một hiện thực ngôn ngữ thường gặp. Ví dụ hiển minh nhất cũng chính là BỤT và PHẬT, đều là hai chữ (phiên âm từ hai giai đoạn lịch sử khác nhau) rút gọn từ BỤT ĐÀ, PHẬT ĐÀ[81]. Mà hai chữ này vốn là để ghi một trong mười danh hiệu của Phật, nguyên tiếng Sanskrit là Buddha[82]. Một cứ liệu thực địa khác hiện tồn trong đời sống của người Việt, chùa Bổ Đà (một ngôi chùa tổ tương truyền nơi Phật xuất hiện, thuộc huyện Việt Yên, Bắc Giang) vẫn được nhân dân gọi tắt là chùa Bổ. Sư cụ Thích Quảng Luân trụ trì chùa trong suốt thế kỷ XX cũng được gọi tắt là cụ BỔ. Cũng cùng tỉnh Bắc Giang, chùa Đức La (còn gọi là chùa Vĩnh Nghiêm, nơi trữ ván kinh cổ) cũng được mấy cánh xe ôm và các bà chạy chợ gọi tắt là chùa LA.
Đến như hai chữ “Thích Ca” vốn là “tên gọi tắt của Thích Ca Mâu Ni và Thích Ca Văn”[83] cũng được viết tắt một lần nữa thành THÍCH. Chúng tôi xin trích nguyên văn từ điển: “THÍCH釋: Sàkya. Cách gọi tắt của từ Thích Ca, tên gọi của đức Phật Thế tôn. Đạo Phật hồi mới truyền sang Trung Quốc, các tăng thường được gọi bằng họ thế tục của mình, hoặc lấy họ Trúc hoặc lấy họ của bậc sư phụ,… Đến ngài Đạo An, cao tăng đời Tấn mới bắt đầu nói: Đức Phật có họ Thích Ca, nay các Phật tử nên theo họ của đức Phật, tức họ Thích”[84]. Không những thế, sự đơn tiết hóa còn tạo ra một họ khác nữa của người theo đạo Phật, đó là ĐÀM. Phật quang đại từ điển ghi: “Đàm… gọi đủ là Đàm Ma, dịch là Pháp, tức là chỉ cho phép của đức Phật… Tên các vị tăng Trung Quốc phần nhiều đặt chữ “Đàm” ở trước như Đàm Loan, Đàm Diệu, Đàm Ảnh… ”[85] Có thể nói, việc đơn tiết hóa danh hiệu Phật là điều hết sức bình thường trong tiếng Hán và tiếng Việt.
4.4. Cứ liệu thành văn của chữ CỒ đơn tiết
Trong Hán văn, việc đơn tiết hóa danh hiệu hay họ Cồ Đàm cũng có cứ liệu văn bản. Bằng chứng là trong tuyển tập từ Lô Sơn quy lai tập (quyển bảy) được sáng tác vào đời Nam Tống (từ niên hiệu Kiến Viêm đến Đức Hựu) của tác giả Trương Nguyên Cán có lời từ như sau: 瞿老拈花、經離亂,青山盡處,海角又天涯[86] “Cồ lão niêm hoa, kinh li loạn, thanh sơn tận xứ, hải giác hựu thiên nha” nghĩa là “lão Cồ tay nhắc nhành hoa, (ta) trải qua bao li tán loạn lạc, (giờ đang) ở nơi tận cùng núi biếc, góc bể mấy chân trời.” Rõ ràng là tác giả đã sử dụng điển “niêm hoa vi tiếu” trong nhà Phật. Và lão Cồ ở đây chính là Cồ Đàm, điều này An Chi cũng đã từng gợi ý[87].
Trong tiếng Việt, chứng tích đơn tiết hóa xưa nhất chính là đôi liên phú của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo: Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo; Mến đức Cồ (勉德瞿), kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay (hội 7, câu 99-100). Có thể coi, đây là tư liệu thành văn sớm nhất có xuất hiện chữ CỒ đơn tiết mà chúng ta biết được. Xét về nội dung triết học thì ai cũng thấy rõ chỉ sự đối ứng giữa Nho giáo và Phật giáo, giống như ở các liên phú sau: Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận/ ơn Nghiêu rộng cả, lọt toàn thân phô việc đã xa (hội 5, câu 61-62) hay Sách Dịch xem chơi, yêu tính lặng hơn yêu châu báu/ Kinh Nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim (hội 1, câu 13-14). Thánh (Khổng tử) đối với đức Cồ (Phật), đức Bụt đối với ơn Nghiêu, sách Dịch đối với kinh Nhàn. Xét về thanh luật thì âm CÙ (bằng) sẽ là sự lựa chọn duy nhất để đối với THÁNH, chứ không thể dùng các âm trắc như: Bụt, Phật, Thích được. Mặt khác, trong Cư trần lạc đạo chữ “Phật佛” (đơn tiết) xuất hiện 2 lần tại câu 47, 48; chữ “Bụt孛”(đơn tiết) xuất hiện 9 lần tại các câu 33, 53, 55, 56, 61, 89, 93, 113, 116; chữ “Thích ca” dùng 1 lần tại câu 51. Nếu dựa trên cách tính định lượng như trên, sẽ thấy Cư trần lạc đạo dùng nhiều danh hiệu để chỉ Phật, trong đó Bụt là nhiều nhất. Từ số liệu trên đây, ta có thể đi đến một kết luận: thời Trần, âm Bụt (âm cổ Hán Việt của Phật) vẫn đang phổ dụng hơn cả. Các âm còn lại cũng được dùng để chỉ Phật, nhưng ít hơn. Chữ CỒ trong “mến đức Cồ” dĩ nhiên không mang nghĩa là “lớn” (như đã nêu ở trên) mà để chỉ đức Cồ Đàm hay rộng hơn là chỉ Phật.
Không ngờ CỒ là từ chỉ Phật, Đào Duy Anh chú giải lầm khi coi CỒ là từ cổ với nghĩa là “lớn”[88], từ đó dẫn đến sự đồng thuận của hàng loạt các học giả từ thế kỷ XX đến nay. Một số từ điển chữ Nôm và từ cổ được biên soạn gần đây, vì dùng lại bản phiên của Đào Duy Anh nên đều công nhận CỒ trong “mến đức cồ” là một từ cổ, như Từ điển tiếng Nghệ (1998, Tr. 47)[89] ,Từ điển chữ Nôm (Viện NC Hán Nôm, 2006, Tr. 199)[90], Từ điển từ cổ của Vương Lộc (2001, Tr.37)[91]. Từ điển Tự điển Việt- Hoa- Pháp của G Hue (1937) [92] xác nhận CỒ là từ để chỉ Phật ở nét nghĩa thứ hai; nhưng ở nét nghĩa thứ nhất lại ghi CỒ VIỆT (nước Việt lớn) là quốc hiệu thời Đinh Tiên Hoàng, nay có thể cải chính, nhập vào thành một mục từ. Sở dĩ, từ điển này ghi nhận CỒ VIỆT vì tác giả đã tiếp thu[93] mục từ này từ từ điển của hội Khai trí Tiến đức[94] trước đó 6 năm, còn từ điển này lại lấy ngữ liệu từ một tác phẩm văn vần nào đó, nhưng lại không thấy trích dẫn nguyên văn. Có thể nhận định CỒ VIỆT ở đây là cách gọi tắt của ĐẠI CỒ VIỆT mà thôi, đây là lỗi của nhà làm từ điển. Duy có từ điển của Trương Đình Tín và Lê Quý Ngưu công nhận CỒ trong câu này là chỉ Đức Phật[95]. Những người chua đúng chữ này là Hoàng Xuân Hãn[96] và Lê Mạnh Thát trong Trần Nhân Tông toàn tập[97].
Ngay trong dân gian cũng có câu thành ngữ như "Lù khù có ông Cù độ mạng" hay “Lù đù có ông Cù hộ mạng”. Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam của Việt Chương chua rằng: “ông Cù: ông Bụt, hay ông Phật. Người dại khờ dốt nát có khi lại được trời Phật độ trì.”[98] Nếu thử một thao tác enter qua google sẽ được 42 trang mạng có câu này, hẳn đây là câu khá phổ dụng. Có thể nói, từ đời Trần đến nay, Cù/ Cồ vẫn được dùng độc lập để chỉ Phật. Tất nhiên, nó được dùng hạn chế hơn rất nhiều so với các từ “Bụt”, “Phật” và “Thích”[99]. Nhưng âm Cồ là âm phổ thông trên toàn quốc. Còn âm CÙ chỉ xuất hiện một lần qua câu tục ngữ trên. Song, thế cũng đủ cho thấy, CÙ/ CỒ là dạng đơn tiết hóa của Cù Đàm/ Cồ Đàm mà thôi.
4.5. Các cứ liệu khác
Về địa danh, Trung Quốc hiện có đảo gọi là大瞿岛. Đảo này là điểm du lịch khá đẹp. Tương truyền đây cũng là nơi Phật xuất hiện. Hiện trên đảo, các di tích Phật giáo vẫn còn nguyên vẹn[100]. Ngoài ra, nước này còn có một ngọn núi là 大瞿山. Đây được coi là một miền đất phúc. Chuyện kể, khi Quan Thế Âm Bồ Tát đi về Nam để tìm nơi tu hành, Người đã dừng lại ở đây. Nhưng, hắc ngưu quái (vốn ở đây đã lâu) sợ Người chiếm mất đất bèn cho một làn xú khí bốc lên khắp trời. Quan Thế Âm thấy đất tu đã bị làm cho ô uế bèn đánh hắc ngưu lui xuống biển. Từ đó, mặt nam của núi này lưu lại một bức tượng hóa thân của Bồ Tát gọi là 大瞿石佛, còn Người lại tiếp tục xuống phía nam[101]. Có thể thấy về kết cấu của các địa danh này như sau: 大瞿 + danh từ chỉ địa điểm, cụ thể: 大瞿 + Đảo; 大瞿 + Sơn. “大 瞿 越”là một ngữ danh từ hẳn cũng được xây dựng trên cấu trúc danh từ như vậy. Chữ “đại” chỉ là một tán mĩ từ mà thôi. Đại Cù cũng là dạng viết tắt của Đại Cù Đàm.
Mặt khác nữa, sử sách hay truyền thuyết luôn có xu hướng Phật thoại hóa các nhân vật lịch sử. Hình ảnh bà mẹ Phật giáo có lẽ là hình ảnh nguyên sơ nhất trong giai đoạn này. Bà mẹ Thánh Gióng mang thai sau khi ướm vào vết chân khổng lồ, thực chất là ướm vào Phật Tích. Thánh Gióng biến thành khổng lồ để giết giặc chính là một hình ảnh khác (hóa thân, biến hiện) của Phật mà hệ kinh Agama thường nhắc đến. Mẹ Man Nương hoài thai với Khâu Đà La để sinh ra tứ pháp[102]. Cho nên, bà Phạm thị thực chất vẫn là một bà mẹ Phật giáo và mang họ của Phật, bà giao hợp với thần rồi thụ thai ở trong chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh) để sau đó sinh ra Lý Công Uẩn. Bà Đặng thị (mẹ của Lê Hoàn) mơ thấy bụng nở ra hoa sen rồi hoài thai, nên Lê Hoàn cũng chính là Phật tử[103]. Từ đó, có thể phán đoán rằng, bà mẹ của Đinh Bộ Lĩnh - bà Đàm thị cũng là một bà mẹ Phật giáo. Nhà Đinh Bộ Lĩnh chắc hẳn cũng ở một trung tâm Phật giáo thời đó tên là Đàm Gia. Vũng Đàm Gia[104] chính là nơi đôi rồng vàng xuất hiện che cho Đinh Bộ Lĩnh khi lâm nguy. Sự việc này cũng giống như việc xuất hiện con chó sắc trắng, có đốm lông đen hình hai chữ “Thiên tử” làm điềm báo sau này Lý Công Uẩn sẽ lên ngôi hoàng đế, địa điểm không ở đâu khác lại ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm (châu Cổ Pháp)[105]. Có thể nói việc dùng những hình ảnh thần bí của Phật giáo đề thần hóa vương quyền là một đặc điểm của giai đoạn Đinh, Tiền Lê, Lý. Việc bà mẹ Đinh Bộ Lĩnh mang họ Đàm, họ của Phật chứng minh ba điểm: 1. Phật giáo hẳn là tôn giáo quan trọng của tôn thất hoàng tộc[106]; 2. Phật giáo luôn có một đời sống bền chắc trong đời sống tinh thần của người phụ nữ Việt từ thời Đinh cho đến nay; 3. Họ Đàm cũng là một dạng đơn tiết hóa danh hiệu Phật (như Thích, Cồ, Bụt, Phật, Phạm).
Thêm nữa, Đinh Liễn dựng 200 kinh tràng trong hai đợt để cầu siêu cho Thái tử Hạng Lang. Đó hẳn là những đại lễ vào thời đó. Người chủ đàn có lẽ chính là sư Khuông Việt. Chữ “khuông” vốn viết tắt từ “khuông cứu”, cũng là một từ của nhà Phật nhưng với tinh thần nhập thế. Cho nên, tên Đinh Liễn được ghi trên các kinh tràng này còn được gia thêm tên đệm là “khuông” để biểu thị sự tôn kính, hay là kí hiệu đánh dấu cho một Phật tử. Nhìn ở khía cạnh loại hình nhân vật lịch sử trong giai đoạn đầu tự chủ, mô hình quan trọng nhất của trí thức là tăng quan. Các vị sư vừa là thày của vua, là người cố vấn, người nắm giữ những vị trí chủ chốt nhất, thực hiện những hành vi chính trị quan trọng nhất (như ngoại giao, cố vấn chính trị). Và hơn hết, tăng quan chính là người nắm giữ đời sống tinh thần và kiến trúc thượng tầng của toàn xã hội.
Đến đây, có thể nhận định rằng chữ “瞿” trong quốc hiệu đầu tiên của nước ta rất có thể đã được đọc bằng âm CỒ với nghĩa là chỉ Phật giáo. Đinh Tiên Hoàng không đặt tên nước là Đại Việt là để tránh trùng tên với một nước Đại Việt khác (trong số rất nhiều quốc gia tranh thủ nổi dậy ở phương Nam khi thiên triều có loạn) vừa mới bị tiêu diệt khi ông còn đang tại thế. Nhà vua vẫn gắng để lại chữ “Việt” để tưởng đến nguồn gốc phương Nam ban đầu của mình, điều này chưa thể phủ nhận được. Nhưng, việc đặt tên nước mang ý nghĩa của Phật giáo hẳn là một điều có thể chấp nhận được với những chứng cứ khảo cổ học[107] hiện còn, thêm vào đó có sự ủng hộ của hệ thống văn bản lịch sử với tự dạng khá nhất quán về ba chữ Đại Cồ Việt. Lĩnh Nam trích quái[108] chép Đinh Tiên Hoàng còn có hiệu là Cồ Thành[109], Có thể coi đây là tư liệu bổ sung làm bàng chứng. Đến đây, có thể nhận định rằng ĐẠI CỒ VIỆT nghĩa là NƯỚC VIỆT - NƯỚC PHẬT GIÁO (của đức ĐẠI CỒ ĐÀM), như nhận định của Nguyễn Khắc Kham, J. de Francis, và học giả An Chi[110]. Dẫu sao, đây vẫn chưa phải là kết quả cuối cùng bởi những gì đào được từ lòng đất có thể sẽ đưa ra những thực tế mà chúng ta ít ngờ tới[111]. Bởi lịch sử là cái được vẽ nên từ những gì còn sót lại.
--------------------------------------------------------------------------------
([1])Đại Việt sử ký toàn thư. (bản khắc năm Chính Hòa- 1698) . Ngô Đức Thọ (dịch và chú thích) Nxb KHXH, Hà Nội, 1998. Tập 1: Tr. 270. Điều này có nghĩa là khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nước vẫn mang quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Điều này khác hẳn so với cách phân chia thời kỳ, và quốc hiệu trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập). Bộ sách mang tính giáo khoa thư về lịch sử này phân giai đoạn này làm hai thời kỳ: 1. Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê (968 – 1009); 2. Đại Việt ở thế kỷ XI-XII. [Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên. 2005 (tb lần 7). Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) . Nxb Giáo Dục. H.
([2]) Lê Dư .1932. Chữ Nôm với Quốc ngữ. Nam Phong. Số172, tháng 5 . Tr. 495 - 498.
([3]) Bửu Cầm.1960. “Nguồn gốc chữ Nôm”. Văn hoá nguyệt san 50. Tr. 347-355.
Bửu Cầm. 1960. Dẫn nhập nghiên cứu chữ Nôm. Tài liệu học tập giành riêng cho chứng chỉ Việt Hán, Văn chương Quốc âm và Ngữ học Việt Nam. Đại học Văn Khoa Sài Gòn. (in roneo). Tr.09.
([4])Trần Văn Giáp. 1969. Lược khảo về nguồn gốc chữ Nôm, Nghiên cứu lịch sử 127. Tr.8.
([5]) Hoàng Thúc Trâm.1971. Góp ý với ông bạn Trần Văn Giáp về bài ‘Nguồn gốc chữ Nôm’. Nghiên cứu lịch sử 140 . Tr. 57- 62.
([6]) Lê Văn Quán.1981. Nghiên cứu về chữ Nôm. Nxb KHXH. Hà Nội.
Lê Văn Quán. 2007. Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam. Nxb Lao động. Hà Nội. Tr.243.
Chuyển dẫn theo Kỳ Quảng Mưu, chú 2: 黎文貫。1982. 《喃字出現時期初探》。王金地譯。《印支研究》1982年第四期。
([7]) Trần Quốc Vượng. 2000. Nghìn xưa văn hiến. Nxb Hà Nội. H. Tr.172.
