Hiển thị các bài đăng có nhãn chùa Dạm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chùa Dạm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Sách mới: Kiến trúc một cột thời Lý

KIẾN TRÚC MỘT CỘT THỜI LÝ
(suối nguồn 9, Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang. Nxb Hồng Đức. Tp Hồ Chí Minh. 2013. 305 trang, 96 hình minh họa)

Lời của BBT
Lời mở
Chương 1: Chùa Một Cột hay Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu
1. Tình hình nghiên cứu về kiến trúc, biểu tượng
2. Lịch sử và bản chất khái niệm “chùa Một Cột”
3. Giải mã kiến trúc một cột
4. Nguồn gốc và ý nghĩa biểu tượng của “Liên Hoa Đài”
Chương 2: Phục dựng Liên Hoa Đài trong mandala chùa Diên Hựu
1. Đề xuất thứ nhất: đài sen nghìn cánh là cấu trúc chịu lực
2. Đề xuất thứ hai: Thích Ca Liên Hoa Đài chỉ là một phần của mandala chùa Diên Hựu
3. Đề xuất thứ ba: một cầu, hai cầu hay là tám cầu?
4. Đề xuất thứ tư: tám tháp hay hai tháp?
5. Đề xuất thứ năm: Tứ thiên vương trong cấu trúc mandala
Chương 3: Mandala chùa Diên Hựu trong văn hóa Phật giáo
1. Giới thuyết về mandala và đồ hình mandala trong văn hóa Phật giáo
2. Đồ hình mandala trong lịch sử kiến trúc Việt Nam
Chương 4: Liên Hoa Đài - núi vũ trụ Tu Di trong văn hóa Phật giáo
1. Giới thuyết về núi Meru- Tu Di
2. Núi Meru- Tu Di trong văn hóa Đông Á
3. Núi Meru -Tu Di trong văn hóa Việt Nam
Chương 5: Phục dựng chùa Diên Hựu thời Lý từ hiện vật khảo cổ
1. Bản vẽ phục dựng Liên Hoa Đài trong tổng thể chùa Diên Hựu
2. Những đề xuất phục dựng từ hiện vật khảo cổ
2.1 Cột đá chùa Dạm- hay mô hình nguyên bản của Liên Hoa Đài thời Lý
2.2. Các cầu vồng bắc qua Linh Chiêu và Bích Trì
2.3. Phục dựng các tháp lưu ly
2.4. Phục dựng bạch tháp
2.5. Phục dựng tượng Phật Thích Ca Mâu Ni trong Liên Hoa Đài
2.6. Phục dựng tượng Tứ thiên vương
Phụ chương: Biểu tượng xi vẫn ở chùa Diên Hựu
Phụ lục 1: Một số tư liệu về kiến trúc một cột tại Trung Hoa
Phụ lục 2: Liên Hoa Đài xưa (ảnh)
Phụ lục 3: Hoa tạng thế giới (đồ họa cổ qua kinh sách)
Phụ lục 4: Chùa Một Cột ban đầu (Ngô Văn Doanh)
Phụ lục 5: Tiếp tục quan sát cột đá chùa Dạm (Nguyễn Hùng Vĩ)
Phụ lục 6: Chùa Một Cột (Nguyễn Bá Lăng)
Phụ lục 7: Một số góp ý, trao đổi
Phụ lục 8: Giới thiệu, dịch chú văn bia Sùng Thiện Diên Linh
Tài liệu tham khảo
Bảng tra


Bình đồ phục dựng.

Chú thích:
(1). Liên Hoa Đài (Tu Di sơn)
(2). Ao Linh Chiêu (ao trong)
(3). Các cầu vồng bắc qua ao Linh Chiêu
(4). Các sân diễn xướng múa Tứ thiên vương
(5). Hành lang (hồi lang, họa lang)
(6). Các cầu vồng bắc qua ao Bích Trì
(7). Ao Bích Trì (ao ngoài)
(8). Tám tháp lưu ly
(9). Nam phương
(10). Đông phương
(11). Bắc phương
(12). Tây phương
(13). Hành lang, giải vũ, trai phòng
(14). Bạch tháp
(15). Lầu chuông Quy Điền


