Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Từ nguyên của "chằm" và "trải"

Bài viết tham gia hội thảo kỷ niệm 1 năm ngày mất Gs Nguyễn Tài Cẩn





KHẢO VỀ CHẰM VÀ TRẢI TRONG TIẾNG VIỆT CỔ

QUA “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG



Nguyễn Hùng Vĩ và Trần Trọng Dương




Bắt đầu bằng việc ngồi đọc lại tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông. Trong tác phẩm này, ở Hội năm, câu 11 (câu 63 tính theo toàn bài) ghi:




GS Đào Duy Anh trong cuốn Chữ Nôm- nguồn gốc- cấu tạo- diễn biến phiên:

-Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc kim hoặc chỉ;

Cơm cùng áo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu xoa.

Trăn trở với cách phiên đó, GS Hoàng Xuân Hãn phiên lại:

-Áo miển (mliễn) chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể.

Và dường như chưa thật yên tâm với cách đọc của mình, trong phần Đại ý và lược chú, GS Hoàng Xuân Hãn viết: “Áo thì mặc chằm vá, rách xể cũng chẳng hề, quí hồ ấm (hai chữ Châm 針 và Trĩ 雉 chắc đều chép chữ nôm theo phép mượn âm; nhưng đọc thế nào thì không chắc. CN đọc kim chỉ. Theo âm thì đọc châm trễ là gần nhất, nhưng tứ không hợp. Tôi đọc chằm xể, hợp hơn, tuy rằng những âm ấy ngày nay có thể viết bằng chữ Nho khác. Cũng có thể âm xể xưa là xlể)...” [tr.1118].

Rõ ràng mặc dù chủ trương đọc là chằm- xể nhưng GS cũng không chắc là đã đọc đúng. Vả lại, về nghĩa, cụ hiểu chằm là “chằm vá”, động tác dùng dây, kim luồn để nối kết các tấm vật liệu lại với nhau; còn xể là “rách xể”, lưu tích còn trong từ chổi xể.

Những băn khoăn của các nhà cựu học khiến chúng tôi phải tiếp tục suy nghĩ. Sau quá trình nghiên cứu, khảo sát các ngữ liệu cổ, chúng mạnh dạn đề xuất cách đọc hai câu phú trên như sau:

-Áo miễn chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm (chầm) hoặc trải.

Dưới đây là những giải thích của chúng tôi qua sự khảo sát từ các từ điển cổ và các ngữ liệu cổ được ghi bằng chữ Nôm. Phương pháp làm việc của chúng tôi là: dựa trên cách đọc Hán Việt của thanh phù ghi âm trong chữ Nôm, từ đó đưa ra các khả năng đoán định về âm đọc; khả năng của âm đọc được củng cố trên các tư liệu từ điển cổ từ cuối thế kỷ XIX về trước. Khi chữ Nôm có dấu vết bị sửa đổi do dọn bản của các đời sau, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tái lập ngữ âm tiếng Việt đồng thời soi chiếu với các cứ liệu chữ Nôm cổ để tìm ra từ nguyên cũng như lịch sử phát triển, biến đổi ngữ âm- ngữ nghĩa của ngữ tố đang khảo sát.

1. Khảo về chữ CHẰM

GS Hoàng Xuân Hãn ghi ngờ cách phiên “hoặc kim hoặc chỉ” của Gs Đào hẳn có lý của ông. Theo phép đối trong một liên phú, câu dưới ghi “dầu bạc dầu xoa” (cấu trúc: dầu + vị ngữ tính từ; dầu + vị ngữ tính từ), thì câu trên có cấu trúc (hoặc + danh từ; hoặc + danh từ) là cần phải cân nhắc lại. Cách phiên của GS Hoàng “hoặc chằm hoặc xể” với “chằm” và “xể” đều là các tính từ hoặc động từ có chức năng làm vị ngữ, theo chúng tôi là khá hữu lý. Vấn đề cần thảo luận tiếp là cách phiên chuyển, hơn nữa là cách hiểu về ngữ tố tiếng Việt cổ đang xét. Bởi lẽ, như ta biết, Cư trần lạc đạo phú có thể coi là một trong vài ba ngữ liệu sớm nhất hiện nay còn giữ được thuộc về điểm mút đầu của giai đoạn tiếng Việt cổ (thế kỷ XIII-XVI).

Chữ Châm針, chúng tôi cũng đọc là chằm (hoặc chầm) nhưng hiểu nghĩa khác đi so với giáo sư Hoàng Xuân Hãn, chúng tôi hiểu chằm là quàng, choàng, ôm lấy...

Đọc như trên, câu phú được hiểu lọn ý hơn với nghĩa nhàn nhã với cuộc sống đạm bạc của một người tu hành hòa mình với bụi trần mà vẫn thung dung lạc đạo: Để đầm ấm cho qua mùa rét thì áo hoặc chăn cái gì cũng xong, hoặc là quàng (áo) hoặc là trải (chăn), tùy lúc, không câu nệ.

Chúng ta thấy một số từ điển từ thế kỉ XIX về trước ghi nhận chữ chằm với nghĩa là quàng, choàng, ôm lấy. Cụ thể như trình bày dưới đây.

1772 – 1773, từ điển Dictionarium Anamitico Latinum (Tự vị Annam Latinh) của Piere Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) còn ghi mục từ Chằm lấy với chữ扌針 và với nghĩa Ôm chặt [theo Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên tb. 1999, tr. 67].

1838, từ điển mang tên La Tinh như trên của Aj. L. Taberd (tên Hán Việt là Nam Việt dương hiệp tự vị) cũng có mục từ như trên, được viết bằng chữ Nôm扌針 [tr.54].

1884, Việt Pháp từ điển của Trương Vĩnh Kí có mục từ Chằm và chú tiếng Pháp là Tenir fortement.

1895, Đại Nam quấc âm tự vị của Huình – Tịnh Paulus Của cũng cho ta ngữ liệu “Chằm lấy. Giữ lấy, chụp lấy. Thấy mặt thì chằm lấy mà mắng” [tr.118]. Chữ Chằm được viết ở dạng 扌針.

Như vậy, trong quá khứ, chữ Chằm với nghĩa “ôm chặt, ôm quàng lấy” đang là một động từ hoạt động độc lập. Nghĩa của nó là rất gần gũi với các chữ quàng, choàng. Ngày nay với tư cách là một động từ như vậy, nó hầu như đã rụng khỏi ngữ dụng phổ thông, chỉ còn lại trong các kết cấu ôm chằm / ôm chầm, chằm vặp / chầm vập, ôm chằm chặp. Ta có thể giải nghĩa được từ chầm trong ôm chầm, vốn là một kết cấu đẳng lập hai động từ gần nghĩa với nhau: Ôm và Chầm. Nhưng chầm dần dần mờ nghĩa nên được hiểu như là một trạng thái bổ trợ cho Ôm và được hiểu như từ ghép chính phụ. Trong tiếng Tày ta có tiếng Chổm là quàng, ví dụ: chổm pạ slửa khửn bá mưà (choàng áo lên vai) [Hoàng Văn Ma 1984: tr.377]. tiếng Dăm có nghĩa là ôm, ví dụ: dăm chăp ăn thù nâng (ôm một mối thù) [Hoàng Văn Ma 1984: 356]. Có thể thấy chằm là một từ cổ thuộc vốn từ vựng của tiếng Việt cổ (tk XIII-XVI). Chữ này sẽ thuộc loại từ cổ thứ ba theo cách phân loại của Vương Lộc [2001, lời nói đầu tr.I]. Những từ cùng nhóm này như: han trong hỏi han, chường trong chán chường, tác trong tuổi tác, tói trong đòi tói (dây xích) và lòi tói (dây dợ),… Từ chằm không còn hoạt động một cách độc lập trong tiếng Việt Trung đại (XVII-XIX) và tiếng Việt hiện đại nữa.

Nếu nghiên cứu của chúng tôi có thể chấp nhận được, thì sẽ đem đến cho kho tàng từ cổ tiếng Việt thêm một đơn vị thú vị nữa, giải tỏa những dùng dằng mà GS Đào Duy Anh và GS Hoàng Xuân Hãn đã đề cập tới. Không những thế, có thể bổ sung cho các từ điển từ cổ và từ điển chữ Nôm một mục từ mới chưa từng xuất hiện trong bất cứ một công trình nào trước đây.



2. Khảo về chữ TRẢI

Chữ Trĩ雉đọc là trải theo kiểu mượn âm là hoàn toàn có thể xảy ra trên lý thuyết và thực tế. Mối quan hệ giữa i- ai là một mốt quan hệ đã từng được biết đến, ví dụ qua đối ứng giữa âm Hán Việt đời Đường và âm Hán Việt phi Đường: 疑nghi- ngại, 義nghĩ- ngãi,眉 mi- mày, 胝 tri- chai/ trai (cái chai tay),脂 chi- chài (mỡ chài), ,厘 li- lai (một li một lai), 理 lí- lái (lí tài- lái buôn),… Với một âm đọc phiên chuyển sang tiếng Việt hiện nay thì khả năng đọc trải là có thể chấp nhận được. Trải với tư cách động từ, có nghĩa là “trải ra, giãi ra”. Sự tương ứng của mô hình âm trong chữ Nôm, dùng thanh phù Hán có thủy âm TR- để ghi chính xác thủy âm TR- khiến chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là một chữ Nôm do đời sau lọt vào trong quá trình dọn bản từ thiền sư Chân Nguyên (tk XVII), rồi được bảo lưu trong bản của sư Thanh Hanh (1932). Điều này chứng tỏ việc dọn bản cho chữ Nôm ở đây được thực hiện sau khi quá trình chuyển đổi của các thủy âm kép đã hoàn thành, tức quãng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Chính thiền sư Chân Nguyên cũng đã viết trong cuốn Yên Tử sơn Trần Triều Thiền tông bản hạnh rằng:

“Dược Am gió mát bóng cây

Dọn Thiền tông lại để nay san truyền”[1]

Sở dĩ chúng tôi đi đến nhận định trên đây, bởi những kết quả của ngành ngữ âm học lịch sử đã soi sáng thêm rất nhiều cho giả thuyết này. Từ điển Việt Bồ La đã có phương án ghi khá chính xác cho ngữ tố đang xét. Từ điển này ghi như sau: “blải: trải, giải nghĩa. Léy áo blải lót đàng: lấy áo trải trên đường đi” [tb1994: 39]. Đến đây ta có thể tạm thời đi đến nhận định rằng, blải thế kỷ XVII sẽ cho âm giải ở Miền Bắc và trải ở Miền Trung. Hơn nữa có thể khẳng định lại lần nữa rằng trĩ không phải là chữ Nôm đời Trần mà là chữ Nôm đời Lê Trung Hưng trong quá trình dọn bản, dùng để nghi ngữ tố trải từ thế kỷ XVIII trở lại đây.

Để hiểu thêm về từ này, chúng tôi tiến hành khảo sát các ngữ cảnh có từ thế kỷ XVII trở về trước qua một số tư liệu chữ Nôm. Sách Truyền kỷ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú ghi: Ngủ thì áng cỏ trải làm nệm chiếu, khát thì nước suối dâng làm rượu ngọt (Q.III 67b), bèn khiến trải chiếu bên Đông bên Tây, sánh ngồi luận sự văn (Q.IV 40b), chữ trải đều được ghi bằng . Có thể thấy, chữ Nôm trong Truyền kỳ mạn lục là một chữ Nôm hình thanh, nhưng vẫn có thanh phù lại 吏dùng để ghi phần âm lỏng và khuôn vần của ngữ tố đang xét. Dù cách ghi có khiếm khuyết, nhưng dựa vào cứ liệu của Từ điển Việt Bồ La, ta vẫn có thể tái lập là *blai3. Như thế mô hình âm của chữ Nôm sẽ là L-(BL-), dùng L- để ghi BL-. Theo các kết quả nghiên cứu của Vương Lộc qua An Nam dịch ngữ, từ thế kỷ XV-XVI về trước, ngữ tố này có thể có hai biến thể ngữ âm là *blai3và *tlai3. Quá trình diễn biến ngữ âm, theo chúng tôi có thể trình bày như sau:

*blai3> hòa đúc> trải (Trung)

*blai3> hòa đúc> giải (Bắc)

*blai3> rụng âm [b] > rải/ rãi.

*tlai3> rụng âm lỏng> tãi/ toãi.

Thế kỷ XII, ngữ tố đang xét xuất hiện trong câu sau: mẹ nằm ngày sinh con, năm tạng đều - ra (13a3), dịch từ câu Hán văn 慈母生居日,五臟揔開張. Từ điển Chữ Nôm của Viện NC Hán Nôm cho tự dạng Nôm là (tr.1142). Hoàng Thị Ngọ cho rằng chữ Nôm đang xét là阿 賴 [tr.58] và nhận định đây là một tổ hợp phụ âm có âm tiền tắc thanh hầu hóa. Chúng tôi theo ý kiến này và tái lập là *?laj3. Tuy nhiên, chúng tôi xin đính chính lại một điểm, tự dạng Nôm chính xác là , vi tính hóa là 阿懶 a lãn. Chữ (cự巨 + lãn懶) thì chữ cự là chữ viết bằng bút lông (chứ không phải nét khắcvốn có của bản khắc), nét chữ mềm, yếu và lạc hẳn phong cách so với toàn bộ văn bản, có lẽ do người đời sau thêm vào. Từ điển chữ Nôm của Viện NC Hán Nôm thì coi 阿 là một thành tố chưa thể lý giải, bởi nó nằm ở vị trí cuối cùng của dòng trước, cho nên mặc nhận chữ (nằm ở đầu dòng) là đúng.