([8]) Đào Duy Anh.1975. Chữ Nôm: nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến. Nxb KHXH. Hà Nội. Tr.26.
([9]) Alexandro De Rhodes. 1651. Dictionarivm Annamiticivm- Lusitanvm- Latinvm. Sacre Congragationis de Propagada fide Cardinales. ROME. Tr.125-126. 1994. (Từ điển Việt- Bồ- La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội. Tr.64.
([10]) Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) 1772-1773. Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1773, Tr. 137 .1999 (tb). Tự vị An nam - La tinh. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, NxbTrẻ. Tp HCM. Tr.92.
([11]) L.J. Taberd. 1838. Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Sesampore. Tr. 26.
([12]) - Huình Tịnh Paulus Của. 1895-1896. “大 南 國 音 字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, Saigon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896). Tr. 177.
([13]) J.F.M. Génibrel. 1898. Dictionnaire Annamite-Français (大越國音漢字法釋集成 Đại Việt quốc âm Hán tự Pháp thích tập thành), Saigon Imprimerie de la mission à Tân Định. Saigon. Tr.78.
([14]) G.Hue.1937. Tự điển Việt- Hoa- Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Chinois- Français), Librarie Khai Trí, 62 Lê- Lợi, Saigon.1971 (in scan theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa.1937); Tr. 303.
([15]) - Joseph Monrrone. 1838. Lexicon Cochin-sinense Latinnum. Philadenphia. Tr. 243.
- Hội Khai trí Tiến đức. 1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung - Bac Tan - Van. Mặc Lâm xuất bản. Tr. 88.
- Văn Tân (chủ biên). 1977 (tb lần 2). Từ điển tiếng Việt. Nxb KHXH. Hà Nội. Tr.325.
- Nguyễn Như Ý (chủ biên). 2001. Từ điển đối chiếu từ địa phương. Nxb Giáo dục. Hà Nội. Tr.202.
- Bùi Minh Đức. 2004. Từ điển tiếng Huế. TT Nghiên cứu Quốc học & Nxb Văn học. Tp HCM. Tr. 373, tr. 995.
- Nguyễn Như Ý (chủ biên). 2008. Đại từ điển tiếng Việt. Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh. Tp HCM. Tr.587.
- Vietlex. 2008. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng. Tr. 340, Tr.574.
([16]) Từ đây chữ “nhấn mạnh” viết tắt là nhm.
([17]) An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.
([18]) Nguyễn Thị Trang. 2004. Bước đầu tìm hiểu hệ thống chữ Nôm ghi tên hiệu các vị thành hoàng làng. Trong “Nghiên cứu chữ Nôm” Kỷ yếu hội nghị Quốc tế chữ Nôm 2004. Nxb KHXH. H. Tr. 238.
([19]) Keith Weller Taylor. 1984. The Birth of Vietnam. Berkeley. University of California Press. Tr.281.
Keith Weller Taylor. 1983. The Twelve Lords in Tenth Century Vietnam. Juarnal of Southeast Asian Studies 14, 1 (3/1983) [chuyển dẫn theo Keith Weller Taylor. 2001. Quyền uy và tính chân chính ở Việt Nam thế kỷ thứ XI. Trong “Những vấn đề lịch sử Việt Nam”. Nguyệt san Xưa & Nay - Nxb Trẻ. Tr.63-104.]
([20]) 羅長山。1992 .“古壯字與字喃比較研究”。東南亞縱橫年第三期。
([21]) Nguyễn Quang Hồng. 2009. sdd.
([22]) Lê Tắc. 2002. An Nam chí lược. Nxb Thuận Hóa & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. H. Tr.87
([23]) ĐVSKTT. Đinh Tiên Hoàng kỷ.
([24]) Khuyết danh. 1993. Đại Việt sử lược. (Nguyễn Gia Tường dịch). Nxb Tp Hồ Chí Minh. Tr.26.
([25]) Lê Tắc. sdd. Tr.78.
《宋史》。中華書局。卷488. 14058頁。
顧祖禹。《讀史方輿紀要》。中華書局。卷112. 4988 頁。
([26]) Khuyết danh. 1993. Đại Việt sử lược. . Tr.27.
([27]) Lê Tắc. 2002. An Nam chí lược. Nxb Thuận Hóa & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. H. Tr.87.
([28]) Nguyễn Anh Huy. 2009b. Luận về quốc hiệu CỒ VIỆT. http://khoahoc.net
([29]) Đến đây cũng nên nhắc đến giả thuyết của Hoàng Xuân Hãn, khi ông cũng coi Cồ là một chữ Nôm: “Lần thứ hai trong quốc sử thấy chữ mượn âm là quốc hiệu đời Đinh: Đại Cồ Viêt, chữ Cồ chắc là từ Việt, người ta thường hiểu là lớn. Nhưng ý “lớn” đã chứa trong chữ ĐẠI rồi. So sánh với những âm CÁ, CỔ, CỰ, KHẢ, KẺ thì thấy ý nghĩa âm CỒ là XỨ có lẽ hợp lý hơn.” Hoàng Xuân Hãn.1978. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. KHXH (Paris) 5-7 (1978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần- Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb Giáo dục. T3: Tr. 1092, chú 8.
([30]) Nguyễn Anh Huy. 2009a. “Đại Cồ Việt” hay “Cồ Việt”? http://www.tuoitre.com.vn ; Nguyễn Anh Huy. 2009b. Luận về quốc hiệu CỒ VIỆT. http://khoahoc.net
([31]) Điều này, Hoàng Xuân Hãn, La Trường Sơn và An Chi đã nhắc đến.
([32]) Nguyễn Anh Huy. 2009a. bdd.
([33]) Cụ thể các tiêu chí và sự hình thành chữ Nôm (nhất là sự xuất hiện của các chữ Nôm hình thanh) xin xem Nguyễn Quang Hồng. 2009. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
([34]) Lạc khoản: Tự Đức Giáp Tý. Thị giảng học sĩ Phượng Trì Vũ Phạm Khải Đông Dương bái thư. Phượng Trì Vũ Phạm Khải (1807-1872), ông tự là Đông Dương , người xã Thiên Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Vũ Phạm Khải thi đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831) đời vua Nguyễn Thánh Tổ. Ông giữ các chức quan, như: Lễ khoa cấp sự trung, Hàn lâm trực Học sĩ, Sử quán Toản tu, Thị lang, rồi thăng Bố chính Thái Nguyên, Thị độc Học sĩ. [Trịnh Khắc Mạnh. 2006. Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nxb.KHXH. Hà Nội. Tr.327] Như thế, Vũ Phạm Khải là người soạn và người viết chữ cho đôi câu đối này.
([35]) Lạc khoản: Bảo Đại Đinh Mão xuân niên. Trường Yên Trung xã lão Nguyễn Đại Đồng giai nam cựu Chánh hương hội Nguyễn Phú Cường cúng tiến. Nghĩa là: mùa xuân năm Đinh Mão niên hiệu Bảo Đại, lão Nguyễn Đại Đồng tại xã Trường Yên Trung cùng con trai Nguyễn Phú Cường vốn là Chánh hương hội cúng tiến.
([36]) Xin xem: http://www.trangnhahoaihuong.com/
([37]) Phạm Thị Nghĩa Vân. 2006. Di văn Hán Nôm tại Hoa Lư..Thông báo Hán Nôm học 2005. Nxb. KHXH. H. Tr.666.
([38]) Nguyễn Thị Lâm (Khảo cứu, phiên âm , chú giải) . 2001. Thiên Nam ngữ lục. Nxb Văn học & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. Hà Nội. Bản Nôm gốc天南語錄外紀ký hiệu AB.478 1/2 ( Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
([39]) Về sử liệu, có 4 tấm bia tại đền thờ Đinh Tiên Hoàng: 1. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức kí tịnh minh, khắc năm Hoằng Định thứ 9 (1608); 2. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức tăng tu điện miếu bi kí, khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696); 3. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức bi kí, khắc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843); 4. Trùng tu tạo tác, không rõ niên đại. Chúng tôi đã khảo sát, cả 4 bia này đều không có dòng nào ghi lại quốc hiệu Đại Cồ Việt.
([40]) Nguyễn Trãi. XV. Dư địa chí. Trong Ức trai di tập, khắc in 1868. Phúc Khê tàng bản. Trang nguyên bản 4a. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên. Tập 2. Phần Dư địa chí (Phan Duy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính chú thích. Nxb Văn học & TT Nghiên cứu quốc học. Hà Nội. 2001. Tr. 456. Bản dịch của Phan Duy Tiếp được in lần đầu năm 1967, do Viện Sử học xuất bản, sau Nxb Khoa học Xã hội tái bản năm 1976. Ngoài ra, Dư địa chí còn được Á Nam Trần Tuấn Khải dịch, in trong Văn hóa tùng thư của Tổng bộ Văn hóa Xã hội- Nxb Sài Gòn. Ấy là chưa kể đến 5 bản Hán văn của sách này hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm lần lượt mang tên Ức Trai di tập – Nam Việt dư địa chí A.2815; Đại Việt dư địa chí A.1900; Nam quốc Vũ cống A.830; An Nam Vũ cống A.2251; Lê triều cống pháp A.53. Thú vị là ở chỗ, đây đều là 5 bản chép tay. Chép tay là loại văn bản độc bản (handmade) của một cá nhân nào đó. 5 bản chép tay sẽ có giá trị khác với 5 bản in từ một ván khắc, đây là mặt mạnh nhất của các thể loại văn bản này mà ít người để ý tới. 5 bản in từ một ván khắc sẽ được đồng nhất bằng 1 bản. nhưng 5 bản chép tay sẽ được coi là 5 bản.
([41]) Đại Việt sử ký toàn thư (khắc in năm Chính Hòa thứ 18-1698). Ngô Đức Thọ (dịch và chú thích) Nxb KHXH, Hà Nội, 1998. Tr.211. Nguyên bản: ĐVSKTT. Q1. Kỷ nhà Đinh. Tiên hoàng đế. Tr.2b.
([42]) Nguyễn Thị Lâm (phiên chú). sdd.
([43]) Quốc sử quán triều Tây Sơn. 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Dương Thị The (tổ chức dịch chú). Nxb.KHXH. Hà Nội. 1997. Tr. 153. Nguyên bản in kèm: ĐVSKTB. Bản kỉ, Q1. Tr.2a-2b.
([44]) Quốc sử quán triều Tây Sơn.1800 (khắc in)。大越史記捷錄總序。Kí hiệu A.1180. Tr.7b. Đại Việt sử ký tiệp lục tổng tự là bài Tổng luận được viết bằng hai thứ văn tự: Chữ Hán và chữ Nôm. Phần chữ Hán là "nguyên văn"; phần chữ Nôm là "dịch chú" của tác giả, đúng như câu "dịch chú Quốc âm để tiện xem chung" đã ghi ở cuối bài Tổng tự. Bản khắc in do Quốc sử quán của triều Tây Sơn, Tổng tài là Ngô Thì Nhậm. [Xem thêm Hoàng Văn Lâu. 2001. “Đại Việt sử ký tiệp lục Tổng tự” – Một bài tổng luận lịch sử đáng chú ý của Quốc sử quán triều Tây Sơn. Tc Hán Nôm số 01/2001.]
([45]) Phan Thanh Giản (tổng tài). 1881. Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Chính biên-Quyển thứ I
[46] Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái . XIX. Đại Nam quốc sử diễn ca, Hoàng Xuân Hãn (phiên chú), trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (T2). Nxb Giáo Dục. Hà Nội. Tr.115.
([47]) Đặng Xuân Bảng (1828-1910). Việt sử cương mục tiết yếu. Hoàng Văn Lâu (dịch và chú giải). Nxb. KHXH. Hà Nội. 2000. Tr. 63. Nguyên bản Tr.40.
([48]) Nguyễn Văn Mại. XIX. Việt Nam phong sử. (chép tay). Tạ Quang Phát dịch. Nxb Lao động. Hà Nội. Tr.68.
([49]) Hồng Nhung và Hồng Thiết. Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca. (Nguyễn Văn Sâm & Nguyễn Hữu Vinh phiên chú). www.trangnhahoaihuong.com
([50]) Hoàng Cao Khải. 1914 (khắc in). Việt sử yếu越史要. Tr.44a; Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch. UB Dịch thuật. Sài Gòn. 1971. Tr.135.
([51]) Theo Nguyễn Anh Huy.2009a. bdd. www.khoahoc.net . Chúng tôi tạm chưa bàn đến vấn đề văn bản học của cuốn này.
([52]) Chu Minh Khôi. 2008. Thạch kinh cổ nhất Việt Nam. http://vietbao.vn/Van-hoa/Thach-kinh-co-nhat-Viet-Nam/65052168/181/ . Đáng tiếc bài viết không hiểu thuật ngữ “kinh tràng” của Phật giáo, nên viết theo Đặng Công Nga là “Những cột kinh Phật thời Đinh – Lê ở Ninh Bình là những thạch kinh cổ nhất Việt Nam . Chúng có giá trị vô cùng to lớn đối với nghiên cứu lịch sử nước nhà, giúp làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử quan trọng nửa cuối thế kỷ thứ X". Cái sai này bắt nguồn từ việc Gs Hà Văn Tấn dùng không thống nhất thuật ngữ, cùng 1 bài mà ông dùng cột kinh, cột đá, trụ đá, kinh tràng…, trong đó từ “cột kinh” được dùng chính thức trên nhan đề các bài nghiên cứu. Ông Đặng Công Nga không đọc kĩ bài của Hà Văn Tấn nên lại “thuật ngữ hóa” sang tiếng Hán thành “thạch kinh”. Hiện vật này thực tế không phải là “kinh” (sách) mà là TRÀNG (một loại pháp khí trì chú của Mật tông) trên có chép mấy lời kinh để tụng mà thôi. Cụ thể chúng tôi xin đề cập đến trong một dịp khác.
([53]) Hà Văn Tấn . 2002. Chữ trên đá, chữ trên đồng, minh văn và lịch sử. Nxb KHXH. Hà Nội. 212 Tr.
([54]) Kỳ Quảng Mưu祁廣謀。2000. "《大 瞿 越》 國名釋- 兼及吳真流《王郎歸》的語義分析”。《東南亞縱橫》。35-37 頁。
([55]) Kỳ Quảng Mưu.2000. bdd. Tr.37.
([56]) Nguyễn Khắc Kham. 1974. Chữ Nôm or the Former Vietnamese Script and Its Past Contributions to Vietnamese Literature, Area and Culture Studies 24, Tokyo University of Foreign Studies 1974. Ông viết: “Đến khi chữ Nôm được đặc biệt quan tâm [nghiên cứu], thì cách dùng quan phương của hai chữ Nôm Bố 布 và Cái 蓋 ở thế kỉ VIII cũng như chữ Cồ 瞿 ở thế kỉ X là những dấu hiệu chắc chắn chứng tỏ một số chữ Nôm đã được người Việt đề xuất muộn nhất là từ thế kỉ VIII đến thế kỉ X. Ngoài những chữ Nôm như Bố, Cái, Cồ, những chữ khác có thể đã được tạo ra trong cùng khoảng thời gian ấy bằng cách sử dụng mặt âm hoặc mặt nghĩa của chữ Hán.” [Nguyễn Tuấn Cường dịch. Tc Hán Nôm số 2, 2006. Gs NKK còn 2 bài viết nữa là “Ðại-Cồ Việt Revisited”, Vietnam Culture, Journal for the Advancement of the Arts and Humanities of Vietnam. New York, Vol.4, Number 4, Winter 1985, pp. 162-170; Đại Cồ-Việt Revisited (A revised Version )”, The Journal Insitute of Asian Studies, No. 10. March 1989, Sōka University, Tokyo, pp.17-47, Reprinted in Đại-Học. A Journal of Vietnamese Studies and Highter Learning, Mission Viejo, California, July 1991, pp. 125-153. Nhưng hiện nay chúng tôi chưa tìm được bài viết này của ông.
([57]) Nguyễn Khắc Kham. 1978. Word Corruption in Vietnamese under Chinese and French Rule. Lecture at the Center for Vietnamese Studies, Southern Illinois University, Carbondale, Illinois. September 25. [Dẫn theo Nguyễn Đình Hòa. 1990. Graphemic Borrowings from Chinese: the Case of Chữ Nôm- Vietnamese’s Demotic Script. The Bulletin of the Institute of History and Philology. Academia Sinica. Vol.LXI, Part II. Taipei, Taiwan,China. pg. 392].
([58]) Nguyễn Khắc Kham. 1978. Personal Communication. [Dẫn theo Nguyễn Đình Hòa. 1990. bdd. Tr. 392].
([59]) Theo Diễn đàn Viện Việt học, www.viethoc.org/forum . Hiện chúng tôi chưa tìm được chuyên luận này. Nhưng có lẽ đó là cuốn De Francis, John.1977. Colloialism and Language Policy in Vietnam. The Hague: Mouton. Hawail. 293 Tr.
([60]) Nguyễn Lang. 1979. Việt Nam Phật giáo sử luận. Nxb. Văn Học. Hà Nội.
([61]) Lâm Doãn林尹& Cao Minh高明 (chủ biên). 中文大辭典Trung văn đại từ điển. (Q.25/42). Trung Quốc văn hóa nghiên cứu sở ấn hành 中國文化研究所印行& Hoa Cương văn hóa thư cục 華岡文化書局. Tr. 10014-10015. Cũng xem thêm徐中舒主编:汉语大字典【1986 —1990年第一版】Tr.2520. Vương Lực (chủ biên). 2000. Cổ Hán ngữ tự điển. Trung Hoa thư cục. Tr.798-799.