LỜI MỞ




Khi xây dựng một công trình kiến trúc tôn giáo là người xưa cho xây dựng cả một thế giới tâm linh. Vì thế, kiến tạo một ngôi chùa đồng thời là xây dựng một Phật giới. Chùa Một Cột không phải là chùa, mà rốt cục vẫn được gọi là chùa. Dù gọi nó là chùa, là tháp (stupa) hay là đài thì tôi đều hiểu rằng, đó chỉ là một, là như như nhất nhất ở nội hàm bên trong. Đó là điều chúng tôi nhận thức được trong quá trình thực hiện cuốn sách này. Giống như núi lại là núi sau quá trình nhận thức - giải nhận thức và dỡ bỏ nhận thức.
Từ nhỏ, tôi đã nghe không biết đến bao nhiêu lần cái tên “chùa Một Cột”, cũng không biết bao nhiêu lần tôi gọi cái danh xưng ấy, và cũng đã nhiều lần viếng thăm chùa với tấm lòng hồ hởi, ngây thơ của con trẻ về một biểu tượng của văn hóa Việt. Có lẽ ở Việt Nam, không có một di tích nào, không một ngôi chùa nào được sách vở, tranh ảnh, các phương tiện thông tin truyền thông đề cập đến nhiều đến thế. Một công trình được dựng trên một chiếc cột, đó hẳn là một độc sáng về ý tưởng, là một thăng hoa trong nghệ thuật kiến trúc của cha ông. Hình ảnh ngôi chùa ấy xuất hiện trên khắp các trang báo, trong các sách hướng dẫn du lịch, trong các công trình nghiên cứu, rồi được họa sĩ cũng như bao lớp đồng ấu vẽ lại. Dù là nét vẽ ngây thơ hay những nét phóng bút chuyên nghiệp, phảng phất trong đó là một niềm tự hào dân tộc. Hẳn nhiên là thế! Rồi kiến trúc ấy được một số tự viện trong nước nhân rộng, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Có khi được dựng bằng mô hình dùng để trang trí, hay đúc đồng làm quà su - vơ - nia để biếu tặng nhau hay bán cho khách du lịch. Chùa Một Cột đã được coi như là biểu tượng của Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội, là biểu tượng của quê hương Việt Nam. Một biểu tượng đã quá rõ ràng vì sự bền vững lấp lánh của nó trong tâm khảm của biết bao thế hệ.
Cơ duyên đưa đẩy tôi đến với cổ học rồi dần dần bắt đầu có ý thức về việc phải nghiên cứu về truyền thống văn hóa nước mình. Xuất phát ban đầu là người nghiên cứu về tiếng Việt lịch sử và văn tự học (chữ Nôm, chữ Hán), tôi thường chỉ biết mày mò trên từng vảy chữ, với những công việc khắc khổ của việc giải độc văn bản, giải mã cấu trúc, thống kê tư liệu. Tôi dần hiểu ra rằng ngôn ngữ là một hệ biểu tượng, và tiếng Việt là hệ biểu tượng của văn hóa Việt. Hứng thú với biểu tượng, tôi dần tự mở rộng mình, từ việc nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, văn học cho đến văn hóa.
Với tư cách là một người làm nghiên cứu, tôi luôn đi theo những “đầu mối của sử liệu” giống như một người phá án đang lần theo những “sợi tóc chứng cứ” để từ đó đi đến những khám nghiệm về “tính chất ADN của lịch sử”. Để nghiên cứu về kiến trúc một cột đời Lý, tôi đọc trước tiên bia Sùng Thiện Diên Linh tại chùa Đọi (Hà Nam), viết năm 1121 do Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật- người đương thời chấp bút. Đọc sử liệu, với tôi, luôn phải là đọc bằng nguyên bản chữ Hán, bởi chỉ có tư duy nguyên ngữ/ cảm nhận nguyên ngữ mới có thể giúp ta được điều gì đó, còn các bản dịch chỉ là tham khảo. Với cách làm việc như vậy, tôi đã bước đầu đạt được những thức nhận đầu tiên mà cuốn sách này là sự cụ thể hóa những thức nhận ấy.
Chuyên luận Kiến trúc một cột thời Lý được phân làm năm chương như sau.
Chương một- “Chùa Một Cột hay Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu”
chương này thể hiện sự tái nhận thức về kiến trúc này trong quá trình đọc lại những nghiên cứu của những người đi trước. Có thể coi đó như là lược sử vấn đề nghiên cứu. Quý vị có thể đọc được ở đây lịch sử của tên gọi “chùa Một Cột”, cũng như các kiến giải của các nhà nghiên cứu trước nay về kiến trúc này. Đó là một “bông sen nghệ thuật khổng lồ” (Chu Quang Trứ), là một tháp Phật (Nguyễn Duy Hinh, Ngô Văn Doanh, Hà Văn Tấn), hay là một linga thể hiện tín ngưỡng phồn thực của người Việt (Nguyễn Đăng Thục, Trần Lâm Biền, Trần Ngọc Thêm),... Từ các cứ liệu văn bản học, chương này cho rằng, “chùa Một Cột” là tên gọi dân gian dành cho kiến trúc nhất trụ của “Liên Hoa Đài” được hình thành từ thế kỷ XVII. Và thực chất, Liên Hoa Đài chỉ là một đơn nguyên kiến trúc trong tổng thể mặt bằng của chùa Diên Hựu. Từ góc độ biểu tượng tôn giáo, Liên Hoa Đài là một công trình nhằm cụ thể hóa, vật chất hóa biểu tượng hoa sen bằng nghệ thuật kiến trúc.