Tuy nhiên, dấu cự lại là một chứng tích khá xưa do người đời sau thêm vào. Nó phản ảnh một tự dạng cổ trước thế kỷ XVII. Có thể thấy tự dạng này trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi dùng để ghi ngữ tố trái. (cự巨 + lãn懶), âm tái lập: *klai5 xuất hiện trong các câu muốn ăn *blai5 dưỡng nên cây, ai học thì hay mựa lệ chầy (Bảo kính cảnh giới 137.1), (ThuËt høng 64.4)[2]. Như thế, ta có thể có chữ Nôm cổ có trước và xuất hiện sau阿懶. Quá trình diễn biến chữ Nôm có thể như sau:

阿懶 (XII (XV)> 惐(XVII)>雉(XVIII).

Các biến thể ngữ âm đã tái lập từ thế kỷ XVII về trước có thể là, *?laj3, *klai3, *tlai3, *plai3 hoặc *blai3. Các biến thể ngữ âm hậu kỳ là: trải, giải, giãi, rải, rãi, tãi, toãi.

Ít nhiều, ta có thể thấy rằng, cổ hơn雉. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm là chữ惐 là một tự dạng phổ dụng hơn nhiều so với 雉, có thể thấy chữ này xuất hiện trong hàng loạt các tác phẩm Nôm thế kỷ XVIII-XIX và đầu thế kỷ XX nữa, như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, thơ Nôm Nguyễn Khuyến,…. Lúc ấy, chỉ tồn tại như là một lưu tích của chữ Nôm cổ, chứ không mang giá trị ghi âm như trước nữa.

Về nghĩa, thì các ngữ cảnh đã xét ở trên cho ta nghĩa cơ bản của ngữ tố trải, trỏ một vật được rãi ra, tãi ra trên một mặt phẳng, trên một không gian. Như quy luật chung của ngôn ngữ, nghĩa liên quan đến không gian sẽ được chuyển sang nghĩa liên quan đến thời gian. Đến đây, chúng tôi cho rằng, trải trong các từ và các ngữ trải qua, từng trải, trải làm, trải giữ, trải đời, bươn trải,… là nghĩa dẫn thân của chữ giải/ trải/ rải/ tãi đang xét. Khảo các ngữ liệu cổ, chúng tôi bắt gặp khá nhiều ngữ cảnh có nghĩa này. Cụ thể như sau: NhËt nguyÖt soi ®ßi chèn hiÖn, §«ng hÌ tr¶i ®· x­a hay (Quốc âm thi tập, TrÇn t×nh 45.6), được ghi bằng (thanh phù: lại), âm tái lập: *tlai3 > trải/ giải (-qua, kinh lịch qua). AR ghi một từ đồng âm gần nghĩa là blải (trải, giải nghĩa) [1994: 39]. Gaston Nhẫn tái lập âm *plải [1967: 50]. Chữ trải trong QATT của Nguyễn Trãi mang nghĩa “trôi qua” thuộc loại động từ bất cập vật. Bạch Vân Am thi tập thế kỷ XVI của Nguyễn Bỉnh Khiêm ghi trong câu trải gian nguy đã mấy phen (tr.3b), chữ trải mang nghĩa “từng kinh qua”, lưu tích còn trong từ nếm trải, từng trải. Hai nghĩa trên còn thấy xuất hiện trong một số ngữ cảnh sau. Truyền kỳ mạn lục thế kỷ XVI-XVII có câu trải xuân thu hai khoa thi (QI 52b), ở quan trải một tháng (QIII 4b), Trải khổ từng nghèo (QVI 36b). Truyện Kiều có câu trải bao thỏ lặn ác tà (26). Lục Vân Tiên có câu trải bao dấu thỏ đường dê (15). Nguyễn Khuyến có câu ăn chơi đã trải chết chôn chưa hề (14a). Thiên Nam ngữ lục thế kỷ XVII ghi trải xem lịch đại đế vương (tr.130a), ở ngữ cảnh này trải mang nghĩa là “khắp”, là một trạng từ bổ nghĩa cho động từ vị ngữ. Sô Nghiêu đối thoại thế kỷ XVIII ghi ngắm chơi đã trải miền thôn dã (5a), chữ trải ở đây là một động từ nghĩa là “đi hết, đi khắp”.

Với âm giãi, ta có một số nghĩa sau. Nghĩa thứ nhất là trỏ (ánh sáng) rải ra trên một bề mặt. Ví dụ QATT của Nguyễn Trãi có những câu như: Quỹ Đông giãi nguyệt in câu (Ngôn chí 14.4), cửa song giãi xâm hơi nắng (Ngôn chí 21.3), Hang thỏ chìm tăm hải nhược, Nhà giao giãi bóng thiềm cung (Thủy thiên nhất sắc 213.4). Nghĩa dẫn thân là “phơi ra” trong câu mới hay thế khốn anh hùng giãi thây (Thiên Nam ngữ lục,104a). Nghĩa bóng dẫn thân cuối cùng là “phơi bày tâm can” như giãi thực niềm đan trẫm được hay (Hồng Đức quốc âm thi tập 66b), rỉ tai nàng mới giãi bày thấp cao (Kiều 19a), lưu tích còn trong từ giãi bày, giãi lời. Chữ giãi trong các ngữ cảnh trên đều được ghi bằng chữ Nôm có thanh phù 豸trĩ /trãi. Điều này càng củng cố cho cách đọc trải cho ngữ liệu Nôm trong Cư trần lạc đạo đã bàn ở trên.

Tóm lại, qua khảo sát các cứ liệu chữ Nôm và ngữ liệu tiếng Việt cổ từ thế kỷ XIX trở về trước, chúng tôi đề xuất cách đọc chằm và trải cho câu phú của vua Trần Nhân Tông: Áo miễn chăn, đầm ấm qua mùa, hoặc chằm (chầm) hoặc trải. Đây là cách phiên chuyển từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, từ tiếng Việt cổ sang tiếng Việt hiện đại. Còn nếu thật sự chặt chẽ, phải tiến hành phiên sang tiếng Việt cổ- với một hệ thống các ký hiệu chữ Quốc ngữ riêng biệt- đặc thù, nhất là với những ngữ tố có tổ hợp phụ âm đầu như mliễn hay klải. Tuy nhiên, vấn đề nêu ra là khá phức tạp, cần phải thảo luận chi tiết trong một dịp khác.



Hà Nội 10-13/12/2011







Tư liệu tham khảo:

A. de. Rhodes 1651. Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico. - Romae : typis & sumptibus eiusdem Sacr. Congreg. p. 633., tb.1994. Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb. Khoa học Xã hội.
Cư trần lạc đạo. Thanh Hanh trùng san 1932. Bản in ván chùa Vĩnh Nghiêm do tác giả thực hiện năm 1999.
Đào Duy Anh – Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến. Nxb KHXH. Hà Nội.
Gaston Nhẫn. 1967. Etude du consonantisme du Quốc âm thi tập (Nghiên cứu hệ thống phụ âm đầu của Quốc âm thi tập, Luận án Tiến sĩ đệ tam cấp, 203 trang, hiện lưu tại Thư viện I. N. A. C. O. - Pháp).
Hoàng Thị Ngọ (khảo cứu, phiên âm, chú giải). 2009. Thiền tông bản hạnh. Nxb Văn học. Tp Hồ Chí Minh.
Hoàng Xuân Hãn. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần Lê… Trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập 3. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo. 1984. Từ điển Việt- Tày- Nùng. Nxb KHXH. Hà Nội.
Huình Tịnh Paulus Của, (1895-1896), “大 南 國 音 字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896).
Khuyết danh. XII. Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Bản Trịnh Quán in <1730. Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1772 (Tự vị An nam La tinh) bản chép tay, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb.Trẻ. (tb.1999). L.J. Taberd, 1838, Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore. Thiều Chửu. 1997. Hán Việt tự điển. Nxb Tp Hồ Chí Minh. Trương Vĩnh Ký, P.J.-B., 1884, Petit dictionnaire français-Annamite, Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Định. Vương Lộc. 2001. Từ điển từ cổ. Nxb. Đà Nẵng. Vệ Thạch Đào Duy Anh. 1932. Từ điển Hán Việt. (Hãn Mạn Tử - Giao Tiều hiệu đính) TIENG DAN. HUE. (tb 2001) Nxb KHXH. Hà Nội. -------------------------------------------------------------------------------- [1] Quá trình truyền bản và “dọn bản”, Hoàng Thị Ngọ đã viết như sau: “Lúc đầu Thiền tông bản hạnh vốn chỉ có bốn bài, trong bốn bài này thì bài đầu do thiền sư Chân Nguyên sáng tác còn ba bài phú tiếp theo là do thiền sư sưu tập những trước tác của các vị sư tổ thứ nhất và thứ ba thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để làm thành một cuốn sách. Cuốn sách đầu tiên này phải được hoàn thành khi thiền sư Chân Nguyên còn sống, tức là vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Như vậy, rất nhiều khả năng chính thiền sư Chân Nguyên là người đầu tiên đã biên soạn lại hay nói như người xưa là "dọn" lại văn bản Nôm thời Trần và cho khắc in cùng với bài kể hạnh của mình lấy nhan đề sách là Thiền tông bản hạnh để lưu truyền lại. Sở dĩ nói là "dọn" lại hay biên soạn lại văn bản chữ Nôm thời Trần vì cả 2 văn bản hiện còn đều không phải là chữ Nôm thời Trần mà chỉ còn lưu lại dấu vết của văn Nôm và chữ Nôm thời Trần mà thôi. Bản in càng sớm thì dấu vết chữ Nôm thời Trần còn càng nhiều và ngược lại, bởi vậy mà chữ Nôm trong 2 bản khắc in đều mang những đặc điểm của chữ Nôm ở thời điểm khắc in văn bản.” [tr.26-27]. [2] Ngoài ra, QATT còn dùng tự dạng khác, để ghi một biến thể ngữ âm khác. (ba巴+ l¹i賴), âm tái lập: *blai5. . Như vậy ta có hai biến thể ngữ âm cùng tồn tại trong một văn bản là: *blai5/ *klai5> trái (cây trái). An Nam dịch ngữ ghi: 菓園:文拜quả viên: vườn trái, âm tái lập là *blai5. Từ điển Việt Bồ La tuy không có mục từ trái trỏ hoa quả, nhưng có ghi nhận từ đồng âm trái (với nghĩa phía trái, mặt trái), như: tlái áo, tay tlái, tlái mlẽ, nói tlái, tlái mặt thuốc, lúa tlái. [A. de Rhodes 1651, tb 1994: 230]. Xuất hiện tại các vị trí: co que thay bấy ruột ốc, khúc khuỷu làm chi *blai5 hòe (Trần tình 44.4).

Từ nguyên của "thiết tha", "thướt tha"?



‘THIẾT THA’ hay ‘THƯỚT THA’?

Trần Trọng Dương
đã đăng: “Thiết tha” hay “thướt tha”? Thông báo Hán Nôm học. 2007. Nxb KHXH. Hà Nội.


Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu đang tiến hành đi tìm nguyên tác Truyện Kiều để “tiến tới những bản phiên âm thể hiện được nguyên dạng của tác phẩm về âm đọc, ngữ nghĩa và ý đồ sáng tác của tác giả, từ đó mà chú giải, khảo luận hướng dẫn người đọc hiểu đúng các bản phiên âm hiện hành.” [Nguyễn Tài Cẩn 2004:375]. Có hai xu hướng đi tìm nguyên tác Truyện Kiều chủ yếu sau: 1.Xu hướng khai thác/ phục nguyên từ ngữ cổ tiếng Việt; 2.Xu hướng so sánh các bản Kiều Nôm cổ, thống kê các chữ cùng xuất hiện trong nhiều văn bản Nôm cổ. Đại diện cho xu hướng thứ hai là cuốn Tư liệu Truyện Kiều-từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn do nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học ấn hành năm 2004. Theo xu hướng thứ nhất là một số bài viết của các học giả trong và ngoài nước như Nguyễn Tài Cẩn, An Chi, Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Tuấn Cường…

Gần đây, chúng tôi cũng đã công bố hai bài viết về vấn đề từ cổ trong Truyện Kiều qua trường hợp chữ THƠ RƠ. Hai bài viết trên đều dùng phương pháp tìm các khả năng biến âm của thanh phù để tìm ra âm đọc của chữ thông qua tra cứu từ vựng ở các bộ từ điển cổ. Phương pháp này có ưu thế ở chỗ: nó có thể giúp người đọc khảo sát hầu như toàn bộ các khả năng đọc có thể xảy ra (trên lý thuyết), và kiểm chứng các khả năng ấy thông qua sự ghi nhận của từ điển. Ví như trường hợp của chữ THƠ RƠ, từ trước đến nay từ này vẫn được phiên là Lơ thơ hay Tha la. Từ việc khảo sát các tự dạng Nôm, chúng tôi đưa ra 1456 khả năng đọc của mã chữ và kiểm tra các khả năng ấy qua tra cứu các từ điển cổ. Kết quả là chúng tôi chứng minh được rằng Tha la là cách phiên sai lầm theo mặt chữ bắt đầu từ từ điển Génibrel và Tha la không hề xuất hiện trong bất cứ một cuốn từ điển nào trước hay cùng thời với nó; Lơ thơ với nghĩa “rủ xuống” cũng không hề xuất hiện trong bất cứ một cuốn từ điển cổ nào, Lơ thơ là một từ mới xuất hiện vào quãng đầu thế kỷ XX (1931), và Thơ rơ hay Rơ thơ là cách đọc cổ của từ lơ thơ qua sự ghi nhận một cách có hệ thống của các từ điển từ A. de Rhodes, Taberd, Bỉ Nhu đến Huình Tịnh Của.