([62]) “Lê Văn Siêu vào năm 1964 đã từng có một cách hiểu khác về quốc hiệu nhà Đinh nhưng ở phần chú giải, tác giả tỏ ra thiếu chính xác : Khang Hy tự điển không có chú âm nào là Cồ hay Cộ mà chỉ có CÙ, CỤ, CÂU, về nghĩa thì " Trừng thị" là trợn mắt trông thẳng chứ không phải là một chỗ trông thẳng” [theo www.viethoc.org/forum ]
([63]) Lê Văn Siêu. 2004 (tái bản). Việt Nam văn minh sử cương- Văn minh Đại Việt. Nxb Thanh Niên. Tr. 55. Ủng hộ thuyết này còn có Phạm Văn Bân trong bài Bất Túc Trưng Tập của Minh Di [theo www.viethoc.org/forum]
([64]) “Trong kinh Phật, khi thấy mấy chữ Cồ lão (ông Già Cồ) hoặc Cồ thị (họ Cồ) thì ta phải hiểu rằng đó là Đức Phật Thích Ca. Phải, CỒ LÀ HỌ CỦA ĐỨC THÍCH CA, mà hình thức đầy đủ là Cồ Đàm... CỒ VIỆT CHẲNG QUA LÀ NƯỚC VIỆT THEO ĐẠO PHẬT... chứ chẳng phải là “nước Việt to bự”... gì cả” [An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.]
([65]) Kim Cương Tử (chủ biên). 1992. Từ điển Phật học Hán Việt. Phân viện Nghiên cứu Phật học xuất bản. Hà Nội.
([66]) Trương Vĩnh Ký. 1875. Cours d' histoire annamite à l' usage des écoles de la Basse - Cochinchine. Saigon.
Trương Vĩnh Ký. 1876. Histoire Annamite. Saigon. Tr.67.
([67]) L'Abbé Adr. Launay. 1884. Histoire ancienne et moderne de l'Annam, Tong-king et Cochinchine . Paris
([68]) Alfred Schreiner. 1906. Abrégé de l'histoire d'Annam, Saigon. Tr.36.
([69]) Colonel E Diguet. 1908. Annam et Indo-Chine Francaise. Paris. Tr.12.
([70]) Nhân đây xin gửi lời cảm ơn đến bác Đinh Tuấn và Nguyễn Vinh Quang đã chia sẻ tư liệu của Trương Vĩnh Ký, L'Abbé Adr. Launay. Tiếc rằng quý vị không chua trang nguồn.
Pierre Rey. 1913. Bụt sử lược biên thiệt truyện- Thuật sự tích và lời huyền diệu của Bụt Gaudam( Cù Đàm Bụt). G. Ch Tran Chanh phụng dịch. Sai Gon. Tải bản pdf tại: http://www.trangnhahoaihuong.com
([71]) Gustave Dumoutier. 1894. "Etude historique et archéologique sur Hoa Lư. Première capitale de l' Annam indépendante". Paris. Tr. 18.
([72]) Phan Kế Bính. 1912. Nam hải dị nhân; 1922 tb lần 3 có bổ sung. Nam Hải dị nhân liệt truyện. Lê Văn Phúc hiệu chỉnh; 2004 tb. Nam Hải dị nhân. Nxb Thanh Niên. Hà Nội.
([73]) Trần Trọng Kim. 1919. Việt Nam sử lược. Bộ Giáo dục - Trung tâm Học liệu xuất bản. Tr.5.
([74]) Hội Khai trí Tiến đức. 1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung - Bac Tan - Van. Mặc Lâm xuất bản. Tr. 88. Hội gồm gồm các ông Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Thận và Nguyễn Khắc Kham.
([75]) Vệ Thạch Đào Duy Anh. 1932. Từ điển Hán Việt. (Hãn Mạn Tử - Giao Tiều hiệu đính) TIENG DAN. HUE. (tb 2001) Nxb KHXH. H. Tr.110.
([76]) Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng. 1960. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
([77]) Khuyết danh. XIII. Việt sử lược . Trần Quốc Vượng dịch. Nxb Văn Sử Ðịa. Hà Nội. 1960.
([78]) Trần Quốc Vượng. 2000. sdd.
([79]) Vũ Văn Kính. 2002. Đại tự điển chữ Nôm. Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh & TT Nghiên cứu Quốc học. Tr.182.
[80] “Hàng nghìn năm các ông đồ vẫn dạy truyền miệng theo kí ức dân gian. Chữ có nhiều âm, khác nghĩa thì dùng dấu phết vai, để nhắc đọc đúng âm, hiểu đúng nghĩa, thạo rồi thì không cần. Khi có chữ quốc ngữ, những nhà làm từ điển Hán Việt cũng dựa vào cái vốn kí ức dân gian này mà soạn từ điển là chính. Vậy không nên coi các từ điển Hán Việt hiện có là khuôn mẫu tuyệt đối. Tôi học Hán cổ được các cụ vốn là những người đã học chữ Hán theo lối cũ truyền dạy, trong đó vài cụ đã lều chõng, có cụ đỗ tú tài khoa cuối. Vậy cái vốn Hán cổ của tôi chủ yếu là kí ức dân gian. Khi vào đời mới dùng đến các từ điển Hán Việt (Cũng chỉ khi nào cần phiên âm Hán Việt chữ mà mình chưa biết, còn nghĩa tra các từ điển Hán cổ của Trung Quốc đủ hơn). Cái kí ức dân gian này hiểu rõ hơn là nó phản ánh sự hình thành cách đọc Hán Việt xa xưa, sau đó nó biến đổi theo quy luật của ngữ âm tiếng Việt và được dạy truyền miệng. Nói vậy để nói rằng cách đọc Hán Việt 瞿 bằng cù hay cồ, hay cả hai đều được cần có sự chứng minh chứ không thể đơn giản dựa vào các từ điển Hán Việt hay phiên thiết của người Trung Quốc cổ mà suy luận”. [Theo lời của kt www.viethoc.org/forum ]
([81]) Huệ Thiên. 2004. Tìm hiểu về hai từ “Bụt” và “Phật”. Trong “Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm”. Nxb Trẻ. Tr.195-200.
([82]) Ngoài ra Buddha còn được phiên âm sang tiếng Hán bằng rất nhiều cách như: Phật đà佛陀, Phù đồ 浮圖, Phật Đồ佛圖, Phù Đà浮陀, Phù Đầu浮頭, Bột Đà浡陀, Bộ Đa部多, Bộ Tha部他, Phục Đậu復豆, Bộ Đà部陀, Vật Tha物他, Bổ Đà補陀...
([83]) Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 1998. Từ điển Phật học Hán Việt. Nxb. KHXH. Tr.1256.
([84]) Giáo hội Phật giáo Việt Nam.1998. sdd. Tr.1256.
([85]) 2008. Phật quang đại từ điển (T2). Thích Quảng Độ dịch. Hội Văn hóa Giáo dục. Kinh Sơn, Đài Bắc xuất bản. Tr. 1584.
([86]) Văn Uyên Các. Tứ Khố toàn thư. Thượng Hải Nhân dân Xuất bản xã.
([87]) “Trong kinh Phật, khi thấy mấy chữ Cồ lão (ông Già Cồ) hoặc Cồ thị (họ Cồ) thì ta phải hiểu rằng đó là Đức Phật Thích Ca. Phải, CỒ LÀ HỌ CỦA ĐỨC THÍCH CA, mà hình thức đầy đủ là Cồ Đàm... CỒ VIỆT CHẲNG QUA LÀ NƯỚC VIỆT THEO ĐẠO PHẬT... chứ chẳng phải là “nước Việt to bự”... gì cả…”! [An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.]
([88]) Đào Duy Anh. 1975. Chữ Nôm - Nguồn gốc - Cấu Tạo - Diễn biến. Nxb. KHXH. H. Tr.171; Tr.192.
([89]) Trần Hữu Thung & Thái Kim Đỉnh. 1998. Từ điển tiếng Nghệ. Nxb Nghệ An. Tr. 47.
([90]) Nguyễn Quang Hồng (chủ biên). 2006. Tự điển chữ Nôm. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
([91]) Vương Lộc. 2001. Từ điển từ cổ. Nxb Đà Nẵng & TT Từ điển học.
([92]) G.Hue.1937. Tự điển Việt- Hoa- Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Chinois- Français), Librarie Khai Trí, 62 Lê- Lợi, Saigon.1971 (in scan theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa.1937); Tr.101.
([93]) G.Hue. 1937. sdd. Tr.4.
([94]) Hội Khai Trí Tiến Đức. 1931. Việt Nam tự điển. Mặc Lâm xbx. Hà Nội. Tr. 88.
([95]) Trương Đình Tín & Lê Quý Ngưu. 2007. Đại tự điển chữ Nôm. Nxb Thuận Hóa. (T1). Nhưng các tác giả lại coi CỒ trong ĐẠI CỒ VIỆT là “to” [Tr.251]. Nhân đây cũng nên cải chính lại, mà nhập vào làm một mục từ.
([96]) Hoàng Xuân Hãn.1978. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. KHXH (Paris) 5-7 (1978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần - Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb Giáo dục. T3. Tr.1121.
([97]) Lê Mạnh Thát. 2000. Trần Nhân Tông toàn tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
([98]) Việt Chương. 1995. Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam . Nxb Đồng Nai. [Chuyển dẫn theo Nguyễn Xuân Kính (chủ biên). 2002. Kho tàng tục ngữ ca dao người Việt. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội. (T1). Tr.1644.]
([99]) Lịch sử chuyển dịch kinh sách phật giáo cho phép nói, cho đến thời Đinh, Lê, cái tên Thích-ca không hoàn toàn mang tính ... "thống trị" như về sau. Kinh hệ Agama lúc đó vẫn chưa bị xem như "chỉ có giá trị tham khảo" so với kinh Đại thừa, và trong kinh hệ Agama này chỉ có mỗi cái tên Gotama (Cồ/Cù-đàm) là cái tên thông dụng của Phật. Trong kinh hệ này cũng có nói đến những chuyện như mang tên Gotama đặt cho những con đường, cây cầu mà Phật có đi qua. Thế thì không có gì lạ nếu có kẻ đặt quốc hiệu Cù/Cồ cho một nước Việt đón nhận giáo pháp của Gotama Phật Lịch sử. [www.viethoc.org/forum]
([100]) Cụ thể xin xem http://baike.baidu.com/view/1037335.htm
([101]) Cụ thể xin xem http://bdkw.66dt.com/user1/wlbdkw/archives/2007/20071211102637.html
([102]) Xem Nguyễn Quang Hồng (chủ biên). 1997.Di văn chùa Dâu (Cổ Châu lục- Cổ Châu hạnh- Cổ Châu nghi ). Nxb Khoa học Xã hội.Hà Nội.190 tr & 115 trang phụ lục nguyên bản ván in tk XVIII tại chùa Dâu.
([103]) ĐVSKTT. bdd.
([104]) Nay ở Điền Xá, Gia Viễn, Ninh Bình. ĐVSKTT. bdd.
([105]) ĐVSKTT. bdd.
([106]) Xin xem thêm Lê Mạnh Thát. 2002. Lịch sử Phật giáo Việt Nam (T.2). Nxb. TP HCM. Tr.412.
Nguyễn Tài Thư (chủ biên).1988. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb KHXH. H.
([107]) Nguyễn Danh Phiệt. 1990. Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb. KHXH. H. 222 Tr.
([108])Vũ Quỳnh. 1492. 嶺南摘怪Lĩnh nam trích quái . Truyện Đinh Bộ Lĩnh. Kí hiệu là A.1752. Xem bản dịch tại http://lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=138&Itemid=22 .
([109]) Theo www.viethoc.org/forum . Nhân đây cũng xin cảm ơn các quý vị trong diễn đàn đã có những gợi ý và chỉ dẫn tư liệu cho bạn đọc, những ý kiến của từng quý vị trong suốt 2 năm qua, chúng tôi tạm không nêu cụ thể vì quá nhiều, mong quý vị thông cảm.
([110]) An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.
([111]) GS Hà Văn Tấn (chủ biên). 2002. Khảo cổ học VN , tập 3 - Khảo cổ học lịch sử Việt Nam . Nxb KHXH. Hn . Tr. 54, Tr.57. Các tác giả phát hiện 4 viên gạch có chữ "Đại việt quốc quân thành chuyên" đào được ở Hoa Lư. Các tác giả dựa vào vật liệu và phương pháp xây dựng đoán định rằng gạch này thuộc về thời Đinh - Lê. Ts Nguyễn Thị Hậu dựa trên các cứ liệu này đưa ra giả thuyết rằng, ĐẠI CỒ VIỆT thực chất chỉ là quốc hiệu ĐẠI VIỆT (vốn bị ngoa truyền) đã được chính thức hóa qua các bộ sử đời sau. Tuy nhiên, việc xác định niên đại các viên gạch này cần phải bàn lại. Liệu đó có phải là gạch của đời Lý qua một đợt xây lại nào đó mà sử sách không nhắc đến?
(Nước Việt - nước Phật giáo)
Trần Trọng Dương (e-mail: trantrongduonghn@gmail.com)
Download bản cứng (có thể trích dẫn, quoteable):
http://www.mediafire.com/?g6075g79zh2t7wy
Quốc hiệu Đại Cồ Việt 大 瞿 越 do vua Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968 SCN. Đại Cồ Việt là quốc hiệu đầu tiên, được dùng trong 8 đời vua của 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý, với quãng thời gian dài 86 năm (từ 968 - 1054). Tức là mãi đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 (1054), vua Lý Thái Tông mới đặt lại quốc hiệu là Đại Việt[1]. Nội dung của ba chữ “Đại Cồ Việt” đã được một số học giả quan tâm nghiên cứu. Sở dĩ, nó được chú ý đến như vậy bởi lẽ đây là quốc hiệu chính thức đầu tiên của người Việt sau khi đánh đuổi người phương Bắc, kết thúc giai đoạn một ngàn năm mà cương vực của người Việt chịu sự cai quản của ngoại bang. Quốc hiệu Đại Cồ Việt đương nhiên chứa trong đó tư tưởng chính trị và xu hướng tôn giáo của người cầm quyền, tuy nhiên trước nay đây vẫn luôn là một bài toán khó giải. Rất nhiều ý kiến đã đưa ra, nhưng vẫn chỉ được coi như là những giả thuyết. Giả thuyết được đồng thuận nhiều nhất được một số học giả hàng đầu của thế kỷ XX đưa ra, giả thuyết này coi CỒ (lớn) là một từ Việt cổ. Bài viết này viết ra với mục đích tổng thuật, đánh giá về các giả thuyết trước đây, cũng như khảo luận về quốc hiệu đầu tiên này, từ đó đưa ra cách nhận định riêng trên cơ sở những thành quả của các ngành lịch sử, tôn giáo (Phật học), văn bản học, văn tự học v.v.
I. Giả thuyết coi CỒ là từ Việt cổ
2.1. CỒ “瞿 ” là một từ Việt cổ?
Những học giả như Sở Cuồng Lê Dư (1932)[2], Bửu Cầm (1960)[3], Thúc Ngọc Trần Văn Giáp (1969)[4], Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1971)[5], Lê Văn Quán (1981, 1982, 2007) [6], Trần Quốc Vượng (1960, 2000)[7] v.v. đều cho rằng chữ “瞿 ”, âm Hán-Việt đọc là “cù”, thực tế thường được đọc là CỒ nghĩa là “to, lớn”. Năm 1975, Đào Duy Anh viết như sau: “Cồ nghĩa là lớn: mến đức cồ, kinh bùi ngọt. Trong Sử ký thấy dùng từ CỒ trong tên nước ở thời nhà Đinh là Đại Cồ Việt. Ngày nay ta cũng còn thấy dùng chữ kép đại cồ lồ. Song từ Quốc âm thi tập về sau thì không thấy từ cồ được dùng riêng.”[8] Sở dĩ ông coi CỒ là một từ cổ vì ông tra được chữ này (thực ra chỉ là từ tố TTD nhm) trong từ điển của A de Rhodes (1651)[9], Pierre Pegneaux de Béhaine (1772 - 1773)[10], L.J. Taberd (1838)[11], Huình Tịnh Paulus Của (1895)[12], J.F.M. Génibrel (1898)[13], G.Hue (1937)[14] . Nhưng các từ này không phải là từ cổ mà vẫn dùng trong tiếng Việt ít nhất từ thế kỷ XVII hiện nay. Thực tế, trong suốt lịch sử tiếng Việt, chữ CỒ chưa từng đứng độc lập làm thành phần trong câu. Bởi giai đoạn Cổ- Trung đại, tiếng Việt đã có từ CẢ, CÁI để trỏ nghĩa “lớn”, đến giờ là từ LỚN, BỰ, TO, ĐẠI. “CỒ” chỉ là một từ tố trong các từ song tiết như gà cồ, vịt cồ, cồ cộ, vịt xiêm cồ, mà thôi. Sắc thái của nó không chỉ có nghĩa là “to” mà đôi khi còn có nghĩa là “ngố, ngờ nghệch” như câu: lóng ngóng như gà cồ/ tồ, Nữ kê tác quái - gà mái đá gà cồ. “Gà cồ” còn có nghĩa là gà đực, gà chọi, như gà cồ sớt chó sói… Đồng dao có câu: Sáo đen là em gà cồ. Gà cồ là cô sáo sậu. Sáo sậu là cậu chim ri..; Vè nói ngược có câu: …lên non đặt lờ/ xuống sông bửa củi/ gà cồ hay ủi/ heo nái hay bươi… Tục ngữ còn có câu: gà cồ ăn quẩn cối xay (tk XIX), nay chuyển sang nói gà què ăn quẩn cối xay, lại có câu ca dao: Gà cồ lẩn quẩn cối xay/ Ai cho muối ớt xé phay gà cồ. Câu đố dân gian có câu: Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, đụng phải gà cồ lại cõng mẹ chạy vô… Từ tố CỒ hiện vẫn đang còn dùng trong một số địa phương. Ví dụ: vùng Sơn Tây, gọi anh nào to cao ngồ ngộ gọi là CỒ, như Thắng Cồ. Hay gọi loài ve sầu to và đen hơn loại ve sầu thường là con “cồ cộ”. Chữ “cồ cộ” ở một số nơi khác còn để chỉ loại châu chấu cỡ lớn. Xin xem các từ điển từ xưa đến nay.[15] Những tin đồn thất thiệt thì gọi là tin vịt, hơn nữa là tin vịt cồ. Có thể đi đến nhận định, từ tk XVII đến nay, chữ CỒ là một từ tố không có khả năng đứng độc lập, vì phải nhường chỗ cho các từ đồng nghĩa khác; quan trọng nhất, nó chỉ chuyên dùng cho các đối tượng là động vật mà thôi. Cho nên, khả năng kết hợp “đức cồ” (TTD nhm)[16] là rất khó xảy ra. Việc coi CỒ trong ĐẠI CỒ VIỆT như một từ cổ là kết luận được hình thành từ cảm thức tiếng Việt hiện đại thông qua tra cứu các từ điển cổ mà thôi.