Chương hai- “Phục dựng Liên Hoa Đài trong mandala chùa Diên Hựu”. Sử liệu đương thời về Liên Hoa Đài được sử dụng ở đây là văn bia Sùng Thiện Diên Linh (1121). Quá trình giải độc văn bản gốc (original text) được tiến hành song song với quá trình hiệu điểm, giải mã và hiệu đính của khoa văn bản học. Từ việc giải độc đó chúng tôi đưa ra một số đề xuất phục dựng như sau.
Thứ nhất, đài sen nghìn cánh là cấu trúc chịu lực (đài sen này hiện đã không còn dấu vết).
Thứ hai, Liên Hoa Đài chỉ là một phần của mandala chùa Diên Hựu vào thời Lý. Mandala này có bình đồ đa tầng, đồng tâm với hai vòng ao và Liên Hoa Đài ở trung tâm của nó.
Thứ ba, chúng tôi cho rằng, chùa Diên Hựu thời Lý không thể nào chỉ có một cầu như hiện nay, mà khả năng có nhiều cầu bắc qua hai ao. Giả thuyết tối thiểu là có hai chiếc cầu bắc ở mặt Nam. Giả thuyết trung bình là có 5 cầu (trong đó 4 cầu bắc ở bốn hướng của ao ngoài) và 1 cầu bắc qua ao trong, đây là giả thuyết nhóm Ngô Văn Doanh đã đưa ra. Một giả thuyết nữa, là có 6 cầu. Cũng như giả thuyết trung bình, nhưng có thêm một cầu nữa bắc ở mặt Bắc vào đến Liên Hoa Đài. Giả thuyết tối đa là có tám cầu, bắc qua Đông, Tây, Nam, Bắc của hai ao Bích Trì, và Linh Chiêu. Giả thuyết này dựa trên nguyên tắc đối xứng của các mandala thời cổ.
Thứ tư, về số lượng tháp. Từ việc phân tích sử liệu đề cập đến các kiểu tháp lưu ly và tháp bạch manh, chúng tôi đề xuất rằng đây là hai loại tháp khác nhau. Tháp bạch manh là loại tháp lớn, có khả năng nằm ngoài khuôn viên của mandala Diên Hựu. Còn các tháp lưu ly được đề cập đến trong văn bia Sùng Thiện Diên Linh là loại tháp sứ hoặc gốm, nhỏ hơn và nằm trong mandala. Cũng theo nguyên tắc đối xứng của mandala, chúng tôi cho rằng có tám tháp lưu ly được dựng ở bốn sân, ngay ở đầu các cầu của ao ngoài Bích Trì. Cũng xin lưu ý ở đây, bốn sân cũng là một điểm mới trong cách phục dựng này.
Ngoài ra, phần này cũng lưu ý thêm một đóng góp nữa là về hành lang ngăn cách giữa hai ao Bích Trì và Linh Chiêu. Đó có khả năng cao là một hành lang có mái (không như ngày nay), trên cột hoặc vách có vẽ các tích chuyện Phật giáo. Như giải thích của nhóm Ngô Văn Doanh, hành lang này dùng để chạy đàn khi mở pháp hội.
Thứ năm, từ sử liệu trong văn bia Sùng Thiện Diên Linh, chúng tôi đề xuất rằng sẽ có tôn tượng Tứ Thiên Vương trong cấu trúc mandala chùa Diên Hựu. Giả thuyết này được củng cố bởi các sử liệu có đề cập đến tục thờ Tứ Thiên Vương trong văn hóa Phật Giáo thời Lý, cũng như hình tượng - tôn tượng các vị thần này trong các ngôi chùa Việt ở các đời sau. Trong các dịp Phật đản, hay lễ nghi Phật giáo, sẽ có diễn xướng múa Tứ Thiên Vương tại bốn phía sân. Ngoài ra, còn có một số đề xuất nhỏ khác ở mục này. Nếu như đã có tôn tượng, hẳn tôn tượng đó được đặt trong các công trình kiến trúc có mái. Kiến trúc này có hai chức năng, vừa là đề thờ, vừa là cửa để đi vào. Nên rất có khả năng các kiến trúc ấy có hai tầng. Tầng trên đặt tượng, tầng dưới làm lối đi. Kết nối với bốn đơn nguyên kiến trúc này có khả năng là tường, hoặc là các hành lang, giải vũ trai phòng bao quanh đồ hình mandala.

Chương ba- “Mandala chùa Diên Hựu trong văn hóa Phật giáo”.
Vì mandala là một thuật ngữ của kiến trúc Phật giáo còn khá xa lạ với nhiều độc giả, nên ở phần này chúng tôi tập trung giới thiệu về khái niệm này cũng như những biểu hiện của nó trong văn hóa, đặc biệt là trong nghệ thuật kiến trúc Phật giáo của Việt Nam cũng như các nước Đông Á và Đông Nam Á. Với quan điểm, mỗi một ngôi chùa là một Phật giới, mỗi một Phật giới là một mandala vũ trụ, chương này sẽ chủ yếu đưa ra một cái nhìn tổng quát về sự thể hiện của ý niệm mandala trong nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Đại Việt thời Lý. Đó là tư duy thế giới quan- địa lý học và thế giới quan- kiến trúc học trong lịch sử văn hóa.

Chương bốn - “Liên Hoa Đài - núi vũ trụ Tu Di trong văn hóa Phật giáo”.
Từ việc phục dựng bình đồ mandala của chùa Diên Hựu thời Lý, chúng tôi đã có cơ sở để lý giải về biểu tượng của Liên Hoa Đài một cột thời Lý. Xuất phát từ thế giới quan Phật giáo được đề cập đến trong một số bộ sách như Phật Tổ thống kỷ, Pháp giới an lập đồ, Hoa tạng truyện, …, chúng tôi cho rằng Liên Hoa Đài là một công trình kiến trúc mô phỏng ngọn núi vũ trụ Tu Di. Núi Tu Di là ngọn núi mang hình hoa sen nằm ở trung tâm của mandala thế giới. Ngọn núi ấy là nơi đức Phật Thích Ca trú xứ, là trung tâm của một tiểu vũ trụ, là trung tâm của thế giới. Bao quanh núi Tu Di là tám vòng núi và tám vòng biển. Nhìn trên bình đồ, cả một tiểu vũ trụ (cửu sơn bát hải) là hình ảnh hoa sen nở ra hoa sen, hoa sen nở ra thế giới. So sánh với các kiến trúc mandala mô phỏng Phật giới như Angkor Wat, Borobudur, chùa Tang Da,… chúng ta thấy kiến trúc mandala với Liên Hoa Đài làm trung tâm là một sáng tạo độc đáo của con người Đại Việt xưa. Hình ảnh kiến trúc một cột mô phỏng đóa hoa sen, nằm ở trung tâm của mandala chùa Diên Hựu là một sự Việt hóa tài tình mà táo bạo trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc. Đó là một loại hình kiến trúc mang tính quốc tế, ở tầm quốc tế.

Chương năm- “Phục dựng chùa Diên Hựu thời Lý từ hiện vật khảo cổ”.