Trong bài viết này, chúng tôi cũng thử phục nguyên một từ cổ thông qua phương pháp trên. Đó là các trường hợp Thướt tha.

Thướt tha là từ xuất hiện hai lần trong Truyện Kiều ở các vị trí câu: Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, 170; Dưới đào dường có dáng người thướt tha, 290. Trước tiên, chúng tôi khảo sát tự dạng Nôm của chữ này qua một số bản Nôm cổ. Kết quả như sau:




Qua 12 bản Nôm và Quốc ngữ cổ ta thấy rằng: tại vị trí câu 170 có 4 dị bản, trong đó thướt tha切 他 xuất hiện 2 lần, La tha羅他 xuất hiện 2 lần, Đã ra xuất hiện 2 lần, còn lại Tha la 他 羅xuất hiện 6 lần tại vị trí câu 290 chỉ có độc bản Thướt tha 切 他. Như biện luận của chúng tôi ở hai bài viết trước thì đã ra 乑 歮 là cách viết sai của他 羅Thơ rơ. Thướt tha切 他 chỉ xuất hiện hai lần (so với 6 lần của Tha la 他 羅). Chúng tôi tạm đưa ra khả năng rằng: Thướt tha切 他 cũng là cách viết sai khác của 羅他rơ thơ. Và như vậy, tại vị trí câu 170 chỉ có thể đọc là: Bên cầu tơ liễu bóng chiều THƠ RƠ[1]/ RƠ THƠ [xem Trần Trọng Dương 2006a, 2006b].

Trở lại với vị trí 290, chúng tôi thấy việc xuất hiện các mã chữ Nôm và các bản phiên âm của câu này khá thống nhất. Với sự khảo sát của mình, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn liệt câu này vào loại nguyên bản do chính Nguyễn Du viết vì không hề có dị bản. Ở đây, ta không còn phải biện luận gì về tự dạng của chữ Nôm cả. Vấn đề là ở âm đọc. Chữ này vốn âm Hán Việt gồm có: 切đọc là thiết và 他đọc là tha. Khâu tiếp theo, chúng tôi thử kiểm tra các khả năng biến âm của hai âm này. Cụ thể như bảng dưới đây:

Bảng: các khả năng biến âm của THIẾT







Các khả năng đọc của Thiết = các khả năng biến âm của Th (10) x các khả năng biến âm của iết (11) = 110.

Các khả năng đọc của Tha = các khả năng biến âm của Th (10) x các khả năng biến âm của a (07) = 70.






Các khả năng đọc của Thiết tha = Các khả năng đọc của Thiết x Các khả năng đọc của Tha = 110 x 70 = 7700.

Để kiểm tra xem các khả năng đọc trên có xảy ra trên thực tế hay không, chúng tôi tiến hành tra cứu thông qua các bộ từ điển cổ. Kết quả là: âm Thướt tha và các âm khác không hề được ghi nhận trong bất cứ từ điển cổ nào. Từ này xuất hiện lần đầu trong Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức: “Thướt tha. Trỏ bộ dài lê thê.” [1931:588]. Tiếp đó là đến G. Hue: “Gracieux, svelte. Thướt tha. Tha thướt” [1044]. Đào Văn Tập: “Thướt tha. Chỉ dáng dài mà uyển chuyển” [612]. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học: “Có dáng cao rủ dài xuống, chuyển động một cách mềm mại uyển chuyển.” [945]. Từ điển truyện Kiều: “THƯỚT THA (2): hình dung vật gì dài rủ xuống có vẻ kéo lê thê. Thượt là trong dài thượt. Về cấu tạo từ. xem Dần dà. Td. Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha, 170; Dưới đào dường có dáng người thướt tha, 290” [471].

Trong khi đó, âm Thiết tha lại được ghi nhận khá đều đặn bắt đầu từ từ điển của Bỉ Nhu: “Thiết tha切 磋 .cn. ráo riết, lắm, nhiều lắm.” [466], đến Taberd: “Thiết tha切 磋 . Vehementer. Rất, kịch liệt.”[495] và cuối cùng là Huình Tịnh Paulus Của: “Thiết tha. lắm lắm, bức lắm, ngặt lắm, cần kíp lắm.”[1010]. Tự điển Chữ Nôm ghi: “khẩn khoản, da diết, Hết mức, ráo riết.” [2006:1091]. Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức ghi: “thiết tha để ý đến vì thương yêu (già rồi, tui không còn thiết tha chi nữa. “đi hay ở vẫn thiết tha với Huế, vẫn bao lần nghe Huế nhói trong tim”- thơ Tô Kiều Ngân). Nghĩa xưa là đau đớn xót xa hoặc mức độ cao (đau đớn thiết tha, giận thiết tha). Từ cổ.P.Của.” [2004:866] Từ điển này không thấy ghi nhận chữ “thướt tha”.

Như vậy, theo sự ghi nhận của các từ điển trên, từ thiết tha là trạng từ hoặc tính từ. Để khảo sát sự hoạt động của từ này như thế nào, chúng tôi tạm khảo sát một số văn cảnh trong các văn bản cổ.

1.Thiết tha là trạng từ chỉ mức độ trong các câu: “xú phụ: vợ xấu thiết tha” trong Chỉ nam ngọc âm (tr.7b), “nghe chàng năn nỉ thiết tha” trong Phan trần (tr.69a). 2.Thiết tha là tính từ trong các câu “cảnh buồn người thiết tha lòng” trong Chinh phụ ngâm (16a), “Thiết tha ban tối khoe khoang nửa ngày” trong Nhị độ mai (tr.17b), “tiếng quạ bay kêu giọng thiết tha” trong Vị thành giai cú tập biên (tr.18a). Nếu là một trạng từ, thiết tha thường đứng sau tính từ vị ngữ, hay động từ vị ngữ. Nếu là một tính từ, từ này thường làm vị ngữ hay làm định ngữ cho danh từ.

Chữ thiết tha trong câu 290 “dưới đào dường có bóng người thiết tha” nên chăng là một tính từ. Tính từ vị ngữ này làm khu biệt và xác định tính chất, đặc điểm của danh từ “bóng người” đứng trước nó. Vậy nét nghĩa của chữ thiết tha ở đây là gì? Theo chúng tôi, đây có lẽ là một tính từ chỉ sự di chuyển nhanh, gấp, thấp thoáng, ẩn hiện. Với nét nghĩa như thế nó sẽ hô ứng với chữ “dường thấy” hết sức mong manh ở trên. Vì đây là đoạn tả tâm trạng chàng Kim Trọng lúc lân la chuyển đến làm hàng xóm với Vương gia, để “tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông”, nhưng “tấc gang động tỏa nguyên phong, tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra”. Thế rồi, một buổi thấy dáng kiều thấp thoáng, “buông cầm xốc áo vội ra, hương còn thơm nức người đà vắng tanh”, chỉ có một chiếc kim thoa vướng trên cành đào. Người đẹp đi dạo thưởng hoa nhanh vậy! Nhưng cái thấp thoáng dáng kiều ấy, cái mùi hương khuê nữ ấy đã nhuốm màu tâm trạng của con người si tình kia rồi.





Sự tồn tại và diễn biến của THƯỚT THA, THIẾT THA

trong một số từ điển.







TÀI LIỆU THAM KHẢO

Alexandro De Rhodes.1651. Dictionarivm Annamiticivm- Lusitanvm- Latinvm Sacre Congragationis de Propagada fide Cardinales. ROME. (Từ điển Việt- Bồ- La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. Khoa học Xã hội. 1994.

Đào Duy Anh.1987. Từ điển Truyện Kiều, Phan Ngọc bổ sung sửa chữa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Gustave Hue.1937. Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (chụp theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa, 1937)

Hội Khai trí Tiến đức.1931. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van. Mặc Lâm xuất bản.

Huình Tịnh Paulus Của.1895-1896. “大 南 國 音字 彙” Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4. 1895-1896; Nxb.Trẻ.1998 (theo ấn bản 1895-1896).

J.F.M. Génibrel.1898. Dictionaire Annamite- Francais, Imprimerie de la Mission à Tân Định.

L.J. Taberd.1838. Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore.

Nguyễn Ngọc San & Đinh Văn Thiện. 2003. Từ điển từ Việt cổ, Nxb. Từ điển Bách khoa. Hà Nội. (lần 01 Nxb. VHTT. H.2001)

Nguyễn Quang Hồng (chủ biên).2006. Tự điển chữ Nôm. Nxb.Giáo dục.1546

Nguyễn Quảng Tuân. 2004. Chữ nghĩa Truyện Kiều. Nxb.Văn Học.Hà Nội.272.

Nguyễn Tài Cẩn. 2004.Tư liệu Truyện Kiều-từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu. Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Hà Nội.637.

Paul Schneider.1993. Dictionnaire historique des ideogrammes Vietnamiens, Domaine Carlone- 98, boulevard Edouard Heriot- BP 209- 06204 NICE Cedex 3 (France), Nice.

Pierre Pegneaux de Béhaine.1772-1773. Dictionarium Anamitico Latinum (Tự vị An nam La tinh), bản chép tay.

Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu). 1772-1773. Tự vị An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum 1772- 1773), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu. Nxb.Trẻ. 1999.

Thanh Nghị.1951.Việt Nam tân từ điển. Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon.

Trần Trọng Dương.2006a, Đi tìm âm đọc cổ cho hai chữ LƠ THƠ, t.c Hán Nôm số 03. Tr 44-53.

Trần Trọng Dương.2006b, Thử tầm nguyên hai chữ THA LA, The international conference on Nom Script, www.nomfoundation.org .





--------------------------------------------------------------------------------

[1] A. de. Rhodes ghi: “Cây thơ rơ: cây không có lá, trụi lá.” [1651: 223]. Từ điển của Bá Đa Lộc Bỉ Nhu cũng ghi: “撪冟3 Thơ rơ. Cây trụi lá.” [1773: 470]. Từ điển Taberd cũng ghi: “撪囉 thơ rơ, arbor foliis expoliata.” [1838: 499]. Tra trong từ điển của Huình Tịnh Paulus Của thì thấy: “盧 lơ thơ: xơ rơ, thưa thớt” [1895 - 1896:573], “撪xơ .n. Rã rời, tan tác, còn cái xác không, cái bã không, cái vỏ không. Xơ xơ: rách rã, tơi bời, tan tác. Xơ rơ (xác rác): thưa thớt còi cụt, trơ trọi, còn nhánh không, (cây cối). Bão bùng cành ngọn xơ rơ.” [1895 – 1896: 1198]; “撪 rơ,… xơ rơ: thưa thớt, xờ xạc. (cây cỏ)” [1895 – 1896:874]; “Thơ rơ: xơ rơ thưa thớt, như cây mùa đông, nhánh lá xơ rơ. Thơ thơ. id.” [1895 – 1896: 1018]. Từ điển Tiếng Huế: “Thơ rơ (xơ rơ) cây trụi lá, nghĩa bóng vẻ thiểu não (Cây thầu dầu thơ rơ, dáng điệu anh cũng xơ rơ in nhau)[2004:874].

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Từ nguyên của "văn hiến"

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “VĂN HIẾN”

QUA BỐI CẢNH TRI THỨC NHO GIÁO VIỆT NAM- TRUNG HOA





Trần Trọng Dương

Đã đăng: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa. Hà Nội. số tháng 3/2012. tr.5- 14.
download bản cứng: http://www.mediafire.com/view/?787lmmw9f8kmm12



“Văn hiến” là khái niệm trước nay hay được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Trung đại. Đây là một thuật ngữ của Nho gia có lẽ đã được sử dụng tại Việt Nam trong gần hai thiên niên kỷ qua. Mục đích của bài viết xuất phát từ quan niệm: khi nghiên cứu bất cứ một lĩnh vực nào thì người nghiên cứu nên tự đặt mình vào bối cảnh thời đại cũng như bối cảnh tri thức của thời đại đó, tộc người đó. Điều này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn từ bên trong, tránh đi lối nhìn đã “hiện đại hóa” của đời sau. Chính vì vậy, bài viết sẽ khảo về từ nguyên của “văn hiến” để ngõ hầu lý giải được phần nào nội hàm của khái niệm này trong quá khứ từ đó góp phần vào việc nghiên cứu văn hiến nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung.

Bài viết tiến hành khảo cứu về khái niệm văn hiến theo chiều lịch đại. Phương pháp khảo cứu của chúng tôi gồm các bước sau. Bước thứ nhất, khảo về cách hiểu về văn hiến qua ghi nhận của các từ điển được biên soạn sau khi Nho học bị bãi bỏ. Bước thứ hai, khảo khái niệm văn hiến trong bối cảnh văn hóa và ngôn ngữ của tiếng Hán, từ đó nhằm phân biệt nội hàm của khái niệm này giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Bước thứ ba, khảo về khái niệm này thông qua sự ghi nhận của hệ thống từ điển và văn liệu của tiếng Việt lịch sử. Bước thứ tư, khảo về các văn cảnh của Hán văn Việt Nam (qua các tư liệu sử ký, văn bia đề danh tiến sĩ, văn sách đình đối, và các văn bản nghệ thuật khác), để từ đó phân suất các trường nghĩa của khái niệm này từ bối cảnh tri thức Nho học.