Về mặt cấu trúc của ngữ danh từ, đây là một cấu trúc của Hán văn. Trong đó, trung tâm ngữ là từ “Việt” đứng ở sau cùng, hai từ “đại” và “cồ” đứng trước để tu sức cho “Việt”. Cấu trúc này có lẽ không phải bàn cãi nhiều. Nếu theo giả thuyết CỒ là một chữ Nôm, thì cấu trúc này sẽ có trật tự khá bất ổn như sau: [từ Hán (đại) + từ Nôm (cồ: lớn) + từ Hán]. Mối quan hệ giữa “đại” và “cồ” là mối quan hệ đẳng lập, nhưng “cồ” lại là yếu tố chức năng để chua nghĩa cho “đại”. Điểm bất ổn ở chỗ, cố gắng chua nghĩa cho một từ quá đơn giản và dễ hiểu. Cho nên, nói như học giả An Chi: “Đối với chữ Cồ trong Đại Cồ Việt mà nói rằng đây là một yếu tố Nôm có nghĩa là “to, lớn” thì thật chẳng còn gì nhẹ dạ cho bằng. Với cách hiểu quá đỗi hời hợt này, người ta đã gây ra trong 3 tiếng Đại Cồ Việt một cái lỗi quá thô thiển về trùng ngôn (pleonasm): đã “đại” mà lại còn “cồ”. Chẳng những thế, cách hiểu rất ít chiều sâu đó còn biến ba tiếng Đại Cồ Việt thành một thứ ngôn ngữ “ba rọi” (vừa Tàu vừa ta) không thể chấp nhận được cho một quốc hiệu nghiêm túc và đáng kính trọng v.v.”[17] Hiện tượng từ Nôm được dùng như là một thành phần của một ngữ danh từ tiếng Hán không phải là không có. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Trang thì trong số 4000 vị thần thì có khoảng 10% tên các vị có yếu tố Nôm, như Bến Nước Đại vương, Cửa Ngòi Công chúa, Đống Đá Hiển ứng Chiêu cảm Đại vương[18] v.v. Có thể thấy yếu tố Nôm ở đây chỉ là danh từ riêng, và cấu trúc của các ngữ này chỉ là [danh từ Nôm + từ Hán]. Giả thuyết coi CỒ chua nghĩa cho ĐẠI là bất ổn cả về ngữ nghĩa lẫn cấu trúc.
2.2. Hệ quả của giả thuyết coi CỒ là một từ Việt cổ. Dựa trên giả thuyết coi CỒ là chữ Nôm để ghi từ Việt cổ của các học giả vừa nêu, năm 1984, Keith Weller Taylor đi đến nhận xét rằng: “đại cồ” là một dạng ghép “phản ánh sự phát triển sáng tạo của ngôn ngữ bản địa khi nó được sử dụng cho vấn đề chính trị”[19] trong giai đoạn tự chủ mới.
Năm 1992, nhà nghiên cứu văn tự học Trung Quốc, La Trường Sơn cũng viết: “năm 968 scn, triều Đinh bắt đầu kiến lập nhà nước phong kiến tự chủ, chữ CỒ trong quốc hiệu lại là một chữ Nôm, nhưng ý nghĩa của chữ Nôm này vốn đã nằm trong nghĩa của chữ “đại” rồi. Đó là dấu vết chữ Nôm xuất hiện đầu tiên trong thế kỷ X.”[20]
Theo chúng tôi, đây là giả thuyết thuần túy văn tự theo chiều hướng có lợi cho dân tộc (TTD nhm) của các nhà Nôm học trong thế kỷ XX, từ đó dẫn đến những ý kiến đồng thuận của các nhà sử học trong nước và các nhà nghiên cứu nước ngoài (những người phi bản địa). CỒ được coi là một từ Nôm để chứng minh ba điểm: 1. Chữ Nôm đã ra đời từ thế kỷ X; 2. Khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc thông qua sự tự ý thức của người cầm quyền về ngôn ngữ dân tộc. 3. Độc lập dân tộc là kế thừa truyền thống tộc Việt từ thời Hùng Vương, Âu Lạc, Lạc Việt, với những thành tựu văn hóa như nỏ thần kim quy! Một giả thuyết khoa học đứng trên rung động tình cảm dân tộc là một điều có thể hiểu được vào một số thập kỷ của thế kỷ trước (thế kỉ XX) khi hoàn cảnh lịch sử của đất nước còn chưa được ổn định. Nhưng, kể cả chữ CỒ là một từ Nôm đi chăng nữa thì cũng không thể khẳng định rằng chữ Nôm đã ra đời với tư cách là một hệ thống văn tự dùng để ghi một chuỗi ngôn từ thuần Việt[21]. Như trên đã chứng minh, giả thuyết coi CỒ chua nghĩa cho ĐẠI là bất ổn cả về ngữ nghĩa lẫn cấu trúc. Không những vậy, giả thuyết này còn bất hợp lý xét ở các cạnh khía văn hóa, lịch sử, chính trị, tư tưởng, như dưới đây.
2.3. Chữ CỒ từ bối cảnh văn hóa thời đại.
Qua các tài liệu lịch sử, ba đời vua (13 năm) nhà Đinh chưa có ý thức về “ngôn ngữ bản địa”. Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là Vạn Thắng Vương 萬聖王[22]. Quần thần tôn là Đại Thắng Minh Hoàng đế 大勝明皇帝(đế hiệu thuần Hán)[23]. Rồi ngay sau khi lên cầm quyền, vua Đinh phong cho con là Đinh Liễn tước là Nam Việt Vương 南越王[24], rồi sai Đinh Liễn đi sứ để triều cống và xin sự công nhận của thiên triều. Nhà Tống mới lập, còn bận nhiều việc chưa đem quân đến chinh phạt, nên năm 973 Tống Thái Tổ bèn ban bài chế công nhận Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận vương, Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ檢校太師靜海軍節度使[25]. Năm 970, đổi niên hiệu là Thái Bình太平. Đến niên hiệu Thái Bình thứ 3, vua phong Đinh Tuệ là Vệ Vương衛王, lập con thứ là Hạng Lang làm Thái tử太子[26].
Như thế, có thể thấy rằng, vào giai đoạn đầu độc lập tự chủ, triều đại đầu tiên của Việt Nam luôn ý thức được rằng, phải mềm mỏng trong vấn đề ngoại giao. Trong nước vẫn có thể có quốc hiệu, vua vẫn tự xưng đế hiệu của mình. Nhưng một mặt, vẫn phải nhún nhường xin nhà Tống công nhận mình là nước phiên thuộc, hàng năm vẫn phải cống sứ đầy đủ. Và muốn được Bắc quốc công nhận, các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý cũng phải cố gắng chứng tỏ mình là một nước thuộc về văn hóa ngôn ngữ của Trung Hoa, phải cố gắng chứng tỏ mình đã được “giáo hóa”, là nước có “văn hiến” (xét theo nghĩa gốc của từ này, như Nguyễn Trãi sau đó gần 500 năm cũng đã viết trong Bình Ngô đại cáo). Biểu hiện quan trọng nhất của việc có văn hiến là xác định hệ thống văn tự quan phương (văn) và chủ thể sử dụng thứ văn tự đó (hiến), rồi sau đó mới đến thiết lập triều nghi, dùng hình pháp (pháp trị), đóng đô, xây cung điện để làm chỗ thiết triều, xắp đặt bách quan, lập ngôi hoàng hậu, phong vương phong tước, dựng đàn Xã Tắc làm nơi tế tự của triều đình quốc gia (quốc tế, tự điển).v.v. Quan trọng không kém là đặt quốc hiệu. Vì thế, tên nước Đại Cồ Việt là thuần Hán thì thiên triều mới chấp nhận được. Và cũng chỉ có thuần là nghĩa Hán thì nó mới “đồng bộ” với các tên quan chức theo mô hình của Hán như Đô hộ phủ, Thập đạo Tướng quân, Đinh quốc công, tăng thống.v.v. Đinh triều hẳn là triều đình lấy Hán văn làm ngôn ngữ hành chính và ngoại giao (TTD nhm). Bài từ tiếp sứ Vương lang quy của Ngô Chân Lưu sau này cũng là bài thơ chữ Hán vậy.
Nếu không dùng chữ Hán, cái nhà nước vừa mới hình thành sau cả ngàn năm thuộc Bắc, cái nhà nước mới được hưởng chút ít “Thái Bình” sau cái loạn 12 sứ quân kia lại bị liệt vào danh sách những nước “mọi rợ” (không có chữ viết) thì sẽ sớm phải chịu cảnh “khai hóa” của nước lớn. Đọc lời chế của Tống Thái Tổ có thể thấy rõ điều này: “Bộ Lĩnh […], giữ tiết làm tôi hướng theo phương Bắc, […], có chí mến văn hóa của Trung Quốc, thường nghĩ đến việc nội phụ, […], qua lại cống hiến lễ vật. Nay có lời khen ngợi đã sai con đến xin làm phiên thuộc, vậy phong cho cha làm quận vương.v.v. ”[27] Cho nên, lập luận cho “Đinh Tiên Hoàng dùng lại chữ “Việt” là tìm về cội nguồn Lạc Việt (tổ tiên của dân tộc Việt chúng ta), lại thêm chữ CỒ (tiếng Việt) để muốn giương cao nước Cồ Việt là một nước rộng và có nền văn hóa “lớn” thuần Việt (phi Hoa phi Ấn)”[28] là có phần chủ quan, tiền định.
Đến đây, chúng tôi có khuynh hướng nghiêng về phía các học giả cho rằng, quốc hiệu “Đại Cồ Việt” vẫn là tên thuần Hán. Điều đó có nghĩa là, chữ “Cù” không phải là chữ Nôm dùng để ghi âm CỒ của tiếng Việt cổ trong một ngữ danh từ theo trật tự cấu trúc của tiếng Hán[29].
II. Giả thuyết coi [đại + cồ] là một chữ Nôm
Tuy nhiên, gần đây, Nguyễn Anh Huy[30] đã đưa ra một giả thuyết thú vị, giải thích về ba chữ “Đại Cồ Việt”, coi [đại + cồ] là một chữ Nôm hài thanh. Giả thuyết này của tác giả được hình thành trên tín niệm của rất nhiều học giả hàng đầu của thế kỷ XX, coi CỒ (lớn) là một từ Việt cổ, như bài viết đã nêu ở trên. Ông đưa ra bốn bước lập luận như sau:
1. “Đại Cồ” là từ thừa nghĩa, thừa chữ. Vì “đại” tiếng Hán là lớn; và CỒ tiếng Việt cổ cũng nghĩa là lớn[31]. Chính sự dư thừa một cách vô lý như vậy đã khiến cho đa số người đời sau không thể hiểu được ý nghĩa của danh từ này.
2. Ông cho rằng: ở đây có một sự nhầm lẫn về văn bản học của các nhà sử học thời trung đại. Đại Việt sử ký toàn thư (từ đây viết tắt là ĐVSKTT)- văn bản chính sử đầu tiên có ghi nhận quốc hiệu này lại “không phải là chữ viết gốc thời Đinh Tiên Hoàng mà đã “tam sao thất bản” nhiều lần qua các bản chép tay của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, sử thần triều Lê v.v. Nhưng lần “thất bản” lớn nhất, theo tôi, là chuyển từ bản chép tay sang khắc mộc bản (sic) để in sách từ thời Lê Chính Hòa năm 1697.”[32] Từ việc nghi ngờ đối với văn bản như vậy, tác giả đã đi đến giả thuyết cho rằng “Đại Cồ Việt” là một chữ có vấn đề về mặt tự dạng.
3. Ông cho rằng “đại cù” trong ĐVSKTT là một chữ Nôm hài thanh “cồ𡚝 ”. Do các văn bản cổ viết theo hàng dọc, nên chữ Nôm “cồ𡚝” rất dễ đọc nhầm thành hai chữ “đại” và “cù”.
4. Cứ liệu thành văn mà ông đưa ra để củng cố thêm cho giả thuyết của mình đó là đôi câu đối trong đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Hoa Lư, trong đó chỉ ghi quốc hiệu là CỒ VIỆT.
Giả thuyết cho hai chữ [đại + cồ] là một chữ Nôm hình thanh để ghi 1 từ Việt là CỒ (nghĩa là lớn) là giả thuyết thú vị. Nhưng, nếu đã nêu cao “tinh thần dân tộc” thì phải chăng nên đặt theo cấu trúc của ta là “Việt Cồ”? Mặt khác, các nhà khảo cổ và Nôm học chưa từng tìm thấy một chữ Nôm hình thanh nào vào thế kỷ X để làm tiền lệ hay đối chiếu[33].
Trước tiên, bài viết muốn thảo luận lại về văn bản có ghi nhận CỒ VIỆT. Đó là câu đối ở đền vua Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư. Nguyên văn như sau瞿越國當宋開寶、華藘都是漢長安(Cồ Việt Quốc đương Tống Khai Bảo/ Hoa Lư đô thị Hán Trường An) nghĩa là “nước Cồ Việt tương đương với niên hiệu Khai Bảo đời Tống/ Kinh đô Hoa Lư cũng như là Trường An đời Hán”. Ngoài ra, ở Hoa Lư cũng còn có một câu đối nữa có xuất hiện chữ “Cồ Việt” với nội dung như sau: 萬勝威雄,瞿越基開正統始/ 天書分定,華藘運啟聖人生 (Vạn Thắng uy hùng, Cồ Việt cơ khai chính thống thủy/ Thiên thư phân định, Hoa Lư vận khải thánh nhân sinh) nghĩa là “Vạn Thắng Vương oai hùng, Cồ Việt nền xây, (triều đại) chính thống (từ đây) bắt đầu/ Thiên thư phân định, Hoa Lư vận mở, thánh nhân xuất hiện”. Tuy nhiên, niên đại của hai đôi câu đối này là khá muộn. Đôi đầu được viết vào năm Giáp Tý thời Tự Đức (1864)[34]. Đôi sau được viết vào năm Đinh Mão thời Bảo Đại (1927)[35]. Trong Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca do Hồng Nhung và Hồng Thiết (con của Tuy Lý Vương) diễn dịch cũng có chữ này ở đoạn “Ông Ðinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư . Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt渃稱瞿越[36], Đô đóng Trường An” (249-256). Tức là cả 3 văn bản ghi “Cồ Việt” đều là các văn bản rất muộn vào đời Nguyễn sau ĐVSKTT hai trăm năm.
Mặt khác, chúng tôi cho rằng chữ “Cồ Việt” ở đây chỉ là cách gọi tắt của “Đại Cồ Việt” dưới áp lực của thể loại văn vần. Câu đối là thể loại văn học hạn chế người sáng tác đến từng âm tiết, ngoài ra còn phải kể đến luật bằng trắc. Còn thể loại thơ bốn chữ cũng vậy, 1 câu thơ 4 chữ thật khó có thể đặt một danh từ riêng chiếm đến 3 âm tiết. Với cấu trúc “trắc - bằng - trắc”, ba chữ “Đại Cồ Việt” nếu đưa vào bất cứ một câu văn vần nào thì cũng sẽ dễ gây nên sự thất luật. Điều này có thể thấy rõ, đế hiệu Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là “Vạn Thắng Vương” cũng bị cắt mất một âm tiết. Có người không biết “Vạn Thắng” là đế hiệu nên không viết hoa mà phiên âm và hiểu theo nghĩa là “muôn chiến thắng”[37] và không chua gì cả. Một chứng cứ nữa vể việc “Đại Cồ Việt” bị cắt mất một âm tiết trong văn bản văn vần. Đó là đôi câu thơ “Nước xưng ĐẠI CỒ nối trời, xây thành lập lũy trong ngoài sửa sang" (câu 4102 và câu 4103) trong sách Thiên Nam ngữ lục[38]. Có thể thấy, có 3 văn bản ghi quốc hiệu là “Cồ Việt”, 1 văn bản ghi quốc hiệu là “Đại Cồ”. Và cả 4 văn bản này đều thuộc về văn vần (xin xem bảng tra ở dưới). Trong khi đó ĐẠI CỒ VIỆT luôn luôn được ghi một cách trọn vẹn trong các văn bản lịch sử bằng văn xuôi (9 văn bản). Cụ thể như sau:
Sử liệu[39]
Niên đại
Chữ
Thể loại
Đinh viết Đại Cồ Việt, đô Hoa Lư (Dư địa chí)[40]
Sáng tác XV, in 1868
大 瞿 越
Văn xuôi
(“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Khai Bảo năm thứ 1). Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt… bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”[41]
1697 (Khắc in)
大 瞿 越
Văn xuôi
Thiên Nam ngữ lục[42]
Thế kỉ XVIII
大 瞿
Văn vần
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Thái Tổ Khai Bảo năm thứ 1). Vua buổi đầu lên ngôi. Đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt…các bề tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”[43]
1800
(khắc in)
大 瞿 越
Văn xuôi
“Làm kẻ chợ ở động Hoa Lư, nay là Trường Yên phủ, dựng hiệu nước là nước Đại Cồ Việt”[44]
1800
(Khắc in)
大 瞿 越萬勝 王
Văn xuôi
Câu đối đền Đinh Tiên Hoàng
1864
瞿 越
Văn vần
" Mậu Thìn (968), Đinh Tiên Hoàng năm thứ 1 (Tống, Thái tổ, năm Khai Bảo thứ 1). Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế, quốc hiệu là Đại Cồ Việt (không rõ tháng nào)"[45]
1881
(Khắc in)
大 瞿 越 萬勝 王
Văn xuôi
Một mai về với Trần công/ hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua[46]
1870
萬勝
Văn vần
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Thái Tổ Khai Bảo năm thứ 1). Vạn Thắng Vương lên ngôi hoàng đế. Quốc hiệu là Đại Cồ Việt…Quần thần dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”[47]
Cuối thế kỉ XIX (chép tay)
大 瞿 越
萬勝 王
Văn xuôi
Việt Nam phong sử[48]
Cuối tk XIX (chép tay)
大 瞿 越
Văn xuôi
“Ông Ðinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư . Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt, Đô đóng Trường An” (249-256)[49].