Chương này thực hiện được trên cơ sở nghiên cứu của các chương trước, nhằm tính đến các phương án phục dựng về mặt vật chất đối với chùa Diên Hựu thời Lý. Trong đó, các cứ liệu khảo cổ học được coi như là yếu tố then chốt trong quá trình phục dựng sau này. Trước tiên, chương này đưa ra bản vẽ phục dựng Liên Hoa Đài trong tổng thể mandala chùa Diên Hựu. Sau đó các hiện vật khảo cổ, và mỹ thuật cổ được cân nhắc để từ đó hướng đến việc giải mã biểu tượng và phục dựng.

Ngoài năm chương chính, chuyên luận còn có một phụ chương- “Biểu tượng xi vẫn ở chùa Diên Hựu”.

Xuất phát từ hình tượng xi vẫn trong bài thơ “Diên Hựu tự” của đức Trúc Lâm Tam Tổ Huyền Quang, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử, quá trình truyền nhập của biểu tượng này từ Ấn Độ đến Trung Hoa và Việt Nam. Quá trình đi tìm hình tượng xi vẫn không chỉ dừng lại ở nội hàm của biểu tượng này, mà chúng tôi còn tìm kiếm hình ảnh thực của nó qua các hiện vật khảo cổ. Như một cuộc lội ngược dòng quá khứ, các hiện vật xi vẫn từ Nguyễn, Lê, Trần cho đến Lý đã phần nào cho chúng ta thấy sự chuyển biến về phong cách tạo tác cũng như hơi thở của từng thời đại. Việc phát hiện ra hình tượng xi vẫn thời Lý – mà trước nay vẫn bị gọi là đầu rồng, có thể coi là đóng góp lớn nhất của phụ chương này cho việc phục dựng chùa Diên Hựu trong tương lai.
Bên cạnh các chương trên, chuyên luận còn cung cấp thêm tám phụ lục. Phụ lục một cung cấp một số sử liệu về kiến trúc một cột Trung Hoa. Sở dĩ, chúng tôi không đưa những dữ kiện này vào chính văn bởi lẽ ở Trung Quốc hiện không còn các di tích này, và chúng tôi hiện cũng chưa xác định được đây có phải là kiến trúc Phật giáo hay Đạo giáo? Nhưng đúng như Lê Quý Đôn đã trích dẫn trong cuốn Vân đài loại ngữ nổi tiếng, những sử liệu trên là khá quan trọng, cho ta cái nhìn khu vực về dạng kiến trúc này để từ đó tiếp tục tìm hiểu thêm trong tương lai.
Phụ lục hai cung cấp một số hình ảnh Liên Hoa Đài xưa và nay. Phụ lục ba cung cấp các bức đồ họa cổ trong kinh sách Phật giáo, nội dung của các bức đồ họa này là mô tả núi Tu Di trong mandala thế giới.
Phụ lục bốn là bài khảo cứu của nhóm Ngô Văn Doanh được in trên tạp chí Khảo cổ học vào cuối những năm 1970, nhưng đã có những sửa chữa, bổ sung mới. Đây có thể coi là bài viết có giá trị nhất về kiến trúc một cột tại chùa Diên Hựu trong thế kỷ XX. Tiếc rằng trong mấy chục năm qua, giả thuyết này ít được biết đến. Chính vì thế, chúng tôi đã xin phép tác giả được in lại bài viết này để cung cấp thêm tư liệu cho quý vị độc giả. Nhân đây xin gửi lời cảm ơn đến GS Ngô Văn Doanh.
Phụ lục năm là bài viết “Tiếp tục quan sát cột đá chùa Dạm” của nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ. Đây là bài cuối cùng của tác giả trong số năm bài ông viết về kiến trúc một cột đời Lý. Bài này trước nay mới chỉ được công bố trên mạng, nay chúng tôi cũng xin phép in lại ở đây.
Phụ lục sáu chúng tôi tuyển lại bài “Chùa Một Cột” của Nguyễn Nam Kinh tức kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng - người đã dựng lại Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu vào năm 1955 như ta thấy ngày nay. Bài này đã từng công bố ở hải ngoại, nay chúng tôi thấy BBT của báo Hương Sen đã đưa lên mạng, nên cũng mạn phép in lại bởi có nhiều thông tin quý giá. Vì tác giả đã mất và chúng tôi lại chưa có nhân duyên liên lạc được với gia đình ông cũng như BBT tờ Hương Sen, rất mong quý vị nếu đọc được những dòng này xin vui lòng liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ thư điện tử trantrongduonghn@gmail.com để chúng tôi gửi lời tri ân và thăm hỏi.
Phụ lục bảy là hai bài viết của các nhà báo Việt Quỳnh và Nguyên Khôi. Nguyên ủy vào tháng 5 năm 2012, chúng tôi đã có buổi thuyết trình “Kiến giải mới về kiến trúc một cột chùa Diên Hựu” do tạp chí Tia Sáng và Không gian sáng tạo Café Trung Nguyên tổ chức. Trong buổi thuyết trình này có nhiều nhà nghiên cứu như Lê Văn Cương, Nguyễn Hùng Vĩ, Trần Thị Kim Anh, Trần Hậu Yên Thế, Phạm Lê Huy, Nguyễn Phúc Anh, Nguyễn Bá Dũng… đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng. Một số đã được tiếp thu trong lần xuất bản này, còn một số ý kiến khác chúng tôi chưa thực hiện được vì ngoài khả năng, vì thế xin in lại bài tường thuật của Nguyên Khôi ở đây để quý vị có thể suy ngẫm thêm giúp chúng tôi. Bài của nhà báo Việt Quỳnh chủ yếu phỏng vấn các chuyên gia về mỹ thuật cổ và kiến trúc cổ như Phan Cẩm Thượng, Lê Thiết Cương, Lý Trực Dũng. Dù là tán thành hay không, chúng tôi cũng in lại nguyên văn để rộng đường thảo luận. Nhân đây xin chân thành cảm ơn các quý vị đã bớt chút thời gian để bổ khuyết và góp ý cho nghiên cứu này.
Phụ lục tám là phần giới thiệu, dịch chú văn bia Sùng Thiện Diên Linh. Đây là sử liệu gốc quan trọng nhất và là gợi ý khởi nguồn cho chuyên luận này, nên chúng tôi đã hiệu điểm, chú thích và dịch lại.
Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách cũng sẽ khó tránh khỏi sai sót, mong quý vị nếu có ý kiến xin liên lạc trực tiếp với chúng tôi.
Lời cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời tri ân đến BBT của tập san Suối Nguồn, Tạp chí Nghiên cứu Mỹ Thuật, Tạp chí Tia Sáng, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế), quỹ Nafosted cũng như một số bạn bè và các nhà khoa học đã góp ý để chuyên luận này được hoàn thành.
Chèm- Từ Liêm, rằm tháng giêng năm Quý Tỵ
Trần Trọng Dương