1. Từ cách hiểu về “văn hiến” sau khi Nho học bị bãi bỏ

Văn hiến là từ vựng gốc Hán, được viết bằng tự dạng 文獻. Kể từ sau khi Nho học bị bãi bỏ ở Việt Nam năm 1919, và nhất là kể từ sau khi chữ Hán chữ Nôm bị thay thế hoàn toàn vào năm 1945, thì văn hiến cùng những từ gốc Hán khác đã chịu chung một số phận. Đó là sự cắt đoạn rời khỏi lịch sử vốn có của nó. Thêm nữa, việc cắt rời ấy đã khiến cho ngành từ nguyên học gặp rất nhiều khó khăn; ấy là chưa kể đến những thất thiệt khác cho sự đọc hiểu và nghiên cứu về tiếng Việt. Mục này, bài viết sẽ tiến hành khảo lại các định nghĩa của một số từ điển tiếng Việt được biên soạn trong thế kỷ XX, để hiểu thêm về lịch sử các cách định nghĩa cho khái niệm này.

Đại từ điển tiếng Việt (2008) kế thừa và bổ sung “văn hiến: dt. Truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều nhân tài.”[1] Từ điển từ Hán Việt (2007) của Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các và Từ điển tiếng Việt (2007) của Trung tâm từ điển ghi: “văn hiến.t.d. truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp”[2]. Từ điển bách khoa Việt Nam (2003) ghi: “văn hiến. truyền thống văn hoá tốt đẹp và lâu đời. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách "Luận ngữ" như sau: "Văn là điển tịch; hiến là tốt đẹp, tài giỏi" (sic). Như vậy, "văn hiến" nguyên nghĩa là văn chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hoá lâu đời.”[3] Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học ghi: “văn hiến d.truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp.”[4] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý bổ sung ghi: “văn hiến.t. Cg. Văn vật. Yêu chuộng văn học, văn hóa: Việt Nam là nước văn hiến”[5] Từ điển Hán Việt từ nguyên (1999) của Bửu Kế ghi: “văn hiến. văn: sách sử. Hiến: kẻ hiền tài...Một nước có nhiều hiền tài có sử sách thì gọi là nước văn hiến”[6]. Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971) ghi văn hiến cũng như văn minh.[7] Từ điển Việt Nam phổ thông (1951) của Đào Văn Tập, sau ghi giải thích đúng từ nguyên chữ văn hiến, lại phân suất nghĩa thành: “chỉ những cái hay trong một đời, đáng làm gương mẫu” [8]. Việt Nam tân từ điển (1951) của Thanh Nghị ghi: “văn hiến.d. sách vở hay và nhân vật tốt, nghĩa rộng như tiếng văn minh: nghìn năm văn hiến.”[9] Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của Gustave Hue ghi nhận văn hiến = văn minh[10]. Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy Anh ghi: “văn hiến: sách vở và nhân vật tốt trong một đời.”[11] Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hiến文憲.học hành, hiền đức. Nơi văn hiến”[12]. Tuy nhiên, chữ Hán chế bản sai do đồng âm, 獻nhầm thành 憲. Đây là cuốn từ điển sớm nhất có mục từ này. Các từ điển của A.de Rhodes (1651) cho đến Huình Tịnh Của (1898) đều không thấy ghi nhận.

Có thể nói, các từ điển tiếng Việt hiện đại chỉ phân suất khái niệm này với một nét nghĩa chung chung mơ hồ. Đặc biệt là sự không phân biệt rạch ròi giữa khái niệm văn hóa và văn hiến, coi văn hiến là nền văn hóa tốt đẹp được kéo dài. Gần đây, để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, bộ sách “Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long” đã được ấn bản với số lượng trang sách lên đến 8000 trang, trong đó tinh thần làm việc của các soạn giả đều bàng bạc một sự mơ hồ về khái niệm.

Có tác giả, mặc dù sau khi đã bàn qua về từ nguyên của khái niệm văn hiến vẫn sẵn sàng quy tất cả những lĩnh vực như toán học, kiến trúc, thương nghiệp, nghề truyền thống, thiết kế đô thị, và...tinh thần yêu nước vào nội hàm của văn hiến[13]. Hơn thế nữa, cách hiểu ôm đồm ấy còn dẫn đến việc tác giả dùng các khái niệm (văn hiến, văn minh, văn hóa, văn vật,...) một cách lẫn lộn theo cảm hứng và xúc cảm của người cầm bút.

Năm 1998, Đỗ Trọng Huề đã định nghĩa như sau: “Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng của thời kỳ lịch sử”[14].

Đặc biệt, trước đó, văn hiến còn được triết gia Kim Định sáng tạo theo phong cách tư duy triết học của mình, bất kể sự thực lịch sử và những giới hạn cho phép của từ nguyên học cũng như văn hóa học và lịch sử tư tưởng. Ông viết: “Văn hiến là những người hy hiến thân tâm cho văn hóa và được người trong nước kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, chỉ mới có văn hào, văn sĩ.” [15] Cách định nghĩa của Kim Định xuất phát từ cách ông hiểu về nguyên tự của văn hiến. Ông hiểu văn là văn hóa (theo nghĩa rộng và khá hiện đại), và hiến là hy hiến (hy trong từ hy sinh, hiến với nghĩa cơ bản của nó trong tiếng Hán là dâng hiến). Ông coi văn hiến là một danh từ trỏ người (người hy hiến, như văn hào, văn sĩ), chứng tỏ ông cũng từng biết đến nét nghĩa nguyên gốc thứ hai mà cổ nhân hiểu (hiến còn trỏ hiền nhân). Nhưng tư duy tư biện của ông quá mạnh!

Có thể nói, văn hiến là một khái niệm đến nay khá mơ hồ đối với người hiện đại, nhất là khi nó được so sánh với một số khái niệm khác như văn hóa[16], văn minh[17], văn vật[18]. Thực tế, những thuật ngữ cơ bản trên của ngành văn hóa học đều xuất phát từ kinh điển Nho giáo. Nguyễn Vinh Phúc nói “Phương Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này”[19] là hoàn toàn hữu lý.

Như trên đã bàn, văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia, thuật ngữ này đã đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt khá sâu. Sâu đến mức nhiều người Việt (quãng gần 100 năm trở lại đây) dường như đã quên hẳn ý nghĩa từ nguyên của nó vốn được dùng trong quãng thời gian rất dài. Đây là một ví dụ cho thấy sự đứt gãy văn hóa do từ bỏ văn tự truyền thống (chữ Hán và chữ Nôm, và nhiều văn tự truyền thống khác).

Chúng tôi cho rằng từ văn hiến đã gia nhập vào Việt Nam từ trước đây khá lâu. Nếu theo lý thuyết, thì chữ này có thể được đưa vào nước ta cùng với kinh sách của Nho học cách nay 2000 năm, ít nhất từ thời Sĩ Nhiếp. Nhưng từ văn hiến thực sự là một yếu tố của tiếng Việt thì có lẽ chỉ trong khoảng 1200 năm trở lại đây[20]. Để xác định được thời điểm gia nhập của nó, chúng ta có thể tiến hành khảo cứu theo hai hướng. Hướng thứ nhất là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong một văn bản tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Hướng thứ hai là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong văn bản Hán văn Việt Nam. Nhưng trước khi thực hiện những khảo cứu trên, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu về khái niệm này trong lịch sử tiếng Hán và văn hóa Hán.

2. Khái niệm văn hiến trong lịch sử tiếng Hán

2.1.Sách Luận ngữ thiên Bát dật có đoạn: Tử viết: Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã” 子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 nghĩa là “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà Hạ) chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống (dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ”. Chu Hy chú: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也[21] nghĩa là: văn là điển tịch; hiến là người hiền vậy.

Đoạn này cho thấy ý rất quan trọng về văn hiến. Trong đó, ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa văn hiến và lễ. Cộng với lời chú của Chu Hy thì ta có thể có tam đoạn luận sau:

Đoạn 1: Văn hiến = lễ

Đoạn 2: Văn = điển tịch ; Hiến = người hiền

à Đoạn 3 Văn hiến = điển tịch (ghi chép về lễ) + người hiền (người chế lễ, hành lễ)

Đây có thể coi là nghĩa nguyên bản nhất của từ văn hiến từ bối cảnh tri thức của Nho học Trung Quốc, và cũng có thể coi đây là khái niệm trùng khít giữa Nho học Tiên Tần và Tân Nho học.

2.2. Sách Vũ cống đồi chỉ 禹貢錐指(quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh: “自兩漢以降嶺南之風氣漸移犀象毒冒珠璣銀銅果布之湊於是乎在魁奇忠信材徳之民於是乎生一以為脂膏之地一以為文獻之邦 nghĩa là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam[22] dần đổi; cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đã nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi [Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến.”[23]

Đoạn này nhấn mạnh đến nhân vật - yếu tố chủ thể làm nên văn hiến của một đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi kỳ, có đức trung tín và tài năng theo quan niệm của Nho giáo.



2.3. Từ điển Từ nguyên - cuốn từ điển phổ dụng được soạn vào đầu thế kỷ XX, đã giải thích trên cơ sở định nghĩa của Chu Hy, nên đã viết: “văn trỏ những tư liệu văn tự liên quan đến điển chương chế độ, hiến trỏ những người nghe rộng biết nhiều” [tr.0737].

Cách định nghĩa trên đây của từ điển Từ nguyên là tiếp thu tinh thần của Chu Hy. Tuy nhiên, định nghĩa hiến (trỏ những người nghe rộng biết nhiều) lại mang nét nghĩa hơi hẹp hơn so với thực tế. Bậc hiền đương nhiên là “bác lãm quần thư”, tri thức hoàn bị; song tri thức chỉ là một yếu tố, ngoài ra người hiền còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác như đức độ, khí tiết, phải có chính tích, có trứ thư lập ngôn.

2.4. Từ điển Từ hải sau khi giải thích về từ nguyên, đã ghi nhận nghĩa của chữ văn hiến trong tiếng Hoa hiện nay chỉ còn một nghĩa mở rộng là “những tư liệu văn vật có giá trị lịch sử như: lịch sử văn hiến, đồng thời cũng chỉ những tư liệu sách vở quan trọng liên quan đến một ngành khoa học cụ thể, ví dụ: y học văn hiến. Nay (văn hiến) còn là tên gọi chung cho bất cứ một dạng vật chất nào sử dụng văn tự, tranh ảnh, phù hiệu, để kí tải tri thức, thông tin như: ấn phẩm, băng từ, đĩa CD, băng hình, bản in ốp sét”[24].

Tóm lại, có thể nói rằng, từ văn hiến trong tiếng Hán đã thu hẹp nét nghĩa ban đầu của Nho học, mà trỏ chung cho các tư liệu lưu trữ thông tin. Còn từ văn hiến trong các từ điển tiếng Việt hiện đại được biên soạn trong suốt thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI thể hiện sự bất nhất và không tường minh về mặt khái niệm như đã nêu.

3. Từ văn hiến trong tiếng Việt lịch sử

Chúng tôi tìm được văn liệu có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ XVII trong cuốn Thiên Nam ngữ lục khi viết về Sĩ Nhiếp/ Tiếp 士燮[25]. Tác phẩm này đã ca ngợi “Nam Giao học tổ” như sau:

Quan quân mà lại thầy ta,

Phủ quân tôn vị hiệu là Sĩ vương

Nước nên “văn hiến chi bang”

Đức giáo chẳng nhường Đậu thị Hà Tây (câu 1930-1933)

Ca ngợi Sĩ Nhiếp ở các mặt:

tuần này ắt chẳng lo chi

mối giềng đã tỏ, luật lề đã phân

Đồng niên quý thuế có ngần

Quan quân rõ phép, binh dân rõ đường

Điều hòa chế độ kỷ cương

Mở kho giáo hóa, rỡ ràng nhân luân” (c.1924-1928)

Đoạn thơ trên ca ngợi họ Sĩ là bậc vương, bởi ông đã có công giáo hóa biến Giao Chỉ trở thành “văn hiến chi bang”. Về hình thức, ông là “quan quân”, nhưng thực tế ông lại là bậc sư biểu (thầy ta). Bậc sư biểu ấy đã dùng đức giáo để cho dân ta hiểu rõ “mối giềng”, “luật lệ”. Chữ mối giềng dịch từ chữ cương thường. Như thế, văn hiến ở đây tạm có thể phân suất được những nét nghĩa sau: 1.Cương thường (nhân luân); 2. Luật lệ (cho binh và dân); 3. Giáo hóa. Trong đó, cương thường là những thiết chế về mặt huyết tộc và đạo đức xã hội. Luật lệ là những quy phạm mang tính pháp chế và quản lý hành chính nhà nước.

Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có uy tín trong dân chúng. Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người"... Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Đoạn trên cho ta hai nét nghĩa nữa của khái niệm văn hiến: 1. thông thi thư (thông: hiểu nằm lòng; thi: Kinh thi; thư: Kinh thư); 2.học Lễ và Nhạc.

Ngữ cảnh tiếng Việt thứ hai mà chúng tôi biết được, xuất hiện trong lời giáng bút của thánh mẫu năm 1923, có đoạn mở đầu như sau:

Sông Nhị núi Nùng, nước bốn ngàn năm văn hiến

Con Hồng cháu Lạc, dân hai mươi triệu đồng bào[26]

Văn cảnh này không cung cấp thêm nét nghĩa nào cho khái niệm văn hiến. Tạm thời chúng tôi không bàn đến quãng thời gian đã được kéo dài bằng tâm lý dân tộc bản vị. Giá trị là ở chỗ, đây là văn cảnh tiếng Việt sớm nhất xuất hiện cụm từ“bốn ngàn năm văn hiến”.