1912
瞿越 萬 勝
Văn vần
Việt sử yếu[50]
1914
(khắc in)
大 瞿 越 萬 勝 王
Văn xuôi
Đinh tộc gia phả[51]
1916 - 1925
大 瞿 越
Văn xuôi
Câu đối đền Đinh Tiên Hoàng
1927
瞿越 / 萬勝
Văn vần
Về văn bản học, chưa từng có một văn bản sử học (bằng văn xuôi: 9 vb) nào ghi nhận cách viết [đại + cồ] là một chữ Nôm. Hơn nữa, các văn bản xuất hiện vào thời Đinh đến nay hầu như không còn gì. Hiện, chỉ có một số văn bản rất đáng chú ý; đó là 40 kinh tràng[52] hiện đang nằm trong kho hiện vật của Bảo tàng Ninh Bình. Tiếc rằng, chúng tôi, dù đã cố gắng, nhưng không thể nào tiếp cận được những tư liệu đặc biệt quý hiếm này. Trong số 40 kinh tràng trên, có 2 kinh tràng đã từng được giáo sư Hà Văn Tấn nghiên cứu[53]. Thế nhưng, cả hai là các văn bản chép kinh trì chú của phái Mật tông, nên không có thông tin nào. Tóm lại, tất cả các văn bản sử học (văn xuôi, trong đó ĐVSKTT vẫn là văn bản sớm nhất, có giá trị nhất, tính khả tín cao nhất) đều ghi quốc hiệu là “大 瞿 越”. Tất cả các văn bản văn vần đều ghi thiếu một âm tiết do hạn định của thể loại đối với số lượng âm tiết và luật bằng trắc.
Điều chúng tôi muốn nói ở đây là những nghiên cứu sẽ khó có thể đạt được kết quả khi người thực hiện cố gắng chối từ sự hiện hữu của tư liệu. Điều đó sẽ dẫn đến hành động sử dụng tất cả các dữ liệu để chứng minh cho một định đề có sẵn. Lập luận cho rằng ĐVSKTT và các văn bản lịch sử khác viết sai là một thao tác “bạt bản tắc nguyên”, phủ nhận giá trị thực tại, khách quan của các ngành khoa học cơ bản nhất trong các khoa học về xã hội nhân văn, đó là khảo cổ học, văn bản học, ngôn ngữ học. Mặt khác, chúng ta cũng khó có thể tưởng tượng rằng, sẽ như thế nào nếu toàn bộ các sử gia của một cộng đồng dân tộc cũng như “kí ức dân gian” quên bẵng mất, hoặc là nhớ nhầm/ viết nhầm quốc hiệu đầu tiên của mình? Như trên, bài viết đã phản bác lại các giả thuyết coi CỒ là một từ Việt cổ và giả thuyết coi [ĐẠI + CỒ] là một chữ Nôm. Dưới đây, bài viết muốn đề cập đến các giả thuyết coi CỒ là một chữ Hán.
III. Các giả thuyết coi CỒ là một chữ Hán
Trong những người quan tâm nghiên cứu về quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, Nguyễn Khắc Kham, Kỳ Quảng Mưu chủ trương cho rằng “Đại Cồ Việt” là một từ thuần Hán. Cả hai ông đều đưa ra những kiến giải riêng hữu lý. Bài viết giới thiệu giả thuyết của hai học giả trên nhằm góp phần lý giải về nội dung ngữ nghĩa của ba chữ “Đại Cồ Việt”- quốc hiệu đầu tiên của nước ta trong thời kỳ đầu của độc lập tự chủ.
3.1. Giả thuyết của Kỳ Quảng Mưu
Trong bài “Giải thích về tên nước Đại Cồ Việt - và phân tích ngữ nghĩa bài Vương lang quy của Ngô Chân Lưu” đăng trên tạp chí Đông Nam Á tung hoành, tác giả Kỳ Quảng Mưu (khoa Đông Phương ngữ của Lạc Dương Ngoại quốc ngữ Học viện, Trung Quốc), cho rằng Đinh Bộ Lĩnh định quốc hiệu là Đại Cồ Việt hẳn là phải có dụng ý của riêng mình. Trước tiên, ông để ý đến hai thành tố quan trọng và khó hiểu nhất đó là hai chữ “Cồ Việt”. Đó là một danh hiệu để khu biệt với các dân tộc và quốc gia khác thuộc vùng Bách Việt xưa. Đinh Bộ Lĩnh không đặt tên nước là Nam Việt quốc để tránh trùng tên nước của Việt Đà. Ông cũng không đặt tên nước là Đại Việt vì nó cũng trùng với quốc hiệu của Lý Thánh Tông. Ông này vốn tên là Lưu Long- em của Thanh Hải quân Tiết độ sứ Lưu Ổn đời Đường mạt, sau khi Lưu Long kế thừa chức nghiệp của anh, đã xưng đế vào năm 917 tại Quảng Châu, định quốc hiệu là “Đại Việt”, sau đổi thành “Hán”, sử sách gọi là Nam Hán. Nhưng năm 972, Nam Hán bị Tống thôn tính. Cho nên, Đinh Bộ Lĩnh đã tránh dùng lại quốc hiệu cũ của nước láng giềng, và đặt tên nước là Đại Cồ Việt[54].
Kỳ Quảng Mưu cho rằng, từ thực tế lịch sử, Đinh Bộ Lĩnh đã ứng thuận lòng dân, dẹp bỏ loạn lạc, thống nhất lãnh thổ, đưa chính quyền về một mối. Nhưng nước mới được lập, vừa qua cơn chiến loạn, ông chắc hẳn đã đối mặt với rất nhiều khó khăn, luôn luôn phải răn dè bản thân. Cho nên, đặt niên hiệu “Thái Bình” là để an dân. Đặt quốc hiệu “Đại Cồ Quốc” là để tự răn mình, răn rằng: “mới có niềm vui của sự thành công thì phải đề cao lòng răn dè sợ sệt, mắt phải nhìn cho xa”[55].
Như thế, Kỳ Quảng Mưu khẳng định quốc hiệu “Đại Cồ Việt” là một danh từ thuần Hán, trong đó chữ CỒ cũng mang ngữ nghĩa của tiếng Hán (TTD nhấn mạnh). Trong đó ông muốn hiểu, chữ CỒ mang đủ cả ba nghĩa như ông đã tra cứu qua Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: “瞿Cồ: 1.sức trông xa của chim ưng; 2.nhìn chú vào một chỗ; 3.sợ hãi.”
Chúng tôi thiết nghĩ, coi “Đại Cồ Việt” là một cụm từ thuần Hán là một hướng lý giải đúng hướng. Tuy nhiên, việc lấy nghĩa cơ bản của chữ CỒ để lý giải cho ba chữ này là giả thuyết cần phải bàn lại.
3.2. Các giả thuyết của Nguyễn Khắc Kham
Giống như Kỳ Quảng Mưu và các nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Khắc Kham là người trăn trở khá nhiều về quốc hiệu Đại Cồ Việt. Năm 1974, ông cũng từng coi CỒ là một chữ Nôm[56], sau ông đã từ bỏ giả thuyết này bằng cách cùng một lúc đưa ra hai giả thuyết khác vào năm 1978.
Giả thuyết đầu tiên ông đưa ra là một cách giải thích thú vị. Ông nói: “theo tôi, “Cồ Việt” có lẽ là cách đọc của người Việt cổ cho hai chữ “Âu Việt 甌 越”. Chữ Âu có hai âm đọc ở tiếng Hán cổ là *U và *KU,… có lẽ triều Đinh đã sử dụng chữ Hán “cù” thay cho “Âu” để tránh nhầm lẫn.”[57] Giả thuyết này có hai điểm yếu: 1. Chứng minh “Cù” là một cách đọc/ cách ghi âm khác của ngữ âm tiếng Việt Mường về chữ “Âu” là một cách lý giải khá hóc hiểm và kỳ khu; 2. Dùng một từ đồng âm, nhưng khác về tự dạng để “tránh nhầm lẫn” rằng nước “Âu Việt” của mình (Đinh Bộ Lĩnh) khác với nước “Âu Việt” thời cổ cũng là một giả thuyết khó có thể xảy ra nữa. Nếu đã đề cao truyền thống dân tộc thì dùng cả âm, cả chữ, cả nghĩa; chứ sao phải thay đổi phức tạp như vậy?
Ông cũng đưa ra một giả thuyết khác, rằng: “Cồ Đàm瞿 曇 là họ của Phật, dịch từ chữ Gautama trong tiếng Sanskrit. Phật giáo phát triển mạnh ở Việt Nam vào triều Đinh, lực lượng tăng lữ giữ vị trí quan trọng trong triều đình, ông có hướng cho rằng Đại Cồ Việt có lẽ nghĩa là “nước Việt- nước Phật giáo lớn. Ở đây, ta cũng nhắc đến chi tiết một trong năm Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng có tên là Cồ Quốc 瞿 國 (Nước Phật)”[58]. Chính giả thuyết này học giả J. de Francis[59] cũng đã từng đưa ra bởi ông này cũng cho rằng Phật giáo thời Đinh hẳn là quốc giáo, gần đây An Chi cũng ủng hộ thuyết này. Nhân đây xin mượn lời của Nguyễn Lang để minh chứng: “Tiếp đến, Ðinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân, lập ra nước Ðại Cồ Việt độc lập. Mật Giáo và Thiền là hai hệ thống Phật giáo hưng thịnh nhất của thời đại. Chính trong thế kỷ này mà những trụ đá (sic) về Mật Tông được tạo dựng ở Hoa Lư. Chính trong thế kỷ này mà đạo Phật tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Ðinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu của thiền phái Vô Ngôn Thông, cho ông hiệu Khuông Việt Thái Sư, chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng chính trong thế kỷ này mà vua Lê Ðại Hành mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi làm cố vấn chính sự. Các thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp.”[60]
Giả thuyết này của J. de Francis, Nguyễn Khắc Kham và An Chi hoàn toàn hợp lý với những gì chúng ta biết từ trước đến này về nhà Đinh. Đại Cồ Việt tuy mới tách ra khỏi nước lớn, nhưng Phật giáo vẫn được coi như là một quốc giáo, y như nhà Đường trước đó. Điều này có thể thấy sự đồng nhất về phong cách kiến trúc giữa văn hóa Đại Cồ Việt và văn hóa Đường. Từ chùa Nhất Trụ (chùa một cột), từ Tháp Nhạn, đến các kinh tràng…, từ xu hướng ngôn ngữ, phong cách văn chương chữ Hán cho đến hệ kiến trúc thượng tầng. Có thể nói, sự đột khởi của văn hóa Đinh - Lý - Trần, sự xuất hiện đầu tiên và lập tức là đỉnh cao, chỉ có thể đặt trong bối cảnh văn hóa Đại Cồ Việt - Đại Việt kế thừa từ văn hóa đời Đường, trên nền tảng văn hóa Đường. Phật giáo chắc hẳn phải là quốc giáo vào thời Đinh. Cho nên, lấy họ Phật để đặt quốc hiệu là một giả thuyết rất có thể xảy ra trên thực tế.
IV. Khảo về chữ CỒ trong “Đại Cồ Việt”
4.1. Khảo về âm và nghĩa Về âm đọc của chữ “瞿”, Trung văn đại từ điển[61] ghi nhận chữ này có 5 âm đọc như sau:
Quảng vận【廣韻】ghi cửu ngộ thiết (九遇切) , Tập vận【集韻】và Vận hội【韻會】đều ghi câu ngộ thiết (俱遇切),âm cú ngộ 音句遇 , khứ thanh, vậy chữ này được đọc là CỐ. Âm đọc này có 7 nét nghĩa.
Quảng vận【廣韻】ghi kỳ câu thiết (其俱切), Tập vận【集韻】và Vận hội【韻會】đều ghi quyền câu thiết (權俱切), âm cù ngu (衢虞切) (bình thanh), vậy phương án đọc thứ hai có thể cho ta hai âm là CẦU, CÙ. Âm đọc này có 15 nét nghĩa.
Tập vận【集韻】ghi kí lực thiết (記力切), âm cức, chức (亟,職), nhập thanh, vậy chữ này có cách đọc thứ 3 là CỰC. Với nghĩa là vẻ buồn rười rượi (cực cực)
Ngoài ra, Trung văn đại từ điển còn đưa ra cách đọc khá đặc biệt nữa là CỦ (âm như chữ củ 矩). Với nghĩa là quy củ (đạo hiệt củ của Nho gia).
Theo các vận thư, chữ “瞿” có thể đọc theo 5 âm: CỐ, CẦU, CÙ, CỰC, CỦ. Như thế, cứ theo mặt chữ mà đọc theo âm và theo nghĩa, ta sẽ có một bảng tổng hợp tất cả các khả năng có thể xảy ra trên lý thuyết cho các từ大 瞿 越. Cụ thể như sau: 1. ĐẠI CỐ VIỆT: Nước Việt lớn như bày nhạn tụ tập. 2. ĐẠI CỐ VIỆT: Nước Việt lớn có vẻ nhìn (hay tầm nhìn) như chim nhạn. 3. ĐẠI CỒ VIỆT: nước Việt lớn có ánh nhìn sợ hãi. 4. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn như chim sẻ quay đầu. 5. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn (nhưng) run sợ (trước Thiên triều) như ý kiến của Kỳ Quảng Mưu. 6. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn (biết) tiết kiệm. 7. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn sợ hãi. 8. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn có ánh mắt trừng trừng, láo liên[62]. 9. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn vừa chạy vừa sợ hãi. 10. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (như) gai táo. 11. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn có cái mào trên đầu. 12. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (đẹp) như hoa bách hợp. 13. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (có) binh khí (như một giả thuyết khác của Nguyễn Anh Huy). 14. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn như ngã tư đường. 15. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn, gầy gò. 16. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (có nhiều) cỏ cù. 17. ĐẠI CỤ VIỆT: nước Việt lớn buồn bã như khi đang có tang. 18. ĐẠI CỦ VIỆT: nước Việt lớn có quy củ. (18 cách dịch này chưa kể đến mối quan hệ ngữ pháp của chữ ĐẠI trong cả ngữ danh từ, cũng chưa kể đến 5 cách dùng của chữ CÙ để ghi danh từ riêng.)
Chỉ xét trên tiêu chí NGỮ NGHĨA, thì ai cũng thấy các tác giả khi coi CỒ là một từ Hán đều thực hiện thao tác chọn nghĩa của từ này thông qua tra cứu từ điển, xem nghĩa nào “hợp” nhất. Tiêu chí của sự hợp lý ấy là nghĩa phải đẹp, mang tầm vóc của quốc gia, thể hiện tâm tư, ý hướng, khát vọng của cả dân tộc. Giả thiết của Kì Quảng Mưu khó chấp nhận được cũng bởi vì không thể xảy ra xét trên hai tiêu chí âm và nghĩa, nhất là sự suy luận về nghĩa của ông lại ảnh hưởng theo nhãn quan của con dân nước lớn. Giả thuyết của Lê Văn Siêu (1964) coi “瞿” thông với chữ “衢”, coi: “Đại Cồ Việt có nghĩa là nước Việt rộng lớn trông suốt cả bốn cõi hay tám cõi (bát hoang) theo lối hiểu ngày xưa, ấy là cái cao vọng của người không những muốn thống trị mà còn muốn bành trướng thế lực ra tám cõi nữa.” [63] Hiểu như Lê Văn Siêu thì cũng theo tinh thần dân tộc mà suy diễn. Nói như ngôn ngữ mà học sinh Việt Nam hiện nay được dạy thì Đinh Bộ Lĩnh đặt tên nước là Đại Cù Việt vì ông đã nhìn thấy mảnh đất này nằm ở “ngã tư đường giao thông quốc tế”. Giả thuyết khác của Nguyễn Anh Huy cho CỒ nghĩa là loại binh khí cổ của nước Âu Lạc (để thể hiện sự tiếp nối truyền thống của dân tộc) thì quả cũng chỉ là một cách “gồng mình” thay cho lịch sử. Có thể coi giả thuyết này là sản phẩm lãng mạn hóa bởi tinh thần chauvinisme theo trường phái Kim Định.