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

CỘT ĐÁ CHÙA DẠM CÓ PHẢI LÀ LINGA?


Bài đã đăng:http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=41&News=5844


Trần Trọng Dương





Cột đá chùa Dạm/ Giạm (tên chữ của chùa là Cảnh Long Đồng Khánh tự, Thần Quang tự, núi Đại Lãm, xã Nam Sơn, Quế Võ, Bắc Ninh) xây dựng vào thế kỷ XI trước nay vẫn được coi là một trong những hiện vật điêu khắc hoành tráng nhất trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam (cao trên 5 m, nặng 42 tấn). Nhiều người đã coi đây như là báu vật quốc gia, bởi đôi rồng tạc trên thân cột là một tuyệt phẩm của mỹ thuật thời Lý đến nay còn giữ được. Các nhà nghiên cứu cũng đã có những tranh luận khoa học sôi nổi trong nhiều chục năm qua để giải mã ý nghĩa biểu tượng của chiếc cột đá này. Nhiều giả thuyết đã đưa ra với những lý lẽ khác nhau. Song, quan niệm phổ biến nhất của giới nghiên cứu trong suốt thế kỷ XX cho đến nay vẫn là ý kiến coi đây là một chiếc linga (dương vật) mang tinh thần của tín ngưỡng phồn thực của người Việt trong sự giao thoa với văn hóa Champa-Ấn Độ. Bài viết này sẽ lược thuật lại các giả thuyết này, từ đó đưa ra các kiến giải mới về báu vật trên.

Hình 1: Toàn cảnh phế tích cột đá chùa Dạm, chụp tháng 6/2012.

1. Lược thuật chủ thuyết “linga”

Chủ kiến cho rằng cột đá chùa Dạm là một linga được đưa ra sớm nhất là vào năm 1977[1]. Kể từ đó đến nay, trong vòng hơn 30 năm, các nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam đã bày tỏ sự đồng tình và chứng minh cho giả thuyết này. Có thể kể đến tên tuổi hai nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ Chu Quang Trứ và Trần Lâm Biền với một số bài viết từ những năm 1980- 1990 trên các tạp chí chuyên ngành (in lại trong các chuyên luận của hai tác giả), sau đó giả thuyết này ảnh hưởng đến Phan Cẩm Thượng (1997)[2] và một số nhà sử học như Hà Văn Tấn (1996, 2010)[3], Tạ Chí Đại Trường (2006), … Đáng quan ngại hơn cả, quan niệm này đã đi vào giáo trình giảng dạy đại học qua công trình của tác giả Trần Ngọc Thêm (1992- nay).

Như trên đã viết, những người đứng đầu của chủ thuyết này là hai nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ và Trần Lâm Biền. Vì thế, chúng tôi chủ yếu trình bày lại giả thuyết của hai tác giả. Những người ủng hộ nhưng không đưa cứ liệu bổ sung sẽ không thuật lại ở đây.

Pgs Chu Quang Trứ, trong chuyên luận Sáng giá chùa xưa, đã viết: “cột biểu vươn cao giữa các khu đất tròn bè (TTD nhm) đã gợi hình cặp Linga- Yoni với triết lý âm- dương theo tín ngưỡng phồn thực, được hòa vào tư tưởng Phật giáo… Đằng sau cột biểu, cuối cấp nền này có một giếng nước dân địa phương kể vào ngày hội mồng tám tháng chín, bóng cột dài dần và xoay đến giờ thiêng sẽ chạm vào miệng giếng, truyền sinh lực vũ trụ cho cuộc sống vĩnh hằng mà mọi người luôn mong đợi”[4]. Trong một bài viết trước đó ông cũng viết: “mặc dù đã được Phật hóa như vậy, cột đá vẫn còn lưu ảnh các tư tưởng cổ truyền xưa: ở nhiều nơi vẫn nhận đó là hình lanh-ga và kèm theo đó là quan niệm vũ trụ: trời tròn đất vuông, của các cư dân nông nghiệp”[5].

Giả thuyết này đã nhanh chóng nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà khoa học, trong đó đáng kể nhất là Pgs Trần Lâm Biền. Ông cho rằng “hiện tượng Phật hóa linga”[6] với các kiểu “Bụt đực, Bụt cái” trong ngôi chùa của người Mường, cũng như các “linga hoàng gia tượng trưng cho uy quyền tuyệt đối của vua” tại Campuchia là những cứ liệu bổ sung quan trọng để “suy cho cùng, cột chùa Giạm là một hình ảnh của linga, một hiện vật cụ thể của sự trở về cội nguồn Đông Nam Á của dân tộc Việt, một minh chứng về ý thức giải Hoa dưới triều Lý (ở mặt tư tưởng). Cột chùa Giạm còn là một linga lớn nhất trên toàn cõi nước Việt Nam hiện nay”[7].