4. Khái niệm văn hiến qua bối cảnh tri thức Nho gia Việt Nam

4.1. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi do Lý Tử Tấn viết thông luận, có đoạn: “từ khi người Nguyên vào Trung Quốc, về sau thiên hạ biến thành nói tiếng Hồ, mặc áo Hồ. Không thay đổi thì chỉ có nước ta cùng họ Chu ở Kim Lăng, họ triệu ở Kim Sơn mà thôi. Đến khi Thái tổ nhà Minh lên làm vua, sai Dịch Tế Dân sang thông hiếu, vua Dụ Tông sai Doãn Thuấn Thần sang cống nhà Minh. Vua Minh úy lạo hỏi quốc sứ khen phong tục, y phục vẫn giống như văn minh Trung Hoa, ban cho bài thơ ngự chế rằng”:

安南際有陳 / 風俗不元人

衣冠周制度/ 禮樂宋君臣

An Nam tế hữu Trần/ Phong tục bất Nguyên nhân

Y quan Chu chế độ/ Lễ nhạc Tống quân thần.

(đất An Nam có họ Trần/ phong tục không theo người Nguyên

áo mũ[27] vẫn theo chế độ nhà Chu/ lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống)

Rồi cho bốn chữ “Văn Hiến Chi Bang” và thăng địa vị cho sứ thần của Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp.”[28]

Đây là đoạn thông luận mà Lý Tử Tấn chua cho phần chính văn của Nguyễn Trãi đang gián tiếp bàn về văn hiến, đoạn ấy cụ thể như sau: “Người trong nước không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô[29], Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước”[30].

Đoạn văn trên cho chúng ta biết một số dữ kiện như sau: 1. Chữ văn hiến được dùng cho Đại Việt vào cuối đời Trần, điều này chứng tỏ 2. Nho sỹ đời Trần mạt ít nhiều tạo dựng được bối cảnh tri thức cũng như bối cảnh văn hóa Nho giáo ở một mức độ nhất định, đến mức vua Minh Thái Tổ làm thơ ngự chế và ban tặng đích danh bốn chữ “văn hiến chi bang文獻之邦” vào năm Đại Trị thứ nhất (1368)[31] 3. Như thế, đây là tư liệu thành văn sớm nhất khảo được (trái với quan niệm phổ biến trước đây, coi chữ văn hiến lần đầu xuất hiện trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi).

Đoạn văn trên cũng cho biết một số thông tin cụ thể về nội hàm của khái niệm văn hiến trong bối cảnh tri thức Nho giáo. Đó là bốn yếu tố: 1.Phong tục, 2.chế độ y quan; 3.chế độ lễ nhạc[32]. 4.Ngôn ngữ.

4.2. Chữ văn hiến được đưa vào văn chương trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (1428):

維我大越之國/ 實為文獻之邦

Duy ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang

Nghĩa là: Như nước Đại Việt ta/ Thực là nước văn hiến.



Thế kỷ XV trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà Nội khoa Quang Thuận thứ 4 (1463) có ghi đoạn văn sau: "Học trò may được khắc trên bia đá này, phải theo danh nghĩa sửa đức hạnh, bắt chước tính giữ gìn văn hiến".

Tuy nhiên, hai ngữ cảnh trên đều không cho biết nội hàm của khái niệm văn hiến. Bình Ngô đại cáo cung cấp một thông tin lịch sử đáng chú ý, đó là sự ghi nhận Đại Việt “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Phải chăng đây chính là cứ liệu quan trọng (duy nhất!) để các nhà làm từ điển hiện đại phân suất nghĩa của từ văn hiến thành “truyền thống văn hóa lâu đời” như đã nói đến ở trên?



4.3.Bài tựa Tân đính Lĩnh Nam chích quái tự新訂嶺南摘怪序 của Vũ Quỳnh trong sách Lĩnh Nam chích quái 嶺南摘怪được viết năm 1492 có đoạn như sau: 嶺南摘怪之書。所以嵇考古奇幻之事。憑諸俗話。出於群儒記載。蔓引輯述不一。蓋我越文敎最古。較諸國甚遠。其怪誕遺編。默付前鋻皆得於偶語常談。以愈世紀耳。況洪荒事迹。至歷千古。驗之無証著之難明。多有缺疑。豈可詳辨乎哉。Nghĩa là: Vốn sách Lĩnh Nam chích quái[33] nhằm khảo sát những việc quái lạ xưa nay, thường căn cứ vào lời kể dân gian, do các nhà nho chép thì rất nhiều và không thống nhất. Như nền văn hiến nước Việt ta, vốn rất cổ, so với các nước khác. Biết bao nhiêu điều quái lạ, được ghi lại, phản ánh việc xưa, đều là câu chuyện trao đổi hằng ngày của các thời kỳ đó.

Trong văn cảnh trên, văn hiến được coi như là những ghi chép (thư tịch) về chuyện kể dân gian.

4.4. Bài ký văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 5 (1667) do Nguyễn Kiều[34] soạn và khắc năm Vĩnh Thịnh 13 (1717) có đoạn như sau: “kính nghĩ quốc triều nhân nghĩa dựng nước, văn hiến nức danh. Khoa thi Tiến sĩ đặt ra từ lâu, khắc đá đề tên quy mô to lớn...Thực nhớ một lòng sửa đức, trăm việc mở mang, chính sự tốt đẹp của nước nhà đổi thay rạng rỡ, hiền tài trong thiên hạ nượp nượp kéo về... Đến nay, hoàng thượng vẻ vang kế thừa ngôi báu, hết sức xây đắp cơ đồ, nắm giữ quyền bàn bạc nghi lễ, theo thể thức tôn quý người hiền...Như vậy đủ biết sự chế tác của thánh triều có quan hệ đến phong hóa”[35].

Đoạn văn trên cho biết một số dữ kiện về khái niệm văn hiến như sau: 1.Khoa cử; 2. Văn vật (khắc đá); 3. Hiền tài; 4. Nghi lễ. và 5.Phong hóa (phong tục giáo hóa)[36].

4.5. Thế kỷ XIX, trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết: "Khi nhà Lê dựng nước, văn hóa lại thịnh dần, hơn 300 năm chế tác đầy đủ kỹ càng, văn hiến đứng đầu trung châu, điển chương rạng cả triều đại" (Văn tịch chí, bản dịch, quyển 4, tr. 41).

4.6. Điện Thái Hòa (Huế) đời Nguyễn còn khắc một bài thơ như sau:

文獻千年國 / 車書 萬里圖

鴻龐開闢後 / 南服一唐虞

Phiên âm:

Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu

Nghĩa là:

Nước nghìn năm văn hiến

Cơ đồ[37] muôn dặm xa thư

Kể từ sau khi Hồng Bàng mở nước

Nước Nam lại là một Đường Ngu



Dịch thơ:

Nước văn hiến nghìn năm đã có

Mối xa thư muôn dặm cơ đồ

Hồng Bàng mở nước từ xưa

Nam bang lại một Đường Ngu thái hòa



Đây cũng có thể coi là một định nghĩa nữa về văn hiến. Trong đó, khái niệm quan trọng nhất là Xa thư. Xa là xe, thư là sách. Xa thư nguyên dẫn từ thiên Trung dung中庸sách Lễ ký: kim thiên hạ xa đồng quỹ thư đồng văn 今天下車同軌書同文 nghĩa là “nay thiên hạ: xe cùng cỡ trục, sách chung văn tự”, sau xa thư trỏ thể chế pháp độ của nhà nước theo mô hình Nho giáo. Xét về từ nguyên thì thể chế pháp độ ấy bao gồm văn tự- thư tịch và quy tắc xã hội. Sách Đại Nam quốc sử diễn ca của Phạm Đình Toái có câu: dõi truyền một mối xa thư, cũng là nói về văn hiến nước Đại Nam vậy.

4.7. Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội có đôi câu đối:

南邦文獻千年國

東魯儒宗萬世師

Nam bang văn hiến thiên niên quốc

Đông Lỗ nho tông vạn thế sư

Nam bang là nước ngàn năm văn hiến

Ngài sáng lập đạo Nho ở đất Đông Lỗ là bậc thầy của muôn đời.

Qua nội dung câu đối và bài thơ trên, có thể thấy văn hiến Đại Việt luôn được so sánh, đối chiếu với thời đại thịnh trị viễn cổ là Đường Ngu (nhà Chu) với các nhân vật lý tưởng, các thánh nhân của Nho gia như Chu Công, Khổng Tử. Rõ ràng, văn hiến là một khái niệm của Nho giáo, và được dùng bởi các nhà Nho thuần thành. Văn hiến được dùng để ngợi ca một cảnh tượng thái hòa về chính trị, bình ổn về xã hội và nhân tâm. Đặt trong, bối cảnh như vậy, những biểu tượng và ý nghĩa của khái niệm này đã dần rõ nét.

4.8. Bài văn sách đình đối của Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Vũ Tông Phan khoa Bính tuất niên hiệu Minh Mệnh thứ bảy (1826): Hựu dĩ ngã Việt quan chi, Đinh bình sứ quân chi loạn, Lý xưng văn hiến chi bang, Lê phủ thái bình chi vận, trị nhật hà đa dã? 又以我越觀之丁平使君之亂李稱文獻之邦黎撫太平之運治日何多也nghĩa là: “Lại đem [sử] nước Việt ta ra mà xét, triều Đinh thì bình loạn sứ quân, triều Lý thì gọi là nước văn hiến, triều Lê chăm vận thái bình, thời gian trị vì sao nhiều vậy?”[38]

Đến đây, chúng ta thấy, sách vở thư tịch cũ đã ghi chép những đoạn khen ngợi , xác nhận nước ta là “văn hiến chi bang” từ thời Sĩ Nhiếp cho đến Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

4.9. Bài văn sách đình đối của đệ nhị giáp tiến sĩ Nguyễn Đình Dương khoa Canh thìn niên hiệu Tự Đức thứ ba mươi ba (1880): Ngã quốc tố xưng văn hiến, nhi nhân gian thư tịch chi truyền, thực giác quả lậu. Bất duy ngoại quốc chư thư, nhân sở hãn kiến, nhi kinh, sử, tử, điển, diệc sở hãn kiến. 我國素稱文獻而人間書籍之傳實覺果漏不維外國諸書人所罕見而經史子典亦所罕見[39] Nghĩa là : Nước ta vốn xưng là văn hiến mà việc lưu truyền sách vở trong dân gian thực là ít ỏi. Không chỉ có các sách nước ngoài người ta ít được thấy, mà các sách kinh, sử, chư tử, điển chế cũng ít được coi .

5. Phân suất cấu trúc nghĩa của khái niệm văn hiến

Về mặt tự nguyên, Văn có bốn nghĩa: văn tự, ngôn ngữ, văn thư, và văn chương[40], cũng như chỉ những tư liệu nói chung có liên quan đến điển chương chế độ, hiến chỉ người hiền tài, chủ thể sáng tạo có học thức.

Mặt khác, từ những cứ liệu như đã dẫn ở trên, trong bối cảnh của tri thức Nho giáo, tạm thời có thể phân suất nghĩa của khái niệm văn hiến như sau.

1.Ngôn ngữ
2.Văn tự
3.Sách vở, điển tịch
4.Văn chương
5.Các yếu tố văn hóa- chính trị thuộc điển chương, chế độ của Nho giáo, như: chế độ y quan, chế độ lễ nhạc, pháp độ tiên vương, hiến pháp hoàng triều. Điển chương là “các khuôn phép lễ chế từ vua trước đặt ra’[41], chế độ là “những phép tắc định lập rõ ràng”[42], pháp độ là những quy định tiêu chuẩn (pháp) về hành vi để đánh giá (độ) phẩm hạnh, đức độ, học vấn của một người.
6.Phong tục (phong giáo): những ảnh hưởng của chế độ lễ nhạc quan phương đối với cộng đồng xã hội.
7. Giáo dục và chế độ khoa cử.
8. Người hiền tài (chủ yếu trỏ Nho sĩ, nhưng bản thân mỗi Nho sĩ lại là một phức thể dung hội Tam giáo và có thể còn hơn thế nữa, nên đối tượng ngoại diên thuộc loại hình nhân vật lịch sử này cũng khá là phong phú).
Có thể biểu diễn cấu trúc khái niệm văn hiến qua mô hình sau:




Tuy nhiên, ở từng yếu tố cũng cần phải có sự phân định một cách cụ thể. Thư tịch gồm những loại sách gì? Theo phân loại thời trung đại thì thư tịch được chia ra làm kinh, sử, tử, tập, tức các sách kinh điển, sách lịch sử, các sách trước tác của kẻ sĩ và các sách biên soạn lại khác. Theo thời gian, thì thư tịch chia làm hai loại: 1. Cổ thư (sách vở của người xưa để lại) và 2. Kim thư (sách do người đương thời soạn). Vì thế, khi nghiên cứu về văn hiến đời nào đó ở diện thư tịch, thì sẽ có hai hướng nghiên cứu. Thứ nhất là việc nghiên cứu cổ thư thuộc về nghiên cứu thư mục học. Cách nghiên cứu này dựa vào các bộ thư mục của từng thời đại để có thể biết được khối lượng tri thức của đời đó như thế nào. Thứ hai là nghiên cứu sách vở trước tác vào một giai đoạn lịch sử cụ thể đó. Và cuối cùng, đối với người nghiên cứu, thư tịch còn bao gồm cả những sách vở của đời sau sưu tập hay biên soạn về thời đại đó nữa.