4.2. Vì sao âm CỒ không có trong vận thư từ điển Trung Hoa?
Chỉ xét riêng ÂM ĐỌC thôi, tất cả các khả năng trên đây đều bị loại bỏ, bởi chữ “瞿” chưa từng được các từ điển Trung Quốc ghi nhận cách đọc CỒ (TTD nhm). Thế nhưng, không một ai trong các học giả trên bác bỏ âm đọc CỒ của chữ Hán, thay vào đó là công nhận CỒ chính thức hơn là âm đọc CÙ. Lý do tại sao? Bởi, ai cũng đọc theo cái “kí ức dân gian”, cái “trí nhớ dân gian” mà bài viết đã nhắc đến ở trên. Liệu hàng vạn lớp người của một dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử có thể đọc sai hay đọc nhầm quốc hiệu đầu tiên của mình không? Liệu hàng trăm sử gia thời trung đại, liệu hàng ngàn nhà Nho trong quá khứ đều đọc sai ba chữ này? Không, tất cả đều đọc đúng. Kể cả một số học giả gần đây đặt ra những giả thuyết lý thú đi thế nào chăng nữa thì cái âm CỒ vẫn là một dữ liệu bất biến, không thể thay đổi. CỒ là một hằng số. Mọi suy luận, mọi xét đoán đều phải dựa vào âm này. Thế mà cái âm đọc ấy lại không hề được ghi nhận theo các vận thư, từ điển Trung Hoa. Hẳn là có uẩn khúc gì ở đây?
Uẩn khúc ấy chính là chữ “瞿” được dùng để phiên âm một âm tiết của tiếng Phạn, âm phiên này đã được đọc chệch đi so với âm Hán Việt của nó. Đây chính là điểm mà J. de Francis, Nguyễn Khắc Kham và An Chi[64] đã đề cập đến. Chữ “瞿” với âm đọc CÙ đã được dùng để ghi âm “Go” hay “Gau” trong họ của đức Phật Gautama. Sự tương ứng thủy âm C/ G chắc không phải bàn luận nữa. Sự tương ứng giữa nguyên âm (phần vần của chữ) U với O hay AU cũng là hiển nhiên. Vì thế, cái âm CỒ hẳn là một hợp âm được hình thành trong quá trình dịch âm từ tiếng Phạn sang tiếng Hán rồi từ Hán sang tiếng Hán Việt. Âm CỒ hẳn là sản phẩm của Phật giáo đã được Việt hóa. Kiểm tra trong Từ điển Phật học Hán Việt thì thấy chữ “瞿” dùng để ghi 23 từ có ÂM đọc là CỒ (có liên quan đến Phật) như: cồ di, cồ chỉ la, cồ đàm di, cồ đáp ma…[65] và không một lần nào được dùng để ghi âm CÙ. Tuy nhiên, các học giả Trương Vĩnh Kí (1875)[66], L'Abbé Adr. Launay (1884)[67], Alfred Schreiner (1906)[68], Colonel E. Diguet (1908)[69], Pierre Rey (1913)[70] đều ghi nhận đọc là “CÙ”. Điều đáng nói ở đây là các học giả này đều là người nước ngoài, cho nên khi gặp phải một chữ Hán đã được Việt hóa khác đi, thì tất cả lại đều cứ theo vận thư từ điển mà phiên thành CÙ. Trương Vĩnh Ký tuy là người bản địa, nhưng lại là một sản phẩm hoàn hảo của Tây học, hoặc giả đó chỉ là một phút lơ đãng của học giả uyên bác này. Trái ngược lại, tất các học giả bản địa [trừ một người ngoại quốc là Gustave Dumoutier (1894)[71]] vẫn phiên là CỒ như Phan Kế Bính (1912)[72], Trần Trọng Kim (1919)[73], các học giả trong hội Khai Trí Tiến Đức (1931)[74], Đào Duy Anh (1932)[75], Hà Văn Tấn (1960)[76], Tạ Quang Phát (1971), Trần Quốc Vượng (1960[77], 2000[78]), Vũ Văn Kính (2002)[79]… Cho đến nay, các sách giáo khoa trên toàn quốc vẫn ghi ĐẠI CỒ VIỆT. Đó hẳn dựa trên sự “truyền thừa ký ức lịch sử” trong cộng đồng người Việt! Cho nên mới nói cái “ký ức dân gian” đã truyền thừa âm đọc CỒ từ xưa cho đến tận ngày nay, cũng y như chữ貉 (trong Lạc Việt) được đọc là lạc (mà không đọc là hạc theo vận thư). Đào Duy Anh cũng theo “ký ức dân gian” ấy mà đọc là CỒ, trong cuốn từ điển Hán Việt. Đọc chữ Hán theo âm Hán Việt Việt hóa là hiện tượng gặp rất nhiều trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, cũng như các sách vở của những người cổ học mà tri thức được hình thành từ quá trình truyền thừa, theo lối học ông đồ xưa[80]. Có thể nhận định rằng âm CỒ là âm phổ thông của “瞿” trong 大 瞿 越. Và CỒ (với âm đọc Việt hóa như vậy) rất có khả năng dùng để chỉ đức Đại Cồ Đàm.
4.3. CỒ - hiện tượng đơn tiết hóa
Tuy nhiên, giả thuyết coi CỒ là CỒ ĐÀM trước nay bị phản bác ở điểm, các từ điển Trung Hoa không ghi nhận “瞿” đứng độc lập là một dạng viết tắt, hay rút gọn của Cồ Đàm. Nhưng có điều, xu hướng “đơn tiết hóa” các danh từ riêng trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt (hai ngôn ngữ đơn lập đơn tiết) là một hiện thực ngôn ngữ thường gặp. Ví dụ hiển minh nhất cũng chính là BỤT và PHẬT, đều là hai chữ (phiên âm từ hai giai đoạn lịch sử khác nhau) rút gọn từ BỤT ĐÀ, PHẬT ĐÀ[81]. Mà hai chữ này vốn là để ghi một trong mười danh hiệu của Phật, nguyên tiếng Sanskrit là Buddha[82]. Một cứ liệu thực địa khác hiện tồn trong đời sống của người Việt, chùa Bổ Đà (một ngôi chùa tổ tương truyền nơi Phật xuất hiện, thuộc huyện Việt Yên, Bắc Giang) vẫn được nhân dân gọi tắt là chùa Bổ. Sư cụ Thích Quảng Luân trụ trì chùa trong suốt thế kỷ XX cũng được gọi tắt là cụ BỔ. Cũng cùng tỉnh Bắc Giang, chùa Đức La (còn gọi là chùa Vĩnh Nghiêm, nơi trữ ván kinh cổ) cũng được mấy cánh xe ôm và các bà chạy chợ gọi tắt là chùa LA.
Đến như hai chữ “Thích Ca” vốn là “tên gọi tắt của Thích Ca Mâu Ni và Thích Ca Văn”[83] cũng được viết tắt một lần nữa thành THÍCH. Chúng tôi xin trích nguyên văn từ điển: “THÍCH釋: Sàkya. Cách gọi tắt của từ Thích Ca, tên gọi của đức Phật Thế tôn. Đạo Phật hồi mới truyền sang Trung Quốc, các tăng thường được gọi bằng họ thế tục của mình, hoặc lấy họ Trúc hoặc lấy họ của bậc sư phụ,… Đến ngài Đạo An, cao tăng đời Tấn mới bắt đầu nói: Đức Phật có họ Thích Ca, nay các Phật tử nên theo họ của đức Phật, tức họ Thích”[84]. Không những thế, sự đơn tiết hóa còn tạo ra một họ khác nữa của người theo đạo Phật, đó là ĐÀM. Phật quang đại từ điển ghi: “Đàm… gọi đủ là Đàm Ma, dịch là Pháp, tức là chỉ cho phép của đức Phật… Tên các vị tăng Trung Quốc phần nhiều đặt chữ “Đàm” ở trước như Đàm Loan, Đàm Diệu, Đàm Ảnh… ”[85] Có thể nói, việc đơn tiết hóa danh hiệu Phật là điều hết sức bình thường trong tiếng Hán và tiếng Việt.
4.4. Cứ liệu thành văn của chữ CỒ đơn tiết
Trong Hán văn, việc đơn tiết hóa danh hiệu hay họ Cồ Đàm cũng có cứ liệu văn bản. Bằng chứng là trong tuyển tập từ Lô Sơn quy lai tập (quyển bảy) được sáng tác vào đời Nam Tống (từ niên hiệu Kiến Viêm đến Đức Hựu) của tác giả Trương Nguyên Cán có lời từ như sau: 瞿老拈花、經離亂,青山盡處,海角又天涯[86] “Cồ lão niêm hoa, kinh li loạn, thanh sơn tận xứ, hải giác hựu thiên nha” nghĩa là “lão Cồ tay nhắc nhành hoa, (ta) trải qua bao li tán loạn lạc, (giờ đang) ở nơi tận cùng núi biếc, góc bể mấy chân trời.” Rõ ràng là tác giả đã sử dụng điển “niêm hoa vi tiếu” trong nhà Phật. Và lão Cồ ở đây chính là Cồ Đàm, điều này An Chi cũng đã từng gợi ý[87].
Trong tiếng Việt, chứng tích đơn tiết hóa xưa nhất chính là đôi liên phú của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo: Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo; Mến đức Cồ (勉德瞿), kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay (hội 7, câu 99-100). Có thể coi, đây là tư liệu thành văn sớm nhất có xuất hiện chữ CỒ đơn tiết mà chúng ta biết được. Xét về nội dung triết học thì ai cũng thấy rõ chỉ sự đối ứng giữa Nho giáo và Phật giáo, giống như ở các liên phú sau: Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận/ ơn Nghiêu rộng cả, lọt toàn thân phô việc đã xa (hội 5, câu 61-62) hay Sách Dịch xem chơi, yêu tính lặng hơn yêu châu báu/ Kinh Nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim (hội 1, câu 13-14). Thánh (Khổng tử) đối với đức Cồ (Phật), đức Bụt đối với ơn Nghiêu, sách Dịch đối với kinh Nhàn. Xét về thanh luật thì âm CÙ (bằng) sẽ là sự lựa chọn duy nhất để đối với THÁNH, chứ không thể dùng các âm trắc như: Bụt, Phật, Thích được. Mặt khác, trong Cư trần lạc đạo chữ “Phật佛” (đơn tiết) xuất hiện 2 lần tại câu 47, 48; chữ “Bụt孛”(đơn tiết) xuất hiện 9 lần tại các câu 33, 53, 55, 56, 61, 89, 93, 113, 116; chữ “Thích ca” dùng 1 lần tại câu 51. Nếu dựa trên cách tính định lượng như trên, sẽ thấy Cư trần lạc đạo dùng nhiều danh hiệu để chỉ Phật, trong đó Bụt là nhiều nhất. Từ số liệu trên đây, ta có thể đi đến một kết luận: thời Trần, âm Bụt (âm cổ Hán Việt của Phật) vẫn đang phổ dụng hơn cả. Các âm còn lại cũng được dùng để chỉ Phật, nhưng ít hơn. Chữ CỒ trong “mến đức Cồ” dĩ nhiên không mang nghĩa là “lớn” (như đã nêu ở trên) mà để chỉ đức Cồ Đàm hay rộng hơn là chỉ Phật.
Không ngờ CỒ là từ chỉ Phật, Đào Duy Anh chú giải lầm khi coi CỒ là từ cổ với nghĩa là “lớn”[88], từ đó dẫn đến sự đồng thuận của hàng loạt các học giả từ thế kỷ XX đến nay. Một số từ điển chữ Nôm và từ cổ được biên soạn gần đây, vì dùng lại bản phiên của Đào Duy Anh nên đều công nhận CỒ trong “mến đức cồ” là một từ cổ, như Từ điển tiếng Nghệ (1998, Tr. 47)[89] ,Từ điển chữ Nôm (Viện NC Hán Nôm, 2006, Tr. 199)[90], Từ điển từ cổ của Vương Lộc (2001, Tr.37)[91]. Từ điển Tự điển Việt- Hoa- Pháp của G Hue (1937) [92] xác nhận CỒ là từ để chỉ Phật ở nét nghĩa thứ hai; nhưng ở nét nghĩa thứ nhất lại ghi CỒ VIỆT (nước Việt lớn) là quốc hiệu thời Đinh Tiên Hoàng, nay có thể cải chính, nhập vào thành một mục từ. Sở dĩ, từ điển này ghi nhận CỒ VIỆT vì tác giả đã tiếp thu[93] mục từ này từ từ điển của hội Khai trí Tiến đức[94] trước đó 6 năm, còn từ điển này lại lấy ngữ liệu từ một tác phẩm văn vần nào đó, nhưng lại không thấy trích dẫn nguyên văn. Có thể nhận định CỒ VIỆT ở đây là cách gọi tắt của ĐẠI CỒ VIỆT mà thôi, đây là lỗi của nhà làm từ điển. Duy có từ điển của Trương Đình Tín và Lê Quý Ngưu công nhận CỒ trong câu này là chỉ Đức Phật[95]. Những người chua đúng chữ này là Hoàng Xuân Hãn[96] và Lê Mạnh Thát trong Trần Nhân Tông toàn tập[97].
Ngay trong dân gian cũng có câu thành ngữ như "Lù khù có ông Cù độ mạng" hay “Lù đù có ông Cù hộ mạng”. Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam của Việt Chương chua rằng: “ông Cù: ông Bụt, hay ông Phật. Người dại khờ dốt nát có khi lại được trời Phật độ trì.”[98] Nếu thử một thao tác enter qua google sẽ được 42 trang mạng có câu này, hẳn đây là câu khá phổ dụng. Có thể nói, từ đời Trần đến nay, Cù/ Cồ vẫn được dùng độc lập để chỉ Phật. Tất nhiên, nó được dùng hạn chế hơn rất nhiều so với các từ “Bụt”, “Phật” và “Thích”[99]. Nhưng âm Cồ là âm phổ thông trên toàn quốc. Còn âm CÙ chỉ xuất hiện một lần qua câu tục ngữ trên. Song, thế cũng đủ cho thấy, CÙ/ CỒ là dạng đơn tiết hóa của Cù Đàm/ Cồ Đàm mà thôi.
4.5. Các cứ liệu khác
Về địa danh, Trung Quốc hiện có đảo gọi là大瞿岛. Đảo này là điểm du lịch khá đẹp. Tương truyền đây cũng là nơi Phật xuất hiện. Hiện trên đảo, các di tích Phật giáo vẫn còn nguyên vẹn[100]. Ngoài ra, nước này còn có một ngọn núi là 大瞿山. Đây được coi là một miền đất phúc. Chuyện kể, khi Quan Thế Âm Bồ Tát đi về Nam để tìm nơi tu hành, Người đã dừng lại ở đây. Nhưng, hắc ngưu quái (vốn ở đây đã lâu) sợ Người chiếm mất đất bèn cho một làn xú khí bốc lên khắp trời. Quan Thế Âm thấy đất tu đã bị làm cho ô uế bèn đánh hắc ngưu lui xuống biển. Từ đó, mặt nam của núi này lưu lại một bức tượng hóa thân của Bồ Tát gọi là 大瞿石佛, còn Người lại tiếp tục xuống phía nam[101]. Có thể thấy về kết cấu của các địa danh này như sau: 大瞿 + danh từ chỉ địa điểm, cụ thể: 大瞿 + Đảo; 大瞿 + Sơn. “大 瞿 越”là một ngữ danh từ hẳn cũng được xây dựng trên cấu trúc danh từ như vậy. Chữ “đại” chỉ là một tán mĩ từ mà thôi. Đại Cù cũng là dạng viết tắt của Đại Cù Đàm.
Mặt khác nữa, sử sách hay truyền thuyết luôn có xu hướng Phật thoại hóa các nhân vật lịch sử. Hình ảnh bà mẹ Phật giáo có lẽ là hình ảnh nguyên sơ nhất trong giai đoạn này. Bà mẹ Thánh Gióng mang thai sau khi ướm vào vết chân khổng lồ, thực chất là ướm vào Phật Tích. Thánh Gióng biến thành khổng lồ để giết giặc chính là một hình ảnh khác (hóa thân, biến hiện) của Phật mà hệ kinh Agama thường nhắc đến. Mẹ Man Nương hoài thai với Khâu Đà La để sinh ra tứ pháp[102]. Cho nên, bà Phạm thị thực chất vẫn là một bà mẹ Phật giáo và mang họ của Phật, bà giao hợp với thần rồi thụ thai ở trong chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh) để sau đó sinh ra Lý Công Uẩn. Bà Đặng thị (mẹ của Lê Hoàn) mơ thấy bụng nở ra hoa sen rồi hoài thai, nên Lê Hoàn cũng chính là Phật tử[103]. Từ đó, có thể phán đoán rằng, bà mẹ của Đinh Bộ Lĩnh - bà Đàm thị cũng là một bà mẹ Phật giáo. Nhà Đinh Bộ Lĩnh chắc hẳn cũng ở một trung tâm Phật giáo thời đó tên là Đàm Gia. Vũng Đàm Gia[104] chính là nơi đôi rồng vàng xuất hiện che cho Đinh Bộ Lĩnh khi lâm nguy. Sự việc này cũng giống như việc xuất hiện con chó sắc trắng, có đốm lông đen hình hai chữ “Thiên tử” làm điềm báo sau này Lý Công Uẩn sẽ lên ngôi hoàng đế, địa điểm không ở đâu khác lại ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm (châu Cổ Pháp)[105]. Có thể nói việc dùng những hình ảnh thần bí của Phật giáo đề thần hóa vương quyền là một đặc điểm của giai đoạn Đinh, Tiền Lê, Lý. Việc bà mẹ Đinh Bộ Lĩnh mang họ Đàm, họ của Phật chứng minh ba điểm: 1. Phật giáo hẳn là tôn giáo quan trọng của tôn thất hoàng tộc[106]; 2. Phật giáo luôn có một đời sống bền chắc trong đời sống tinh thần của người phụ nữ Việt từ thời Đinh cho đến nay; 3. Họ Đàm cũng là một dạng đơn tiết hóa danh hiệu Phật (như Thích, Cồ, Bụt, Phật, Phạm).