Hình 2: mukhalinga của Thái Lan. Nguồn: internet.

Năm 1996, Trần Ngọc Thêm trong giáo trình của mình đã nhận định “ở chùa Dạm (Hà Bắc) có một cột đá hình sinh thực khí nam có khắc nổi hình cặp rồng đời Lý”[8]. Năm 2006, tiếp thu Trần Ngọc Thêm, Tạ Chí Đại Trường cũng coi đây là một chiếc linga, hơn nữa chiếc linga này còn chạm nổi hình rồng (một biểu tượng cho nhà vua), cho nên ông đã đi đến kết luận rằng cột đá chùa Dạm là một thứ mukhalinga. Nếu như mukhalinga của các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ (như Champa, Phù Nam…) thường là chạm chân dung nhà vua và các anh hùng thì việc chạm khắc hình rồng- biểu tượng quân vương của Nho giáo- lên linga chùa Dạm là một biểu hiện cho sự giao thoa văn hóa Việt - Hán[9]. Ông cũng nhấn mạnh rằng, cái mukhalinga này phải quan trọng đến mức nào thì bà Thái hậu Ỷ Lan mới cho dựng ở chùa Đại Lãm và sau đó vua Lý Nhân Tông đến thăm chùa, mở đại yến và cho xây dựng các tháp Phật.



2. Cột đá chùa Dạm- phế tích và những số liệu

Một thao tác cơ bản của nghiên cứu khảo cổ học và mỹ thuật cổ đó là khảo tả hiện vật. Rất tiếc là những người đưa ra chủ thuyết linga lại chưa từng công bố chính thức một số liệu cụ thể nào. Họ mặc nhận cột đá đó là một hiện vật từ đó tiến hành giải mã ý nghĩa biểu tượng mà không nghĩ đến việc phục chế lại hình ảnh vốn có của nó. Phải đến những ý kiến trái chiều về “thuyết linga” của Ngô Văn Doanh[10] và Nguyễn Hùng Vỹ, các con số mới lần lượt được đưa ra, những phản biện và kết luận mới bắt đầu rõ ràng hơn.

Kết luận đầu tiên về khảo tả hiện vật: các tác giả cho rằng, cột đá chùa Dạm chỉ là một dạng phế tích còn sót lại của công trình kiến trúc thuộc loại một cột vào đời Lý. Ý kiến này trùng khớp với những nhận định của thế hệ Pháp học lão thành là Nguyễn Bá Lăng, Nguyễn Du Chi, Nguyễn Đỗ Cung,… Có hai lý do để xác định như vậy.

Điểm thứ nhất có thể khẳng định cột đá chùa Dạm là một phế tích, ấy là phần chân của cột đã bị tàn khuyết. Các nhà nghiên cứu theo thuyết “linga” dường như cũng không để ý đến phần chân đá này. Điểm được coi là cứ liệu duy nhất ấy là hình dáng “khu đất tròn bè” theo như miêu tả của Chu Quang Trứ.

Tuy nhiên, chúng tôi xin được khảo tả lại như sau. Phần chân đế còn lại của cột đá chùa Dạm là ba tầng đá xếp cao gần 1m, đường kính 4,5m. Các tầng đá này được tạo thành từ các khối đá lớn tạc hình sóng nước xen kẽ với đồ hình núi non. Đối chiếu với phần chân đá xếp tương tự của bia Lý đối xứng qua trục thần đạo của di tích, cho thấy chỗ nhiều nhất còn lại khoảng 6 tầng. Theo tính toán của Nguyễn Hùng Vỹ, cả hai chân nền này ban đầu sẽ có bảy tầng đá xếp[11]. Riêng phần chân ở cột đá chùa Dạm, bảy tầng sóng nước- núi non bằng đá sẽ xếp kín đến hết phần bạt vuông của thân cột (đây cũng là chi tiết bị nhiều người bỏ qua). Phần vuông của cột có tiết diện 1,55m x 1,65m, tạc thô tháp, điều này cho phép khẳng định phải có phần đá điêu khắc bọc bên ngoài. Theo ý kiến của chúng tôi, các tầng đá này có hai chức năng. Về mặt mỹ thuật, bảy tầng sóng nước- núi non sẽ “ăn ý” với đồ hình song long hiến châu ở trên. Về mặt kiến trúc, bảy tầng sóng nước này sẽ là kết cấu dùng để chèn kè không những chân cột mà còn cả thân cột nữa. Bảy tầng đá bao quanh một trụ đá ở giữa đó là một hằng số/ đặc trưng kiến trúc thời Lý giống như miêu tả của bia Đại Việt quốc Lí gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1121): Trong dựng một cột, ngoài đặt bảy tầng. Rồng uốn cong đỡ lấy tòa sen vàng, (中標一幹,外設七層。虯弓出而捧金蓮…).



Hình 3: Các lỗ ngàm (số 4, 5, 6) và rãnh dầm trên đỉnh, chụp tháng 6/2012.