Mặt khác, mối quan hệ giữa các yếu tố của khái niệm văn hiến cũng cần phải bàn đến. Ngôn ngữ văn tự được coi là yếu tố tiên quyết của một quốc gia văn hiến. Đặc biệt là văn tự, văn tự là một trong những phát minh quan trọng nhất để xác độ trình độ phát triển của một dân tộc. Có văn tự thì mới có thể ký chép sách vở. Sách vở có tính truyền thống, có ảnh hưởng đến nhiều người, là khuôn mẫu của muôn đời thì gọi là kinh điển. Kinh điển của cổ nhân là nguồn tri thức quan trọng nhất để tích lũy các tri thức và tạo nguồn cho trí thức của một cộng đồng. Khi đã có được vị trí nhất định trong một hệ thống chính trị quan phương, giới trí thức sẽ góp phần quan trọng để tái tạo và thi hành những điển chương của cổ nhân; đồng thời họ cũng sẽ tiến hành kiến tạo những chế độ mới, điển chương mới, phép tắc mới. Thêm nữa, bất kỳ một quan lại nào theo lối học cử tử ngày xưa cũng đồng thời là một văn sỹ. Cho nên, các sách vở biên soạn của cá nhân mỗi người cũng có thể coi là một nguồn thư tịch góp phần làm nên văn hiến của thời đó. Dù văn chương, lịch sử hay sách tư tưởng triết học đều xoay quanh khía cạnh điển chương giáo hóa, với chức năng “văn dĩ tải đạo”, “củng cố hồng đồ”. Sách vở góp phần tạo nên nhân tài với những chuẩn tắc của quá khứ, nhân tài dựa vào những chuẩn tắc cũ để thiết lập nên hệ thống chuẩn tắc mới (mang màu sắc cổ nhân) và biên soạn những sách vở mới. Đây có thể coi là một mô hình tái tạo tuần hoàn và sáng tạo khép kín của những nền văn hóa thuộc ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo.



Có thể thấy văn tự, thư tịch, hiền tài và điển chương chế độ là sản phẩm là kết quả của các hành vi chính trị - văn hóa. Chúng là phần nổi, phần dễ nhìn thấy của các hoạt động xã hội. Cụ thể, thư tịch là kết quả của quá trình biên soạn, trước tác, dịch thuật của cá nhân cũng như nhà nước. Hiền tài vừa là sản phẩm tự thân vừa là sản phẩm chính thống của chế độ khoa cử. Điển chương chế độ là yếu tố lũy tích của các triều đại, qua rất nhiều lần “chế lễ tác nhạc, định triều quy” (tức hành vi thiết định pháp độ và hệ thống hành chính). Các quá trình hoạt động văn hóa xã hội trên đều có thể quy vào quá trình kiến tạo văn hiến. Có thể thấy rõ điều này qua mô hình dưới đây.









Mô hình văn hiến và kiến tạo văn hiến trên đây tạm có thể coi như là bảng chuẩn để tiến hành khảo sát từng tiêu chí qua từng trường hợp cụ thể cho các giai đoạn lịch sử nhất định nào đó. Việc khảo sát này dựa trên những thư tịch cổ còn lại, cũng có khi có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây.

Tiểu kết: Bài viết, từ việc khảo sát các văn cảnh xuất hiện chữ “văn hiến” trong các thư tịch Nho gia, đã phân suất được tám nét nghĩa của khái niệm này trong bối cảnh tri thức của những người biên soạn (là các nhà Nho) trong chiều dài lịch sử quãng 600 năm. Sự khảo sát này chỉ có tính chất thao tác và thực hiện thí điểm, chứ chưa phải đã bao quát hết toàn bộ tư liệu sách vở cổ của Việt Nam trong thời Trung đại, vì thế, kết luận và mô hình đưa ra ở đây tạm chỉ gói gọn trong những tư liệu mà chúng tôi hiện có. Việc áp dụng mô hình cấu trúc văn hiến từ bối cảnh tri thức Nho giáo cũng như khảo sát hoạt động kiến tạo văn hiến của các triều đại quân chủ trước đây cần được khảo sát qua từng nhân vật hay thời đại cụ thể từ đó mới cho phép chúng ta có một hình dung bước đầu về một nền văn hiến của dân tộc, góp phần vào việc nghiên cứu so sánh sự tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam và trung Hoa trong quá khứ xa xưa.

Nhuệ Giang, tháng 6 năm 2010- tháng 8 năm 2011







Tác giả: Trần Trọng Dương

Địa chỉ: Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 13 Đặng Tiến Đông, Đống Đa, Hà Nội.

Email: trantrongduonghn@gmail.com



--------------------------------------------------------------------------------

[1] Nguyễn Như Ý (chủ biên). Đại từ điển tiếng Việt. Nxb.Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh. Tr.1744.

[2] Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các. 2007. Từ điển từ Hán Việt. Nxb.KHXH. H. tr.534.

Trung tâm Từ điển học Vietlex. 2007. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng. tr.1697.

[3] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

[4] Viện Ngôn ngữ học. 2000. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng & TT từ điển học. tr.1100.

[5] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977). Nxb.KHXH.H. tr.846.

[6] Bửu Cầm. (1999). Từ điển Hán Việt từ nguyên. Nxb. Thuận Hóa. Tr.2309.

[7] Ban Tu thư Khai trí, (1971), Tự- điển Việt Nam , Nhà sách Khai trí 62 Lê Lợi Sài Gòn. Tr.911.

[8] Đào Văn Tập, (1951), Từ điển Việt Nam phổ thông, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn. Tr.689.

[9] Thanh Nghị. (1951). Việt Nam tân từ điển, Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon. tr.1428.

[10] Gustave Hue, (1937), Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (in theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa). Tr.1113.

[11] Đào Duy Anh, (2001 -in theo ấn bản cũ 1932), Từ điển Hán Việt 辭 典 漢 越 , Nxb Khoa học Xã hội, Tp Hồ Chí Minh. Tr.537.

[12] Hội Khai trí Tiến đức, (1931), Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van. Mặc Lâm xuất bản. tr. 626.

[13] Xem Nguyễn Vinh Phúc.2009.Sự hiện diện của văn hiến Thăng Long. www.tapchinhavan.vn

[14] Xem Đỗ Trọng Huề. 1998. Văn Hóa Và Văn Chương, Đặc San Gió Việt.Calgary, Canada.

[15] Kim-Định 1979. Hồn Nước với Lễ Gia Tiên. USA. tr.303.

[16] Văn hóa文化 là cách nói tắt của cụm văn chương giáo hóa: tức là dùng văn chương dạy dỗ, để cảm hóa và biến đổi đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất của một người hay một cộng đồng xã hội. Từ điển của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hóa: sự giáo dục do văn học đã thấm thía vào trí não người ta” [tr.626] Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “văn hóa: văn vật và giáo hóa, dùng văn tự mà giáo hóa cho người” [tr.537]. “Lín lao thay v¨n ho¸ ph« bµy lan to¶, cao ngót thay mét phen ®¹i chÊn Nho phong.” [Bµi ký ®Ò danh TiÕn sÜ khoa QuÝ Mïi niªn hiÖu Quang ThuËn n¨m thø 4 (1463) kh¾c n¨m Hång §øc thø 15 (1484) do §µo Cö so¹n]

[17] Tạm thời có thể phân suất nghĩa từ nguyên của từ văn minh 文明như sau nghĩa thứ nhất là rực rỡ. Cái đức của nó cương kiện và văn minh, ứng với trời thì mùa vận hành, cho nên đứng đầu và hanh thông (Kinh dịch, quẻ Đại hữu). 2. Tt. Văn vẻ và sáng rực rỡ (dùng cho đạo đức, Nho), Vua Thuấn uyên thâm và văn minh (Tuấn triết văn minh) (Kinh Thư). 3. Tt. Trạng thái có giáo hóa, có đạo đức, có lễ nghi, có điển tắc. Thánh Tông Thuần Hoàng Đế sáng lập pháp chế, mở ra muôn đời văn minh (ĐVSKTT) Họ Đinh vốn dòng họ đàn anh, giữ được đất xa, có lòng hâm mộ phong thói văn minh, thường tỏ ý muốn phụ thuộc với Trung Quốc. (KĐVSTGCM) Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy.(ĐVSKTT) Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “cái tia của đạo đức phát hiện ra ở nơi chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương,…” [tr.537].

[18] Văn vật 文物 1. dt. Những dấu ấn về vật chất thể hiện văn hiến của một triều đại. Thái tổ Hoàng đế ta được nhà Chu nhường ngôi, thanh danh, văn vật, biến đổi trở lại như xưa. (An Nam chí lược)// Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần. (ĐVSKTT) 2. Dt. Các di vật cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Hà Nội nghìn năm văn vật. KTTD chú văn vật nghĩa như văn hiến. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ” [tr.539]

[19] Nguyễn Vinh Phúc. Bdd.

[20] Nguyễn Ngọc San.. 2003. Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Nguyễn Tài Cẩn. 2001. Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt. Trong “Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa”. Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tr.401-411.

[21]Tứ thư dại toàn四書大全. Luận ngữ tập chú đại toàn論語集註大全(quyển 3 卷三). Bát dật đệ tam八佾第三. tr.14b.

[22] Lĩnh Nam: trỏ toàn bộ vùng đất từ phía Nam dãy Ngũ Lĩnh trở lại, gồm phần đất thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và nước ta. Với người Việt, từ Lĩnh Nam cũng được dùng để trỏ lãnh thổ quốc gia của nước mình. Đại Nam quốc sử diễn ca có câu: Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

[23] Hồ Vị胡渭.( 乾隆四十三年Kiền Long tứ thập tam niên). Vũ cống đồi chỉ (hai mươi quyển)禹貢錐指二十巻.

[24] Từ hải. tr.1860.

[25] Sĩ Nhiếp 士燮 (137-226) tự là Ngạn Tín, người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô, là Thái thú Giao Chỉ từ năm 187 đến năm 226 (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc). Sĩ Nhiếp được đánh giá cao nhất bởi có công trong việc duy trì tình trạng hòa bình yên ổn ở Giao Chỉ trong suốt giai đoạn nội chiến Tam Quốc hết sức phức tạp tại Trung Quốc kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chính tích đó giúp Sĩ Nhiếp gần như trở thành một vị vua tự trị của quận Giao Châu, thoát hẳn ra khỏi ảnh hưởng và mệnh lệnh của nhà Hán. Điều đó thể hiện qua lá thư của Viên Huy, vốn là quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán là Tuân Úc năm Đinh Hợi, Kiến An năm thứ 12 (207) đời Hán. Lá thư có đoạn: "Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong sách Xuân Thu Tả Thị truyện, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ. Lại như sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ."

Ông được coi là một vị quan cai trị có tài và được giới Nho học phong kiến Việt Nam sau này suy tôn là một trong những nhân vật mở đường cho Nho giáo ở Việt Nam. Nhiều nơi hiện còn thờ ông.

[26] Đào Duy Anh.1989. Nhớ nghĩ chiều hôm (Hồi ký). Nxb. Trẻ. tr. 216-218. Nhân đây xin gửi lời cảm ơn Ts. Nguyễn Xuân Diện đã chỉ dẫn nguồn tư liệu này.

[27] (1).áo và mũ. Thời cổ kẻ sĩ đội mũ trên đầu, nhân thế dùng để trỏ trang phục của lớp người này. (2).chuyên chỉ lễ phục. (3).thay chỉ cho các bậc sĩ đại phu. (4), chỉ văn minh lễ giáo.

từ điển Từ nguyên dẫn câu trong sách luận ngữ: “quân tử chính kỳ y quan” (người quân tử chỉnh tề mũ áo”, chua là, sau trỏ nơi hoàng đế nghe việc chính sự. [tr.1528]《ZDIC.NET 汉 典 网》

[28] Nguyễn Trãi. An Nam Vũ Cống安 南 禹 貢(q.6). Ngô Ngọ Phong 吳 午 峰, Nguyễn Thư Hiên 阮 舒 軒, Nguyễn Hi Tư 阮 希 思viết tiểu chú và lời bình; Lí Tử Tấn 李 子 晉 thông luận, Nguyễn Thiên Túng 阮 天 縱 tập chú. Trong Ức trai di tập (7.q). Phúc Khê tàng bản. Ký hiệu. VHv.1772/2-3. tr.30a-30b. Bản dịch tham khảo theo Phan Duy Tiếp và Hà Văn Tấn (hiệu đính, chú thích) trong Nguyễn Trãi Toàn tập tân biên (T2). Nxb. Văn học & TT Nghiên cứu Quốc học. H. tr.481-482.

Xem thêm Nguyễn Thanh Tùng. 2010. Về lai lịch bài thơ Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục vẫn được xem là của Hồ Quý Ly. Trong “Thông báo Hán Nôm học năm 2009”. Nxb. Thế giới. Hà Nội. tr.1014-1027.

[29] Tức nhà Nguyên.

[30] Xem chú trên. Sđd.

[31] Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ), q.7, tr.28a.