Thêm nữa, Đinh Liễn dựng 200 kinh tràng trong hai đợt để cầu siêu cho Thái tử Hạng Lang. Đó hẳn là những đại lễ vào thời đó. Người chủ đàn có lẽ chính là sư Khuông Việt. Chữ “khuông” vốn viết tắt từ “khuông cứu”, cũng là một từ của nhà Phật nhưng với tinh thần nhập thế. Cho nên, tên Đinh Liễn được ghi trên các kinh tràng này còn được gia thêm tên đệm là “khuông” để biểu thị sự tôn kính, hay là kí hiệu đánh dấu cho một Phật tử. Nhìn ở khía cạnh loại hình nhân vật lịch sử trong giai đoạn đầu tự chủ, mô hình quan trọng nhất của trí thức là tăng quan. Các vị sư vừa là thày của vua, là người cố vấn, người nắm giữ những vị trí chủ chốt nhất, thực hiện những hành vi chính trị quan trọng nhất (như ngoại giao, cố vấn chính trị). Và hơn hết, tăng quan chính là người nắm giữ đời sống tinh thần và kiến trúc thượng tầng của toàn xã hội.
Đến đây, có thể nhận định rằng chữ “瞿” trong quốc hiệu đầu tiên của nước ta rất có thể đã được đọc bằng âm CỒ với nghĩa là chỉ Phật giáo. Đinh Tiên Hoàng không đặt tên nước là Đại Việt là để tránh trùng tên với một nước Đại Việt khác (trong số rất nhiều quốc gia tranh thủ nổi dậy ở phương Nam khi thiên triều có loạn) vừa mới bị tiêu diệt khi ông còn đang tại thế. Nhà vua vẫn gắng để lại chữ “Việt” để tưởng đến nguồn gốc phương Nam ban đầu của mình, điều này chưa thể phủ nhận được. Nhưng, việc đặt tên nước mang ý nghĩa của Phật giáo hẳn là một điều có thể chấp nhận được với những chứng cứ khảo cổ học[107] hiện còn, thêm vào đó có sự ủng hộ của hệ thống văn bản lịch sử với tự dạng khá nhất quán về ba chữ Đại Cồ Việt. Lĩnh Nam trích quái[108] chép Đinh Tiên Hoàng còn có hiệu là Cồ Thành[109], Có thể coi đây là tư liệu bổ sung làm bàng chứng. Đến đây, có thể nhận định rằng ĐẠI CỒ VIỆT nghĩa là NƯỚC VIỆT - NƯỚC PHẬT GIÁO (của đức ĐẠI CỒ ĐÀM), như nhận định của Nguyễn Khắc Kham, J. de Francis, và học giả An Chi[110]. Dẫu sao, đây vẫn chưa phải là kết quả cuối cùng bởi những gì đào được từ lòng đất có thể sẽ đưa ra những thực tế mà chúng ta ít ngờ tới[111]. Bởi lịch sử là cái được vẽ nên từ những gì còn sót lại.
--------------------------------------------------------------------------------
([1])Đại Việt sử ký toàn thư. (bản khắc năm Chính Hòa- 1698) . Ngô Đức Thọ (dịch và chú thích) Nxb KHXH, Hà Nội, 1998. Tập 1: Tr. 270. Điều này có nghĩa là khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nước vẫn mang quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Điều này khác hẳn so với cách phân chia thời kỳ, và quốc hiệu trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập). Bộ sách mang tính giáo khoa thư về lịch sử này phân giai đoạn này làm hai thời kỳ: 1. Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê (968 – 1009); 2. Đại Việt ở thế kỷ XI-XII. [Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên. 2005 (tb lần 7). Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) . Nxb Giáo Dục. H.
([2]) Lê Dư .1932. Chữ Nôm với Quốc ngữ. Nam Phong. Số172, tháng 5 . Tr. 495 - 498.
([3]) Bửu Cầm.1960. “Nguồn gốc chữ Nôm”. Văn hoá nguyệt san 50. Tr. 347-355.
Bửu Cầm. 1960. Dẫn nhập nghiên cứu chữ Nôm. Tài liệu học tập giành riêng cho chứng chỉ Việt Hán, Văn chương Quốc âm và Ngữ học Việt Nam. Đại học Văn Khoa Sài Gòn. (in roneo). Tr.09.
([4])Trần Văn Giáp. 1969. Lược khảo về nguồn gốc chữ Nôm, Nghiên cứu lịch sử 127. Tr.8.
([5]) Hoàng Thúc Trâm.1971. Góp ý với ông bạn Trần Văn Giáp về bài ‘Nguồn gốc chữ Nôm’. Nghiên cứu lịch sử 140 . Tr. 57- 62.
([6]) Lê Văn Quán.1981. Nghiên cứu về chữ Nôm. Nxb KHXH. Hà Nội.
Lê Văn Quán. 2007. Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam. Nxb Lao động. Hà Nội. Tr.243.
Chuyển dẫn theo Kỳ Quảng Mưu, chú 2: 黎文貫。1982. 《喃字出現時期初探》。王金地譯。《印支研究》1982年第四期。
([7]) Trần Quốc Vượng. 2000. Nghìn xưa văn hiến. Nxb Hà Nội. H. Tr.172.
([8]) Đào Duy Anh.1975. Chữ Nôm: nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến. Nxb KHXH. Hà Nội. Tr.26.
([9]) Alexandro De Rhodes. 1651. Dictionarivm Annamiticivm- Lusitanvm- Latinvm. Sacre Congragationis de Propagada fide Cardinales. ROME. Tr.125-126. 1994. (Từ điển Việt- Bồ- La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội. Tr.64.
([10]) Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) 1772-1773. Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1773, Tr. 137 .1999 (tb). Tự vị An nam - La tinh. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, NxbTrẻ. Tp HCM. Tr.92.
([11]) L.J. Taberd. 1838. Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Sesampore. Tr. 26.
([12]) - Huình Tịnh Paulus Của. 1895-1896. “大 南 國 音 字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, Saigon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896). Tr. 177.
([13]) J.F.M. Génibrel. 1898. Dictionnaire Annamite-Français (大越國音漢字法釋集成 Đại Việt quốc âm Hán tự Pháp thích tập thành), Saigon Imprimerie de la mission à Tân Định. Saigon. Tr.78.
([14]) G.Hue.1937. Tự điển Việt- Hoa- Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Chinois- Français), Librarie Khai Trí, 62 Lê- Lợi, Saigon.1971 (in scan theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa.1937); Tr. 303.
([15]) - Joseph Monrrone. 1838. Lexicon Cochin-sinense Latinnum. Philadenphia. Tr. 243.
- Hội Khai trí Tiến đức. 1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung - Bac Tan - Van. Mặc Lâm xuất bản. Tr. 88.
- Văn Tân (chủ biên). 1977 (tb lần 2). Từ điển tiếng Việt. Nxb KHXH. Hà Nội. Tr.325.
- Nguyễn Như Ý (chủ biên). 2001. Từ điển đối chiếu từ địa phương. Nxb Giáo dục. Hà Nội. Tr.202.
- Bùi Minh Đức. 2004. Từ điển tiếng Huế. TT Nghiên cứu Quốc học & Nxb Văn học. Tp HCM. Tr. 373, tr. 995.
- Nguyễn Như Ý (chủ biên). 2008. Đại từ điển tiếng Việt. Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh. Tp HCM. Tr.587.
- Vietlex. 2008. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng. Tr. 340, Tr.574.
([16]) Từ đây chữ “nhấn mạnh” viết tắt là nhm.
([17]) An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.
([18]) Nguyễn Thị Trang. 2004. Bước đầu tìm hiểu hệ thống chữ Nôm ghi tên hiệu các vị thành hoàng làng. Trong “Nghiên cứu chữ Nôm” Kỷ yếu hội nghị Quốc tế chữ Nôm 2004. Nxb KHXH. H. Tr. 238.
([19]) Keith Weller Taylor. 1984. The Birth of Vietnam. Berkeley. University of California Press. Tr.281.
Keith Weller Taylor. 1983. The Twelve Lords in Tenth Century Vietnam. Juarnal of Southeast Asian Studies 14, 1 (3/1983) [chuyển dẫn theo Keith Weller Taylor. 2001. Quyền uy và tính chân chính ở Việt Nam thế kỷ thứ XI. Trong “Những vấn đề lịch sử Việt Nam”. Nguyệt san Xưa & Nay - Nxb Trẻ. Tr.63-104.]
([20]) 羅長山。1992 .“古壯字與字喃比較研究”。東南亞縱橫年第三期。
([21]) Nguyễn Quang Hồng. 2009. sdd.
([22]) Lê Tắc. 2002. An Nam chí lược. Nxb Thuận Hóa & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. H. Tr.87
([23]) ĐVSKTT. Đinh Tiên Hoàng kỷ.
([24]) Khuyết danh. 1993. Đại Việt sử lược. (Nguyễn Gia Tường dịch). Nxb Tp Hồ Chí Minh. Tr.26.
([25]) Lê Tắc. sdd. Tr.78.
《宋史》。中華書局。卷488. 14058頁。
顧祖禹。《讀史方輿紀要》。中華書局。卷112. 4988 頁。
([26]) Khuyết danh. 1993. Đại Việt sử lược. . Tr.27.
([27]) Lê Tắc. 2002. An Nam chí lược. Nxb Thuận Hóa & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. H. Tr.87.
([28]) Nguyễn Anh Huy. 2009b. Luận về quốc hiệu CỒ VIỆT. http://khoahoc.net
([29]) Đến đây cũng nên nhắc đến giả thuyết của Hoàng Xuân Hãn, khi ông cũng coi Cồ là một chữ Nôm: “Lần thứ hai trong quốc sử thấy chữ mượn âm là quốc hiệu đời Đinh: Đại Cồ Viêt, chữ Cồ chắc là từ Việt, người ta thường hiểu là lớn. Nhưng ý “lớn” đã chứa trong chữ ĐẠI rồi. So sánh với những âm CÁ, CỔ, CỰ, KHẢ, KẺ thì thấy ý nghĩa âm CỒ là XỨ có lẽ hợp lý hơn.” Hoàng Xuân Hãn.1978. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. KHXH (Paris) 5-7 (1978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần- Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb Giáo dục. T3: Tr. 1092, chú 8.
([30]) Nguyễn Anh Huy. 2009a. “Đại Cồ Việt” hay “Cồ Việt”? http://www.tuoitre.com.vn ; Nguyễn Anh Huy. 2009b. Luận về quốc hiệu CỒ VIỆT. http://khoahoc.net
([31]) Điều này, Hoàng Xuân Hãn, La Trường Sơn và An Chi đã nhắc đến.
([32]) Nguyễn Anh Huy. 2009a. bdd.
([33]) Cụ thể các tiêu chí và sự hình thành chữ Nôm (nhất là sự xuất hiện của các chữ Nôm hình thanh) xin xem Nguyễn Quang Hồng. 2009. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
([34]) Lạc khoản: Tự Đức Giáp Tý. Thị giảng học sĩ Phượng Trì Vũ Phạm Khải Đông Dương bái thư. Phượng Trì Vũ Phạm Khải (1807-1872), ông tự là Đông Dương , người xã Thiên Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Vũ Phạm Khải thi đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831) đời vua Nguyễn Thánh Tổ. Ông giữ các chức quan, như: Lễ khoa cấp sự trung, Hàn lâm trực Học sĩ, Sử quán Toản tu, Thị lang, rồi thăng Bố chính Thái Nguyên, Thị độc Học sĩ. [Trịnh Khắc Mạnh. 2006. Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nxb.KHXH. Hà Nội. Tr.327] Như thế, Vũ Phạm Khải là người soạn và người viết chữ cho đôi câu đối này.
([35]) Lạc khoản: Bảo Đại Đinh Mão xuân niên. Trường Yên Trung xã lão Nguyễn Đại Đồng giai nam cựu Chánh hương hội Nguyễn Phú Cường cúng tiến. Nghĩa là: mùa xuân năm Đinh Mão niên hiệu Bảo Đại, lão Nguyễn Đại Đồng tại xã Trường Yên Trung cùng con trai Nguyễn Phú Cường vốn là Chánh hương hội cúng tiến.
([36]) Xin xem: http://www.trangnhahoaihuong.com/
([37]) Phạm Thị Nghĩa Vân. 2006. Di văn Hán Nôm tại Hoa Lư..Thông báo Hán Nôm học 2005. Nxb. KHXH. H. Tr.666.
([38]) Nguyễn Thị Lâm (Khảo cứu, phiên âm , chú giải) . 2001. Thiên Nam ngữ lục. Nxb Văn học & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. Hà Nội. Bản Nôm gốc天南語錄外紀ký hiệu AB.478 1/2 ( Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
([39]) Về sử liệu, có 4 tấm bia tại đền thờ Đinh Tiên Hoàng: 1. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức kí tịnh minh, khắc năm Hoằng Định thứ 9 (1608); 2. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức tăng tu điện miếu bi kí, khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696); 3. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức bi kí, khắc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843); 4. Trùng tu tạo tác, không rõ niên đại. Chúng tôi đã khảo sát, cả 4 bia này đều không có dòng nào ghi lại quốc hiệu Đại Cồ Việt.
([40]) Nguyễn Trãi. XV. Dư địa chí. Trong Ức trai di tập, khắc in 1868. Phúc Khê tàng bản. Trang nguyên bản 4a. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên. Tập 2. Phần Dư địa chí (Phan Duy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính chú thích. Nxb Văn học & TT Nghiên cứu quốc học. Hà Nội. 2001. Tr. 456. Bản dịch của Phan Duy Tiếp được in lần đầu năm 1967, do Viện Sử học xuất bản, sau Nxb Khoa học Xã hội tái bản năm 1976. Ngoài ra, Dư địa chí còn được Á Nam Trần Tuấn Khải dịch, in trong Văn hóa tùng thư của Tổng bộ Văn hóa Xã hội- Nxb Sài Gòn. Ấy là chưa kể đến 5 bản Hán văn của sách này hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm lần lượt mang tên Ức Trai di tập – Nam Việt dư địa chí A.2815; Đại Việt dư địa chí A.1900; Nam quốc Vũ cống A.830; An Nam Vũ cống A.2251; Lê triều cống pháp A.53. Thú vị là ở chỗ, đây đều là 5 bản chép tay. Chép tay là loại văn bản độc bản (handmade) của một cá nhân nào đó. 5 bản chép tay sẽ có giá trị khác với 5 bản in từ một ván khắc, đây là mặt mạnh nhất của các thể loại văn bản này mà ít người để ý tới. 5 bản in từ một ván khắc sẽ được đồng nhất bằng 1 bản. nhưng 5 bản chép tay sẽ được coi là 5 bản.
([41]) Đại Việt sử ký toàn thư (khắc in năm Chính Hòa thứ 18-1698). Ngô Đức Thọ (dịch và chú thích) Nxb KHXH, Hà Nội, 1998. Tr.211. Nguyên bản: ĐVSKTT. Q1. Kỷ nhà Đinh. Tiên hoàng đế. Tr.2b.
([42]) Nguyễn Thị Lâm (phiên chú). sdd.
([43]) Quốc sử quán triều Tây Sơn. 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Dương Thị The (tổ chức dịch chú). Nxb.KHXH. Hà Nội. 1997. Tr. 153. Nguyên bản in kèm: ĐVSKTB. Bản kỉ, Q1. Tr.2a-2b.
([44]) Quốc sử quán triều Tây Sơn.1800 (khắc in)。大越史記捷錄總序。Kí hiệu A.1180. Tr.7b. Đại Việt sử ký tiệp lục tổng tự là bài Tổng luận được viết bằng hai thứ văn tự: Chữ Hán và chữ Nôm. Phần chữ Hán là "nguyên văn"; phần chữ Nôm là "dịch chú" của tác giả, đúng như câu "dịch chú Quốc âm để tiện xem chung" đã ghi ở cuối bài Tổng tự. Bản khắc in do Quốc sử quán của triều Tây Sơn, Tổng tài là Ngô Thì Nhậm. [Xem thêm Hoàng Văn Lâu. 2001. “Đại Việt sử ký tiệp lục Tổng tự” – Một bài tổng luận lịch sử đáng chú ý của Quốc sử quán triều Tây Sơn. Tc Hán Nôm số 01/2001.]
([45]) Phan Thanh Giản (tổng tài). 1881. Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Chính biên-Quyển thứ I
[46] Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái . XIX. Đại Nam quốc sử diễn ca, Hoàng Xuân Hãn (phiên chú), trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (T2). Nxb Giáo Dục. Hà Nội. Tr.115.
([47]) Đặng Xuân Bảng (1828-1910). Việt sử cương mục tiết yếu. Hoàng Văn Lâu (dịch và chú giải). Nxb. KHXH. Hà Nội. 2000. Tr. 63. Nguyên bản Tr.40.
([48]) Nguyễn Văn Mại. XIX. Việt Nam phong sử. (chép tay). Tạ Quang Phát dịch. Nxb Lao động. Hà Nội. Tr.68.
([49]) Hồng Nhung và Hồng Thiết. Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca. (Nguyễn Văn Sâm & Nguyễn Hữu Vinh phiên chú). www.trangnhahoaihuong.com
([50]) Hoàng Cao Khải. 1914 (khắc in). Việt sử yếu越史要. Tr.44a; Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch. UB Dịch thuật. Sài Gòn. 1971. Tr.135.
([51]) Theo Nguyễn Anh Huy.2009a. bdd. www.khoahoc.net . Chúng tôi tạm chưa bàn đến vấn đề văn bản học của cuốn này.