Thứ hai, đỉnh cột tuy bị vỡ, nhưng bằng mắt thường, có thể thấy hệ thống các lỗ ngàm để đóng xích đông chịu lực cho một tòa sen và điện Phật trên đó giống như Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu. Theo bố trí 6 lỗ ngàm hình tam giác (cạnh đáy đều nằm trên một mặt phẳng song song với mặt đất), cột đá chùa Dạm được chia đều thành sáu cung bằng nhau tạo thành một dàn dầm chống cân đối. Các lỗ có sự nông sâu khác nhau là do tình trạng bào mòn, thậm trí sứt vỡ của cột phế tích. Chúng tôi tạm thời quy chuẩn đều (làm tròn theo các số liệu lớn nhất của Nguyễn Hùng Vỹ) để hình dung về các lỗ ngàm này (xem bảng dưới). Ngoài ra, đỉnh cột còn có: (a). 8 lỗ nhỏ hình chữ nhật có kích thước 5cm x 6cm x 8cm, sự phân bố không thật đều đặn, khiến tác giả đi đến giả thuyết rằng, đây là các lỗ ngàm được làm về sau trong quá trình tu bổ, người ta đã làm thêm để chống các phía bị nghiêng lệch, hoặc dùng để cắm cờ phướn (b). Lỗ ngàm con sơn hình chữ nhật, rộng 10cm, sâu 4cm. (c). Rãnh dầm ngang chịu lực, nằm chính giữa và chia đôi đỉnh cột, vuông góc với mặt đất, hướng Bắc Nam rộng 23cm, dài 7 cm, gờ bên 3 cm dùng để đặt đòn nóc. Có thể trình bày như bảng sau[12].




Chú thích: dấu asteris (*) là trỏ số liệu tàn khuyết do đo trên phế tích.

Từ những số liệu như trên, chúng tôi có thể đi đến một nhận định rằng cột đá chùa Dạm không phải là “hình sinh thực khí nam có chạm nổi hình rồng thời Lý”[13], bởi lẽ chưa từng có một cái linga nào ở Champa, Phù Nam,… mà lại được tạc ngàm với hệ thống lỗ ở phía trên cả. Trong khi người ta cố gắng đi tìm những chứng cứ Ấn Độ, Champa (hay chứng cứ có nguồn gốc Nam Á) để “giải Hoa” thì họ cũng đã vô tình “giải Việt” mà không hay biết.

Có thể nói, những nghiên cứu trên là rất có ý nghĩa cho khoa lịch sử mỹ thuật. Tuy nhiên, kiến trúc trên có những hàm nghĩa triết học và ý tưởng nghệ thuật ra sao thì còn là một vấn đề cần được thảo luận tiếp sau đây.

3. Giải mã biểu tượng cột Đá chùa Dạm

Sau những bài viết khảo tả công phu, tác giả Nguyễn Hùng Vỹ tiếp tục đề xuất cách lý giải biểu tượng của kiến trúc cột đá chùa Dạm. Năm 2011, ông cho rằng kiến trúc một cột chùa Dạm có khả năng là một “nhiên đăng đài” giống như Nhiên đăng tháp chùa Đồng Tử đời Đường và đài đèn Quảng Chiếu đời Lý. Theo dõi những nghiên cứu trên, Tạ Chí Đại Trường đã “phải rút lại ý kiến xác quyết về hình tượng một mukhalinga, như đã nói ở nhiều bài viết” và cho rằng đó là “nhận định quá đà, khó được chấp nhận” [14]. Cho đến nay, đây là ý kiến phản hồi duy nhất của những người theo thuyết linga. Năm 2012, Trần Thị Kim Anh đã nghi ngờ thuyết “nhiên đăng” của Nguyễn Hùng Vỹ mà cho rằng cột đá chùa Dạm là một kinh tràng Phật giáo[15]. Ngay sau đó, dựa trên kiến giải mới về kiến trúc một cột chùa Diên Hựu[16], Trần Thị Kim Anh, Nguyễn Hùng Vỹ và một số nhà nghiên cứu khác đã từ bỏ các giả thuyết cũ để thống nhất cho rằng, đây là một Liên Hoa Đài, tương tự như ở chùa Diên Hựu Hà Nội[1

7].


Hình 4: núi Tu Di và các tầng sóng, tầng núi (sách: Pháp giới an lập đồ).

Đến đây, những phương trình có thể được đặt ra. Cột đá chùa Dạm là một phế tích còn lại của Liên Hoa Đài chùa Dạm. Liên Hoa Đài chùa Dạm là đồng dạng về loại hình với Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu. Và như thế, chúng sẽ có cùng chung một ý nghĩa biểu tượng.

Theo chúng tôi, kiến trúc Liên Hoa Đài thời Lý, đặt trong bối cảnh văn hóa và thế giới quan của Phật giáo, là một kiểu kiến trúc mô phỏng núi Tu Di- ngọn núi trung tâm của vũ trụ[18]. Ngọn núi này cao tám vạn do tuần, đỉnh mở rộng ra tám vạn do tuần trông như một bông sen khổng lồ, đó là một bông sen vũ trụ. Trên đỉnh ngọn núi hoa sen đó là cung trời Đao Lỵ- nơi trú xứ của Phật Thích Ca. Bao quanh ngọn núi Tu Di là tám vòng núi và tám vòng biển (gọi gộp là cửu sơn bát hải). Đúng như Nguyễn Du Chi đã viết các chùa đời Lý thường có các tháp tượng trưng cho núi thiêng Tu Di, bao quanh là những công trình bố trí theo đồ án hình vuông tượng trưng cho bốn đại dương trong thế giới[19].



Hình 5: Núi Tu Di, Ung Hòa Cung (Trung Quốc). nguồn: internet.

Trở lại với việc khảo tả Liên Hoa Đài chùa Dạm, chúng ta có thể thấy rõ sự tương ứng giữa hình tượng kiến trúc- điêu khắc với thế giới quan Phật giáo qua kinh sách. Nền dưới cùng là các tầng đá xếp có tạc sóng nước, núi non- đó là biểu tượng của các tầng biển và các tầng núi bao quanh núi Tu Di. Trên lớp sóng là đôi rồng theo mô típ lưỡng long hiến châu, một biểu tượng cho sự quy y Phật pháp. Phía trên nữa là hệ thống các xích đông đỡ một tòa sen- tượng trưng cho đỉnh núi Tu Di. Trên tòa sen là một điện đỏ tía có đặt tôn tượng Thích Ca dát vàng như miêu tả trong văn bia chùa Đọi.