[32] “Tức Lễ và Nhạc, là các phạm trù chính trị và luân lý của Nho gia. Lễ là do điển chương, chế độ, lễ nghi từ thời Tây Chu trở đi phát triển thành. Thuyết văn: “Lễ tức là Lý vậy. Lễ dùng để thờ thần cầu phúc” Như vậy, Lễ lúc ban đầu là để chỉ việc thờ thần, sau mới mở rộng ra Lễ nghi. Sau này, Lễ dần dần tách khỏi Nghi và có ý nghĩa chính trị “trị quốc an bang”. Nhạc là âm nhạc. Thuyết văn: “Nhạc là tên gọi chung của ngũ thanh, Bát âm”. Trịnh Huyền chú thích Lễ Ký- Nhạc Ký: “Bát âm cùng nổi lên một cách hài hoà thì gọi là nhạc. Lễ nhạc gọi gộp thì chỉ chung hình thái ý thức xã hội và quy phạm đạo đức, chế độ đẳng cấp toôg pháp của xã hội nô lệ, xã hội phong kiến. Tác dụng xã hội của nó là “quản lý quốc gia, ổn định xã tắc, giữ gìn trật tự trong nhân dân, làm lợi cho việc nối dõi về sau. (kinh quốc gia, định xã tắc, tự nhân dân, lợi hậu tự).” [Lao Tử- Thịnh Lê (chủ biên).2001. Từ điển Nho- Phật- Đạo. Nxb.Văn học. Hà Nội. tr.728]

[33] Chỉ cuốn sách gốc từ thời Trần, tác giả khuyết danh, mà Trần Thế Pháp đã chép được và đề Tựa năm Nhâm Tý hiệu Hồng Đức 23 (1492) tức bài Cổ thuyết tựa dẫn, trích ở phần sau sách Lĩnh Nam chích quái

[34] “Nguyễn Kiều (1695-1752 hiệu Hạo Hiên, người xã Phú Xá huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Thượng huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội). Ông là chồng của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, 21 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan Tả thị lang bộ Binh và được cử đi sứ sang nhà Thanh. Ông là tác giả của 4 bài văn bia tiến sĩ các khoa 1667, 1683, 1697, 1713).” [Theo Trịnh Khắc Mạnh.2006. văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam. Nxb Giáo dục. H]

[35] Trịnh Khắc Mạnh.2006.sđd.

[36] Từ Hải. tr.1851.

[37] Trong nguyên văn chữ đồ là một danh từ. Theo Hán ngữ đại tự điển, chữ đồ này mang nghĩa là pháp độ [Q thượng, tr.276], đây cũng là nguyên từ của các chữ cơ đồ, hồng đồ.

[38] Quốc triều Đình đối sách văn國 朝 庭 對 策 文, VHv.318/1 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

[39] Quốc triều Đình đối sách văn 國 朝 庭 對 策 文, ký hiệu VHv.318/2 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

[40] Xem thêm cách phân suất từ nguyên của Liam Kelley.2003. Vietnam as a ‘Domain of Manifest Civility’ (Văn hiến chi bang). Journal of Southest Asian Studies, Vol.34, No. 1, pp 63-76.

[41] Đào Duy Anh. Sdd. tr.276.

[42] Đào Duy Anh. Sdd. tr.158.

tác gia hoàng tộc triều Nguyễn

VỀ MỘT SỐ TÁC GIA HOÀNG TỘC TRIỀU NGUYỄN

(Giới thiệu tác giả, khảo sát tình hình văn bản)



Trần Trọng Dương

Đã in trong Thông báo Hán Nôm học.2008. Nxb KHXH.H.

Triều Nguyễn là giai đoạn nở rộ của văn học với khối lượng tác phẩm nhiều nhất với số lượng tác gia đông đảo nhất. Góp phần dựng nên diện mạo của văn học giai đoạn này là các tác gia trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Những tên tuổi như Tùng Thiện vương Miên Thẩm, Tuy Lý vương Miên Trinh, Tương An quận vương Miên Bửu, Công chúa Mai Am, Công chúa Huệ Phố v.v…đã đi vào tiềm thức của mọi người như những hiện tượng văn chương tiêu biểu của giai đoạn này. Các vị vua như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức cũng nổi tiếng có tài hay thơ. Riêng ba tác gia này số lượng tác phẩm đã lên đến trên dưới chục ngàn bài. Việc sưu tầm, phiên âm, dịch chú và giới thiệu các tác phẩm của các tác gia hoàng tộc triều Nguyễn không chỉ giúp chúng ta hiểu được một lực lượng sáng tác quan trọng trong giai đoạn này, mà còn góp phần dựng nên diện mạo chung cho văn học Hán Nôm trên đất cố đô.

Kể từ khi vua Gia Long lên ngôi, mở ra thời kì mới của đất nước, Huế đã trở thành trung tâm văn hóa của cả đất nước. Huế đã trở thành nơi hội tụ anh tài. Huế đã tồn tại như một trung tâm chính trị và giáo giục. Từ đây, Huế cũng tồn tại như một trung tâm văn học của cả nước. Đại Nam liệt truyện (từ đây viết tắt là ĐNLT) ghi: “Thương Sơn lập ra Thi xã, họp khách văn chương hơn 300 người.” Có thể nói, lực lượng các tác gia hoàng tộc giữ vị trí như là những người tổ chức, lĩnh xướng. Các hoàng tử triều Nguyễn là những người được đào tạo quy củ và bài bản về Nho học. ĐNLT còn ghi Tùng Thiện vương Miên Thẩm khi bẩy tuổi đã có thể “gấp sách đọc có khi trăm tờ”, 9 tuổi đã làm được thơ, sau lớn lên “học tập các sách kinh sử không sách gì không thông hiểu lại có tính mê sơn thuỷ, hàng ngày cùng danh sĩ giao du, kiến văn ngày càng rộng...”. Tuy Lý vương Miên Trinh bốn tuổi đã học thuộc Tiểu học, Hiếu kinh, “khi lớn học rộng văn hay”. Hồng Sâm con của Tuy Lý vương “lên 9 tuổi đã biết làm thơ, 13 tuổi biết làm văn, đến 20 tuổi, xem rộng các sách, càng giỏi về thơ.” Tương An quân vương Miên Bửu “thông khắp kinh sử, có tiếng làm thơ, càng giỏi về quốc âm.” Quỳ Châu quận công Miên Liêu “lúc trẻ thông minh và khi ra mở phủ riêng dốc chí ham học, thông khắp các kinh điển, có tiếng về thơ hay.” Quảng Trạch quận công Miên Cư “dĩnh ngộ kì lạ, ...học các kinh sử đến cả các sách chư tử. Hiện (tức Hoàng đế) Kì (tức Kì Bá) (hai sách thuốc), đạo Phật, đạo Lão đều biết qua cả. Đàm luận giỏi, viện dẫn đều có căn cứ, lời thơ rất phong nhã, có tiếng về thơ.”...Có thể nói, lực lượng các tác gia văn học hoàng tộc là những người có kiến thức, có văn tài. Các hoàng tử, hoàng thân đều được đào tạo để phục vụ cho việc quản lý xã hội theo thiết chế của Nho gia. Giai đoạn chúa Nguyễn trước đó, các hoàng tử chủ yếu khẳng định vị trí và vai trò của mình bằng cách dẫn quân chinh chiến, dẹp loạn. Họ đều là các võ tướng, trực tiếp cầm quân đánh trận. Như hoàng tử Thuần mới 20 tuổi cầm quân đánh thắng quân Trịnh, chấm dứt cuộc giao tranh Trịnh- Nguyễn. Duy chỉ có hoàng tử Tứ “học rộng các sử sách, đặc biệt là trội về thơ Nôm.” [2] Có thể thấy, giai đoạn các chúa Nguyễn là giai đoạn võ trị, sang đến triều Nguyễn xu hướng đi dần đến văn trị. Lực lượng tác gia hoàng tộc triều Nguyễn là một biểu hiện của xu hướng này.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi vào giới thiệu một số tác gia hoàng tộc triều Nguyễn mà từ trước đến nay ít người biết đến, gồm 17 tác giả. Đó là những người có thi tập, có thể đứng riêng thành một tác giả lớn, cũng có thể đó là tác giả chỉ còn để lại một số bài thơ được chép trong một số tuyển thơ. Còn các tác gia nổi tiếng có ít nhiều tác phẩm đã được dịch chú và đã được nghiên cứu như Miên Thẩm, Miên Trinh, Mai Am, Huệ Phố, Minh Mệnh, Tự Đức thì chúng tôi xin được để lại trong một dịp khác.

I. Giới thiệu về các tác gia hoàng tộc triều Nguyễn

1. Từ Sơn công (1813- 1869): ông tên là Mão, là con thứ 13 của Thế Tổ Cao hoàng đế Gia Long, mẹ là Chiêu dung họ Nguyễn Văn, năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) ông được phong làm Từ Sơn công. Ông vốn chịu khó đọc sách, hành động theo lễ phép, kính giữ chức phiên vương. Tự Đức thứ 2 (1849), vua thấy ông tuổi cao lại có đạo đức, miễn khỏi triều lạy. Ông mất năm 1869 thọ 56 tuổi, thụy là Ôn Thận, đền ở xã Xuân Hoà thuộc huyện Hương Thuỷ. Không thấy ông để lại trước tác gì. Chỉ thấy có mười bài thơ ứng chế khi ông cùng vua Tự Đức đi thăm nhà Thái học năm 1854 chép trong ĐNLT và Ngự chế bích ung canh ca hội tập (từ đây viết tắt là BUCC). [2]

2. Thọ Xuân vương Miên Định (1808- 1885) tự là Minh Tĩnh, hiệu là Đông Trì, sinh năm 1808, lúc đầu Thế Tổ Cao hoàng đế Gia Long cho tên là Yến. Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), được ban tên là Định. Ông là con thứ ba của Thánh Tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh, mẹ là gia phi họ Phạm. Ông vốn tư­ chất hơn ngư­ời, nổi tiếng hay thơ, nhất là thể thơ ứng chế, sau đ­ược phong làm Thọ Xuân công. Khi vua đi tuần thú, ông thường đ­ược giao lư­u lại ở kinh lo việc. Ông từng làm chức Tổng lí coi làm bộ Đại Nam hội điển, sau đ­ược sung Ngự tiền thân thần, giữ chức Tả tôn chính phủ Tôn Nhân. Ông mất năm Đồng Khánh nguyên niên (1885) thọ 77 tuổi. Tác phẩm: Minh Mệnh cung từ, Minh Tĩnh ai phương thi tập. Ông có một bài thơ được chép trong BUCC. Đây là bài thơ duy nhất còn lại của ông. [2]

3. Ninh Thuận công Miên Nghi (1810- 1875): ông trước tên là Dục sau mới được ban tên là Nghi. Là con thứ 4 của Thánh tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh, mẹ là Trang tần người Phú Lộc, phủ Thừa Thiên, con gái của Trần Công Nghị. Ông phong tư khôi ngô khác thường, tính tình hào mại. Khi làm hoàng tử ra mở phủ đệ theo học, đọc rộng khắp kinh sử. Năm Minh Mệnh thứ 14, đổi phong làm Ninh Thuận công. Từng giữ chức Tả tôn nhân phủ Tôn Nhân, Hữu tôn chính phủ Tôn Nhân. Ông mất năm 1875, thọ 65 tuổi, thụy là Đoan Túc, đền ở xã Tiên Nộn, huyện Phú Vang. Ông chỉ để lại một bài thơ được chép trong BUCC. [2]

4. Tương An quận vương Miên Bửu (30/5/1820- 8/3/1854) huý là Miên Bửu, tự là Duy Thiện, còn có tự là Sư Cổ, hiệu là Khiêm Trai hay Mai Hiên, tước Tương An quận vương. Vương là con thứ 12 của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế và bà An Tần họ Hồ. Vương thuở nhỏ sức mạnh khác thường, ham thích võ nghệ, cưỡi ngựa bắn cung rất giỏi. Lớn lên, vương chịu khó đọc sách, hiểu rộng kinh sử. Vương nổi tiếng về thơ, nhất là về thơ quốc âm, lại đặt ra điền từ, nhiều bài rất hay. Vương cũng nổi danh về đàn tì bà. Đương thời, ông cùng Miên Thẩm, Miên Trinh thành lập Tùng Vân thi xã, tạo thành bộ ba Tam Đường nổi tiếng thời bấy giờ. Năm Thiệu Trị 2 (1842), vương cùng Tùng Thiện hộ giá Hiến Tổ bắc tuần, về được thăng tước. Vương từng làm Giáo đạo cho An Phong công Hường Bảo và Phước Tuy công Hường Nhậm, nhưng xem ra ưu ái với Hường Bảo hơn. Sau vụ Hường Bảo âm mưu đảo chính và bị giết, vương bị Tự Đức nghi ngờ. Từ đó ông đóng cửa ở nhà lấy thơ rượu làm khuây. Ông thọ 35 tuổi, thuỵ là Cung Nghị. Lăng và từ đường hiện ở làng Nguyệt Biều, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tác phẩm:Khiêm Trai thi tập, Khiêm Trai văn tập. Thơ nôm của ông không được khắc in, hiện chỉ truyền lại Hoài cổ ngâm, Trăm thương, bài liên ngâm Hoà lạc ca và 16 bài thơ luật. [2]
5. Quỳ Châu quận công Miên Liêu (1824- 1882): ông là con thứ 29 của Thánh tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh, mẹ là cung tần họ Lê, con gái Đô thống Lê Chất. Ông lúc trẻ thông minh, khi ra mở phủ riêng dốc chí học hành, thông khắp các sách kinh điển, có tiếng về thơ hay. Năm Thiệu Trị thứ 3 được phong làm Quỳ Châu quận công. Năm Thiệu trị thứ 7 (1847), ông theo vua thăm nhà Thái học, ứng chỉ làm 8 bài “vua thăm nhà học”. Vua rất khen, và cho chép vào tập BUCC. Năm Tự Đức thứ 34 (1882), ông mất, thọ 53 tuổi, thụy là Cung Lượng, đền ở xã An Cựu, huyện Hương Thuỷ. Thơ văn ông chỉ còn lại 8 bài được chép trong tập BUCC và ĐNLT.