([52]) Chu Minh Khôi. 2008. Thạch kinh cổ nhất Việt Nam. http://vietbao.vn/Van-hoa/Thach-kinh-co-nhat-Viet-Nam/65052168/181/ . Đáng tiếc bài viết không hiểu thuật ngữ “kinh tràng” của Phật giáo, nên viết theo Đặng Công Nga là “Những cột kinh Phật thời Đinh – Lê ở Ninh Bình là những thạch kinh cổ nhất Việt Nam . Chúng có giá trị vô cùng to lớn đối với nghiên cứu lịch sử nước nhà, giúp làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử quan trọng nửa cuối thế kỷ thứ X". Cái sai này bắt nguồn từ việc Gs Hà Văn Tấn dùng không thống nhất thuật ngữ, cùng 1 bài mà ông dùng cột kinh, cột đá, trụ đá, kinh tràng…, trong đó từ “cột kinh” được dùng chính thức trên nhan đề các bài nghiên cứu. Ông Đặng Công Nga không đọc kĩ bài của Hà Văn Tấn nên lại “thuật ngữ hóa” sang tiếng Hán thành “thạch kinh”. Hiện vật này thực tế không phải là “kinh” (sách) mà là TRÀNG (một loại pháp khí trì chú của Mật tông) trên có chép mấy lời kinh để tụng mà thôi. Cụ thể chúng tôi xin đề cập đến trong một dịp khác.
([53]) Hà Văn Tấn . 2002. Chữ trên đá, chữ trên đồng, minh văn và lịch sử. Nxb KHXH. Hà Nội. 212 Tr.
([54]) Kỳ Quảng Mưu祁廣謀。2000. "《大 瞿 越》 國名釋- 兼及吳真流《王郎歸》的語義分析”。《東南亞縱橫》。35-37 頁。
([55]) Kỳ Quảng Mưu.2000. bdd. Tr.37.
([56]) Nguyễn Khắc Kham. 1974. Chữ Nôm or the Former Vietnamese Script and Its Past Contributions to Vietnamese Literature, Area and Culture Studies 24, Tokyo University of Foreign Studies 1974. Ông viết: “Đến khi chữ Nôm được đặc biệt quan tâm [nghiên cứu], thì cách dùng quan phương của hai chữ Nôm Bố 布 và Cái 蓋 ở thế kỉ VIII cũng như chữ Cồ 瞿 ở thế kỉ X là những dấu hiệu chắc chắn chứng tỏ một số chữ Nôm đã được người Việt đề xuất muộn nhất là từ thế kỉ VIII đến thế kỉ X. Ngoài những chữ Nôm như Bố, Cái, Cồ, những chữ khác có thể đã được tạo ra trong cùng khoảng thời gian ấy bằng cách sử dụng mặt âm hoặc mặt nghĩa của chữ Hán.” [Nguyễn Tuấn Cường dịch. Tc Hán Nôm số 2, 2006. Gs NKK còn 2 bài viết nữa là “Ðại-Cồ Việt Revisited”, Vietnam Culture, Journal for the Advancement of the Arts and Humanities of Vietnam. New York, Vol.4, Number 4, Winter 1985, pp. 162-170; Đại Cồ-Việt Revisited (A revised Version )”, The Journal Insitute of Asian Studies, No. 10. March 1989, Sōka University, Tokyo, pp.17-47, Reprinted in Đại-Học. A Journal of Vietnamese Studies and Highter Learning, Mission Viejo, California, July 1991, pp. 125-153. Nhưng hiện nay chúng tôi chưa tìm được bài viết này của ông.
([57]) Nguyễn Khắc Kham. 1978. Word Corruption in Vietnamese under Chinese and French Rule. Lecture at the Center for Vietnamese Studies, Southern Illinois University, Carbondale, Illinois. September 25. [Dẫn theo Nguyễn Đình Hòa. 1990. Graphemic Borrowings from Chinese: the Case of Chữ Nôm- Vietnamese’s Demotic Script. The Bulletin of the Institute of History and Philology. Academia Sinica. Vol.LXI, Part II. Taipei, Taiwan,China. pg. 392].
([58]) Nguyễn Khắc Kham. 1978. Personal Communication. [Dẫn theo Nguyễn Đình Hòa. 1990. bdd. Tr. 392].
([59]) Theo Diễn đàn Viện Việt học, www.viethoc.org/forum . Hiện chúng tôi chưa tìm được chuyên luận này. Nhưng có lẽ đó là cuốn De Francis, John.1977. Colloialism and Language Policy in Vietnam. The Hague: Mouton. Hawail. 293 Tr.
([60]) Nguyễn Lang. 1979. Việt Nam Phật giáo sử luận. Nxb. Văn Học. Hà Nội.
([61]) Lâm Doãn林尹& Cao Minh高明 (chủ biên). 中文大辭典Trung văn đại từ điển. (Q.25/42). Trung Quốc văn hóa nghiên cứu sở ấn hành 中國文化研究所印行& Hoa Cương văn hóa thư cục 華岡文化書局. Tr. 10014-10015. Cũng xem thêm徐中舒主编:汉语大字典【1986 —1990年第一版】Tr.2520. Vương Lực (chủ biên). 2000. Cổ Hán ngữ tự điển. Trung Hoa thư cục. Tr.798-799.
([62]) “Lê Văn Siêu vào năm 1964 đã từng có một cách hiểu khác về quốc hiệu nhà Đinh nhưng ở phần chú giải, tác giả tỏ ra thiếu chính xác : Khang Hy tự điển không có chú âm nào là Cồ hay Cộ mà chỉ có CÙ, CỤ, CÂU, về nghĩa thì " Trừng thị" là trợn mắt trông thẳng chứ không phải là một chỗ trông thẳng” [theo www.viethoc.org/forum ]
([63]) Lê Văn Siêu. 2004 (tái bản). Việt Nam văn minh sử cương- Văn minh Đại Việt. Nxb Thanh Niên. Tr. 55. Ủng hộ thuyết này còn có Phạm Văn Bân trong bài Bất Túc Trưng Tập của Minh Di [theo www.viethoc.org/forum]
([64]) “Trong kinh Phật, khi thấy mấy chữ Cồ lão (ông Già Cồ) hoặc Cồ thị (họ Cồ) thì ta phải hiểu rằng đó là Đức Phật Thích Ca. Phải, CỒ LÀ HỌ CỦA ĐỨC THÍCH CA, mà hình thức đầy đủ là Cồ Đàm... CỒ VIỆT CHẲNG QUA LÀ NƯỚC VIỆT THEO ĐẠO PHẬT... chứ chẳng phải là “nước Việt to bự”... gì cả” [An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.]
([65]) Kim Cương Tử (chủ biên). 1992. Từ điển Phật học Hán Việt. Phân viện Nghiên cứu Phật học xuất bản. Hà Nội.
([66]) Trương Vĩnh Ký. 1875. Cours d' histoire annamite à l' usage des écoles de la Basse - Cochinchine. Saigon.
Trương Vĩnh Ký. 1876. Histoire Annamite. Saigon. Tr.67.
([67]) L'Abbé Adr. Launay. 1884. Histoire ancienne et moderne de l'Annam, Tong-king et Cochinchine . Paris
([68]) Alfred Schreiner. 1906. Abrégé de l'histoire d'Annam, Saigon. Tr.36.
([69]) Colonel E Diguet. 1908. Annam et Indo-Chine Francaise. Paris. Tr.12.
([70]) Nhân đây xin gửi lời cảm ơn đến bác Đinh Tuấn và Nguyễn Vinh Quang đã chia sẻ tư liệu của Trương Vĩnh Ký, L'Abbé Adr. Launay. Tiếc rằng quý vị không chua trang nguồn.
Pierre Rey. 1913. Bụt sử lược biên thiệt truyện- Thuật sự tích và lời huyền diệu của Bụt Gaudam( Cù Đàm Bụt). G. Ch Tran Chanh phụng dịch. Sai Gon. Tải bản pdf tại: http://www.trangnhahoaihuong.com
([71]) Gustave Dumoutier. 1894. "Etude historique et archéologique sur Hoa Lư. Première capitale de l' Annam indépendante". Paris. Tr. 18.
([72]) Phan Kế Bính. 1912. Nam hải dị nhân; 1922 tb lần 3 có bổ sung. Nam Hải dị nhân liệt truyện. Lê Văn Phúc hiệu chỉnh; 2004 tb. Nam Hải dị nhân. Nxb Thanh Niên. Hà Nội.
([73]) Trần Trọng Kim. 1919. Việt Nam sử lược. Bộ Giáo dục - Trung tâm Học liệu xuất bản. Tr.5.
([74]) Hội Khai trí Tiến đức. 1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung - Bac Tan - Van. Mặc Lâm xuất bản. Tr. 88. Hội gồm gồm các ông Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Thận và Nguyễn Khắc Kham.
([75]) Vệ Thạch Đào Duy Anh. 1932. Từ điển Hán Việt. (Hãn Mạn Tử - Giao Tiều hiệu đính) TIENG DAN. HUE. (tb 2001) Nxb KHXH. H. Tr.110.
([76]) Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng. 1960. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
([77]) Khuyết danh. XIII. Việt sử lược . Trần Quốc Vượng dịch. Nxb Văn Sử Ðịa. Hà Nội. 1960.
([78]) Trần Quốc Vượng. 2000. sdd.
([79]) Vũ Văn Kính. 2002. Đại tự điển chữ Nôm. Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh & TT Nghiên cứu Quốc học. Tr.182.
[80] “Hàng nghìn năm các ông đồ vẫn dạy truyền miệng theo kí ức dân gian. Chữ có nhiều âm, khác nghĩa thì dùng dấu phết vai, để nhắc đọc đúng âm, hiểu đúng nghĩa, thạo rồi thì không cần. Khi có chữ quốc ngữ, những nhà làm từ điển Hán Việt cũng dựa vào cái vốn kí ức dân gian này mà soạn từ điển là chính. Vậy không nên coi các từ điển Hán Việt hiện có là khuôn mẫu tuyệt đối. Tôi học Hán cổ được các cụ vốn là những người đã học chữ Hán theo lối cũ truyền dạy, trong đó vài cụ đã lều chõng, có cụ đỗ tú tài khoa cuối. Vậy cái vốn Hán cổ của tôi chủ yếu là kí ức dân gian. Khi vào đời mới dùng đến các từ điển Hán Việt (Cũng chỉ khi nào cần phiên âm Hán Việt chữ mà mình chưa biết, còn nghĩa tra các từ điển Hán cổ của Trung Quốc đủ hơn). Cái kí ức dân gian này hiểu rõ hơn là nó phản ánh sự hình thành cách đọc Hán Việt xa xưa, sau đó nó biến đổi theo quy luật của ngữ âm tiếng Việt và được dạy truyền miệng. Nói vậy để nói rằng cách đọc Hán Việt 瞿 bằng cù hay cồ, hay cả hai đều được cần có sự chứng minh chứ không thể đơn giản dựa vào các từ điển Hán Việt hay phiên thiết của người Trung Quốc cổ mà suy luận”. [Theo lời của kt www.viethoc.org/forum ]
([81]) Huệ Thiên. 2004. Tìm hiểu về hai từ “Bụt” và “Phật”. Trong “Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm”. Nxb Trẻ. Tr.195-200.
([82]) Ngoài ra Buddha còn được phiên âm sang tiếng Hán bằng rất nhiều cách như: Phật đà佛陀, Phù đồ 浮圖, Phật Đồ佛圖, Phù Đà浮陀, Phù Đầu浮頭, Bột Đà浡陀, Bộ Đa部多, Bộ Tha部他, Phục Đậu復豆, Bộ Đà部陀, Vật Tha物他, Bổ Đà補陀...
([83]) Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 1998. Từ điển Phật học Hán Việt. Nxb. KHXH. Tr.1256.
([84]) Giáo hội Phật giáo Việt Nam.1998. sdd. Tr.1256.
([85]) 2008. Phật quang đại từ điển (T2). Thích Quảng Độ dịch. Hội Văn hóa Giáo dục. Kinh Sơn, Đài Bắc xuất bản. Tr. 1584.
([86]) Văn Uyên Các. Tứ Khố toàn thư. Thượng Hải Nhân dân Xuất bản xã.
([87]) “Trong kinh Phật, khi thấy mấy chữ Cồ lão (ông Già Cồ) hoặc Cồ thị (họ Cồ) thì ta phải hiểu rằng đó là Đức Phật Thích Ca. Phải, CỒ LÀ HỌ CỦA ĐỨC THÍCH CA, mà hình thức đầy đủ là Cồ Đàm... CỒ VIỆT CHẲNG QUA LÀ NƯỚC VIỆT THEO ĐẠO PHẬT... chứ chẳng phải là “nước Việt to bự”... gì cả…”! [An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.]
([88]) Đào Duy Anh. 1975. Chữ Nôm - Nguồn gốc - Cấu Tạo - Diễn biến. Nxb. KHXH. H. Tr.171; Tr.192.
([89]) Trần Hữu Thung & Thái Kim Đỉnh. 1998. Từ điển tiếng Nghệ. Nxb Nghệ An. Tr. 47.
([90]) Nguyễn Quang Hồng (chủ biên). 2006. Tự điển chữ Nôm. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
([91]) Vương Lộc. 2001. Từ điển từ cổ. Nxb Đà Nẵng & TT Từ điển học.
([92]) G.Hue.1937. Tự điển Việt- Hoa- Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Chinois- Français), Librarie Khai Trí, 62 Lê- Lợi, Saigon.1971 (in scan theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa.1937); Tr.101.
([93]) G.Hue. 1937. sdd. Tr.4.
([94]) Hội Khai Trí Tiến Đức. 1931. Việt Nam tự điển. Mặc Lâm xbx. Hà Nội. Tr. 88.
([95]) Trương Đình Tín & Lê Quý Ngưu. 2007. Đại tự điển chữ Nôm. Nxb Thuận Hóa. (T1). Nhưng các tác giả lại coi CỒ trong ĐẠI CỒ VIỆT là “to” [Tr.251]. Nhân đây cũng nên cải chính lại, mà nhập vào làm một mục từ.
([96]) Hoàng Xuân Hãn.1978. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. KHXH (Paris) 5-7 (1978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần - Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb Giáo dục. T3. Tr.1121.
([97]) Lê Mạnh Thát. 2000. Trần Nhân Tông toàn tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
([98]) Việt Chương. 1995. Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam . Nxb Đồng Nai. [Chuyển dẫn theo Nguyễn Xuân Kính (chủ biên). 2002. Kho tàng tục ngữ ca dao người Việt. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội. (T1). Tr.1644.]
([99]) Lịch sử chuyển dịch kinh sách phật giáo cho phép nói, cho đến thời Đinh, Lê, cái tên Thích-ca không hoàn toàn mang tính ... "thống trị" như về sau. Kinh hệ Agama lúc đó vẫn chưa bị xem như "chỉ có giá trị tham khảo" so với kinh Đại thừa, và trong kinh hệ Agama này chỉ có mỗi cái tên Gotama (Cồ/Cù-đàm) là cái tên thông dụng của Phật. Trong kinh hệ này cũng có nói đến những chuyện như mang tên Gotama đặt cho những con đường, cây cầu mà Phật có đi qua. Thế thì không có gì lạ nếu có kẻ đặt quốc hiệu Cù/Cồ cho một nước Việt đón nhận giáo pháp của Gotama Phật Lịch sử. [www.viethoc.org/forum]
([100]) Cụ thể xin xem http://baike.baidu.com/view/1037335.htm
([101]) Cụ thể xin xem http://bdkw.66dt.com/user1/wlbdkw/archives/2007/20071211102637.html
([102]) Xem Nguyễn Quang Hồng (chủ biên). 1997.Di văn chùa Dâu (Cổ Châu lục- Cổ Châu hạnh- Cổ Châu nghi ). Nxb Khoa học Xã hội.Hà Nội.190 tr & 115 trang phụ lục nguyên bản ván in tk XVIII tại chùa Dâu.
([103]) ĐVSKTT. bdd.
([104]) Nay ở Điền Xá, Gia Viễn, Ninh Bình. ĐVSKTT. bdd.
([105]) ĐVSKTT. bdd.
([106]) Xin xem thêm Lê Mạnh Thát. 2002. Lịch sử Phật giáo Việt Nam (T.2). Nxb. TP HCM. Tr.412.
Nguyễn Tài Thư (chủ biên).1988. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb KHXH. H.
([107]) Nguyễn Danh Phiệt. 1990. Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb. KHXH. H. 222 Tr.
([108])Vũ Quỳnh. 1492. 嶺南摘怪Lĩnh nam trích quái . Truyện Đinh Bộ Lĩnh. Kí hiệu là A.1752. Xem bản dịch tại http://lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=138&Itemid=22 .
([109]) Theo www.viethoc.org/forum . Nhân đây cũng xin cảm ơn các quý vị trong diễn đàn đã có những gợi ý và chỉ dẫn tư liệu cho bạn đọc, những ý kiến của từng quý vị trong suốt 2 năm qua, chúng tôi tạm không nêu cụ thể vì quá nhiều, mong quý vị thông cảm.
([110]) An Chi. 2007. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục “Chuyện Đông chuyện Tây”, dẫn theo Nguyễn Anh Huy.2009b. bdd.
([111]) GS Hà Văn Tấn (chủ biên). 2002. Khảo cổ học VN , tập 3 - Khảo cổ học lịch sử Việt Nam . Nxb KHXH. Hn . Tr. 54, Tr.57. Các tác giả phát hiện 4 viên gạch có chữ "Đại việt quốc quân thành chuyên" đào được ở Hoa Lư. Các tác giả dựa vào vật liệu và phương pháp xây dựng đoán định rằng gạch này thuộc về thời Đinh - Lê. Ts Nguyễn Thị Hậu dựa trên các cứ liệu này đưa ra giả thuyết rằng, ĐẠI CỒ VIỆT thực chất chỉ là quốc hiệu ĐẠI VIỆT (vốn bị ngoa truyền) đã được chính thức hóa qua các bộ sử đời sau. Tuy nhiên, việc xác định niên đại các viên gạch này cần phải bàn lại. Liệu đó có phải là gạch của đời Lý qua một đợt xây lại nào đó mà sử sách không nhắc đến?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)