Đồ hình thiết kế của Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu cũng như Liên Hoa Đài chùa Dạm có thể tìm thấy qua hệ thống tranh khắc Phật giáo tại Việt Nam. Hình trên là bức đồ họa mang tên “Tô Di Lô Sơn Vương”, miêu tả núi Tu Di ở giữa, có các vòng núi non và biển cả bao quanh. Đây là bức đồ họa được dùng để minh họa trong sách Pháp giới an lập đồ- một cuốn sách kinh điển của Phật giáo dùng để miêu tả về sự cấu thành vũ trụ, đây là một trong những sách quan trọng hàng đầu về thế giới quan Phật giáo. Nhìn vào tác phẩm này, chúng ta thấy thủ pháp ở đây là kết hợp cả hai cách nhìn cao viễn và phi điểu trong hội họa truyền thống. Để tưởng tượng rõ hơn, chúng ta có thể thấy một mô hình thu nhỏ được làm bằng đồng, đó là mô hình núi Tu Di được đặt tại Ung Hòa Cung (Trung Quốc), tuy nhiên mô hình này làm vào đời Thanh, muộn hơn Liên Hoa Đài ở chùa Dạm rất nhiều.

Núi Tu Di bản thân nó đã mang hình một bông sen, nếu nhìn trên bình đồ của cửu sơn bát hải, chúng ta có thể thấy đó là một đồ hình hoa sen trong hoa sen. Hoa sen là thế giới, và thế giới nở ra trong hoa sen. Cho nên đồ hình núi Tu Di- hoa sen vũ trụ đó được nhà Phật định danh bằng khái niệm “Liên Hoa Tạng Thế giới”. Mỗi một thế giới là một đóa hoa sen. Ba nghìn đóa sen là ba nghìn thế giới. Cho nên, vua Trần Nhân Tông trong một lần du lãm đến chùa đã miêu tả:

Mười hai lâu đài khoe tranh vẽ,

Ba ngàn thế giới lọt mắt thơ

(十二樓臺開畫軸,

三千世界入詩眸)

Đằng sau “con mắt thơ” ước lệ đó hẳn cũng phải có gì đó là thật chứ?







[1] 1977. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập 1, Viện sử học, NXBKHXH. [chuyển dẫn Trần Lâm Biền. 2000. sdd. tr-62].

[2] Phan Cẩm Thượng. 1997. Điêu khắc cổ Việt Nam (Ancient Sculpture of Vietnam). Nxb Mỹ Thuật. Hà Nội. tr-71.

[3] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long. 2010 (in lần thứ 4). Chùa Việt Nam. (in lần thứ 4). Nxb Thế giới. Hà Nội. Tr.96.

[4] Chu Quang Trứ. 2000, tb2012. Sáng giá chùa xưa. Nxb Mỹ Thuật. Hà Nội., tr.160-161. Chu Quang Trứ. Để hiểu đầy đủ hơn về cột đá chùa Dạm. Tạp chí VHNT, số 11/1999.

[5] Chu Quang Trứ. tb2012. Trông về chùa Dạm (viết cùng Thanh Hương). Trong “Mỹ thuật Lý Trần- mỹ thuật Phật giáo”. Nxb Mỹ thuật. Hà Nội. tr. 386-387.

[6] Trần Lâm Biền. 2000. Một con đường tiếp cận lịch sử. nxb VHDT. Hà Nội. tr. 63.

[7] Trần Lâm Biền. 2000. sdd. tr.66.

[8] Trần Ngọc Thêm. 1996. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Tp Hồ Chí Minh. Tp Hồ Chí Minh. Tr.265- 495.

[9] Tạ Chí Đại Trường. 2006. Thần- người và đất Việt. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội. tr.104- 105.

[10] Ngô Văn Doanh. 1990. Hình tượng Quan Âm Nam Hải và cột đá chùa Dạm. Tc Khảo cổ học số 1-2, tr.95-98.

[11] Nguyễn Hùng Vỹ. 2011. Tiếp tục quan sát cột đá chùa Dạm. http://khoavanhoc-ussh.edu.vn

[12] Nguyễn Hùng Vĩ. 2001. Quan sát cột đá Chùa Một Cột ở núi Dạm. Trong “45 năm khoa Văn học 1956-2001”. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. 583-593.

[13] Trần Ngọc Thêm. 2011 (tb lần 8). Cơ sở văn hóa Việt Nam. Nxb Giáo dục. Hà Nội. tr.128.

[14] Tạ Chí Đại Trường. Về cây cột đá chùa Dạm. Tạp chí Xưa & Nay số 400, tháng 3/2012.

[15] Trần Thị Kim Anh. 2012. Cột đá chùa Dạm là một Phật tràng. http://xuandienhannom.blogspot.com

[16] Trần Trọng Dương. Chùa Một cột không phải là chùa! Tc Tia sáng, số tháng 04/2012. tr.50-52.

[17] Trần Thị Kim Anh. 2012. Trao đổi thêm về cột đá chùa Dạm. http://vanhoanghean.vn

Nguyên Khôi. 2012. Một đề xuất cách phục dựng chùa Diên Hựu. tiasang.com.vn

[18] Trần Trọng Dương. 2012. Biểu tượng núi vũ trụ Tu Di- Meru trong văn hóa Việt Nam và châu Á. Tc Nghiên cứu Mỹ thuật. 08/ 2012. tr.23-36.

[19] Nguyễn Du Chi. 2001. Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông. Nxb Mỹ Thuật- Viện Mỹ thuật. Hà Nội. tr. 22.