6. Quảng Ninh quận vương Miên Bật (1825- 1848), hiệu là Vân Đình, con thứ 30 của Thánh Tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh. Ông sinh năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), lúc trẻ dĩnh ngộ lạ thường, thích học viết, khi trưởng thành thì ra học thầy ở bên ngoài không sách gì là không đọc nên được vua rất yêu. Ông tính vốn cung kính, cẩn thận và hiền hậu. Khi làm thân phiên, có dựng thư viện Tự Hương để làm nơi đọc sách, thường vịnh với những người văn thơ nổi tiếng lúc bấy giờ. Khi Dực Tông Anh hoàng đế Tự Đức còn ở tiềm để, cùng học với ông, hai ông thường cùng nhau xướng hoạ. Được phong làm Ninh quốc công. Năm Tự Đức 7 (1848), ông mất thọ 23 tuổi, thụy là Đôn Hoà. Trước tác của ông có tập thơ Hân Nhiên. Khi Tự Đức lên ngôi, thấy bản thảo của ông còn để ở các nên đề rằng: “cách biệt nhau ngàn thu, hận đã dài lắm, trông thấy thơ để lại càng thương. Cấm thành ngày dài cùng ai nối thơ, viện kín hoa tàn há có thể tụ được hương thơm. Đạm bạc lòng như ông Đào Tĩnh Tiết, thanh cao nối vần như ông Mạnh Tương Dương. Đêm nay lúc tĩnh đem thơ ra đọc, gió thổi đèn sương, trăng soi rường nhà.” Sau được Miên Thẩm dâng biểu xin san khắc, được vua chấp thuận. [2]

7. Lạc Biên quận công Miên Khoan (1826 - 1864): ông là con thứ 33 của Thánh tổ Nhân hoàng đế Minh Mạng, mẹ là Quý nhân họ Lương, người Phù Mĩ, Bình Định con gái của Đình Suy. Lúc mới làm hoàng tử có học hạnh, được phong làm Lạc Biên quận công. Năm Tự Đức thứ 7 (1848), mùa xuân, tháng 2, vua thăm nhà Thái học, ông theo hầu, vâng mệnh ứng chế 12 bài ca Thị học, được vua khen, cho chép vào BUCC. Ông mất năm Tự Đức 16 (1864), thọ 38 tuổi, thụy là Đôn Lượng, dựng đền ở ấp Trung Bộ thuộc Hương Thuỷ. Thơ văn ông chỉ còn 12 bài thơ ứng chế chép trong BUCC và ĐNLT.

8. Quảng Trạch quận công Miên Cư (1838 -1854) là Trọng Trữ, con thứ 47 của Thánh Tổ Nhân hoàng đế Minh Mạng, mẹ là Hoà Tần họ Nguyễn Văn, con gái của Văn Thanh, Chưởng cơ trấn thủ Quảng Yên. Ông sinh năm Minh Mệnh thứ 10. Ông lúc trẻ rất thông minh dĩnh ngộ, học thông kinh sử và chư tử. Ông được phong Quảng Trạch công. Lúc bị bệnh ông thường ngâm nga câu: Sầu cực hốt sinh Y, Lạc trưởng, xuy sinh kị hạc ta thời nhân (sầu lắm chợt sinh ra tưởng tượng đi chơi sông Y sông Lạc, thổi tiêu cưỡi hạc từ biệt người đời. Năm Tự Đức thứ 7 (1854), ông mất thọ 26 tuổi. Ông có tập thơ Cống thảo viên thi do Tùng Thiện vương Miên Thẩm san khắc và đề tựa, tựa rằng: “đại khái rằng đặt tên vườn là Cống Thảo ấy là trộm theo điển trong sách Chu Lễ; mơ thấy bút sinh hoa, tự tác làm tập Hán Phiên. Nhưng mà: Trần Thư (tức Tào Thực) không được dùng, hoảng hốt mà thành bệnh sầu; Hoài Nam (tức Ôn Lưu) tự thương thân, hoặc nương tựa mà tìm người ẩn dật. Ghét kẻ gian tà thói đời, thường thấy trong bài thơ; cưỡi hạc thổi tiêu thành câu thơ sấm. Vì là: dụng tâm quá khắc khổ, tinh thần có chỗ khó chịu, lo quá thành ốm, cho nên không hưởng tuổi trời được lâu.” [2] Tập thơ Cống thảo viên thi hiện nay cũng không còn.

9. An quốc công Miên Ngung (1829) hiệu là Mạn Viên, tự Hoà Phủ, con thứ 48 của Thánh Tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh, sinh năm Minh Mệnh thứ 10 (1829). Lúc trẻ ông rất ham học, trời phú cho tư chất thông minh, đọc rộng khắp các sách kinh sử và sách chư tử. Nổi tiếng văn hay, có thể sánh với Quảng Ninh quận công Miên Bật. Được phong làm Bình An quận công. Năm Tự Đức thứ 6 (1853) mất, thọ 25 tuổi. Được truy tặng làm An quốc công, thuỵ là Cẩn Tuệ, liệt tự ở đền Thân Huân. Ông có trước tác tập thơ Mạn Viên. Miên Thẩm đề tựa cho tập thơ ấy, khen rằng: ông có tâm linh suốt đời xưa, trí sâu xa xét rõ từng tí, phát ra lời văn đều hay cả [2]. Nhưng tập thơ này đến nay không thấy còn. [2]

10. Trấn Biên quận công Miên Thanh (1830- 1877) tự là Giản Trọng, hiệu là Duân Đình, con thứ 51 của Thánh tổ Nhân Hoàng đế Minh Mạng, anh cũng mẹ với Phong quốc công Miên Kiền. Ông người yếu, nhiều bệnh, mới làm hoàng tử mở phủ học, thông kinh sử, có tiếng thơ hay, biết nghề thuốc. Năm Minh Mạng thứ 21, được phong Trấn Biên quận công. Năm Tự Đức thứ 29 (1876), ông theo hầu vua ngự thăm cửa biển Thuận An, vâng sắc kính hoạ thơ Thuận An ngự chế tám mươi vần (bài này chép trong ĐNLT và BUCC). Ông mất năm 1877, thọ 47 tuổi, thụy là Cung Lượng. [2] Tác phẩm: Duân Đình thi thảo nay đã mất. Thơ còn lại của ông được in trong Đào Trang tập (VHv. 15) của Hường Vịnh, con trai thứ ba của ông[12].

11. Phong quốc công Miên Kiền (1831- 1855): ông tự là Trọng Cung, con thứ 55 của Thánh Tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh, em cùng mẹ với Trấn Biên quận công Miên Thanh. Khi làm hoàng tử ra mở phủ riêng đi học, thông kinh sử, có văn từ. Năm Thiệu Trị thứ 6, phong làm Phong quốc công. Năm Tự Đức thứ 7, vua ngự thăm nhà Thái Học, ông theo hầu, hiến bài Tụng thị học và được đưa vào cuốn BUCC. Năm Tự Đức thứ 7 (1855), ông mất, thọ 24 tuổi, thụy là Hoằng Nhã, đền ở xã Vĩ Dã huyện Phú Vang.[2] Ông sáng tác không nhiều. Bài Tụng thị học là tác phẩm duy nhất còn lại của ông.

12. Hoà Thạnh vương Miên Tuấn (1827- 1907): tự là Dương Hiền, Ngạn Chi, Ngạn Thúc, Trọng Diên, Tử Tài, Nhã Đường chủ nhân, Lạc thiện lão nhân hiệu là Tùng Viên [13]. Ông là con thứ 37 của đức Thánh Tổ, mẹ là An tần Hồ Thị Tuỳ. Năm 1831, ông được ra Quảng Phúc đường cùng học với anh em, sau được tấn phong là Hoà Thạnh quận công. Năm 1883, được phong là Thạnh quốc công. Năm 1895, ông được phong làm Hoà Thạnh công. Sau khi mất, được truy phong là Hoà Thạnh quận vương rồi Hoà Thạnh vương. Nhà thờ ở Phú Mỹ, Huế. Tác phẩm có: Nhã Đường thi tập, Nhã Đường văn tập, Hiếu kinh lập bản, Quốc âm hiếu sử. [9]

13. Nguyễn Phước Hường Vịnh ( ? - ? ) hiệu Trọng Vĩnh, con trai thứ ba của Trấn Biên quận công Miên Thanh, thời trẻ thông minh nhanh nhẹn, thích ngâm vịnh, phong cách giống như cha, kiêm thông nghề thuốc. Lúc mới ra làm việc từng trải chức Bổ tri huyện, sau đổi sung Trợ giáo, rồi thăng hàm Thị giảng [2]. Tác phẩm có Đào Trang tập. Ông viết rất nhiều thơ về cảnh quan xứ Huế. Thơ ông đượm ý vị thiền, cảm hứng trầm lặng. Thơ ông cũng in dấu những suy tư của một bề tôi đối với vua và những công việc của đất nước [12].

14. Phong Lộc quận công Hường Hàng (1837- 1867) ông là con thứ 9 của Hiến tổ Chương hoàng đế Thiệu Trị, mẹ là Đoan tần họ Trương, người huyện Tống Sơn, Thanh Hoá, con gái của Văn Minh. Lúc đầu làm hoàng tử có đức hạnh. Năm Tự Đức thứ 5, được phong làm Phong Lộc quận công. Năm thứ 7, mùa xuân tháng 2, Tự Đức ngự thăm nhà Thái học, ông theo hầu, vâng lệnh ứng chế 6 bài thơ Thị học, được chép trong tập BUCC. Tự Đức thứ 18 (1867), ông mất, thọ 30 tuổi, thụy là Cung Hậu. Thơ văn ông chỉ có 6 bài thơ trên.

15. Kiến Thuỵ quận vương Hường Y (1833- 1878): tự là Quân Bác, con thứ 4 của Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị, mẹ là Thục phi họ Nguyễn Văn, người Lệ Thuỷ, Quảng Bình, con gái của Chưởng cơ lãnh binh là Văn Phượng. Sinh năm Minh Mạng thứ 14 (1833). Ông lúc bé kì dị, thông minh khác thường, đến khi lớn học rộng thơ hay, rất được vua yêu. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), ông được phong làm Kiến Thụy công. Đầu thời Tự Đức, ông cùng Tùng Thiện quận vương vào hầu vua ở vườn sau tập bắn. Vua làm 16 vần thơ Quý đông tân tình hậu uyển tập xạ, ông và Miên Thẩm mỗi người nối một câu thành một bài, vua rất vừa ý. Năm Tự Đức thứ 7(1854), ông theo vua đến thăm nhà Thái học, dâng bài tụng Thị học, vua khen cho liệt vào BUCC. Vua Tự Đức từng mừng thọ ông hai bài thơ trong đó có câu khen rằng: Văn chương sư Tử Kiến, đức nghiệp nộ Đông Bình (văn chương học Tào Thực, đức nghiệp sánh với Hán Đông Bình Vương.) Năm thứ 24 (1872), ông giữ chức Hữu tôn nhân phủ Tôn nhân. Năm thứ 30 (1878), ông mất, thọ 45 tuổi, vua xuống dụ truy tặng là Kiến Thuỵ quận vương, thuỵ là Tuệ Đạt, đền ở ấp Đông Trì huyện Hương Trà. Theo ĐNLT, ông vốn “tính hiếu hữu, thích làm điều thiện không mỏi, bình sinh không thích gì, chỉ lấy trước thuật làm vui, trên từ bài tụng hiến, dưới đến các bài tặng đáp, cùng là khi đi chơi núi hồ rừng nội, bài nói về bạn bè hội họp yến tiệc, ngâm vịnh về cá chim cây cỏ, cảm hứng về sự tích cổ kim, câu ngắn bài dài, văn chương rực rỡ.” Đương thời, ông có tập thơ Tuần Cai biệt thự thi tập. Bài tụng Thị học chép trong ĐNLT và BUCC [2].

16. Hường Sâm (1840? -1883?) tự là Dao Khanh, hiệu là Di Hiên, lúc trẻ thông minh. Chín tuổi đã biết làm thơ, 13 tuổi biết làm văn, đến 20 tuổi xem rộng các sách, tiếng tăm lừng lẫy trong Thi xã. Khi được Ngô Quý Đông tiến cử, ông làm bài thơ Thanh thanh lăng thượng bách, nghị làm tờ thư xin lại đất của quân sĩ sáu tỉnh Nam kì (dùng thể biền ngẫu), viết bài luận Lục luật sư vạn sự căn bản (sáu luật căn bản cho muôn việc)..., vì vậy ông được vua Tự Đức khen là có học và bổ thụ hàm Thị độc. Sau ông được bổ hàm Thị độc học sỹ, Tham biện viện các, cùng Bùi An Niên ứng chế bài thơ Thị các thần. Được vua khen là “tiếng, vần, khí, vị” rất bình đạm. Năm 1883, ông đi sứ nhà Thanh. Sau ông bị Nguyễn Văn Tường, Lê Thuyết buộc tội, truất làm người thường, giam vào ngục rồi bị đánh thuốc độc chết, thọ 44 tuổi. Trước tác có các tập: Di hiên, Hỷ mặc, Trúc lâm, Đạo nam, Bồ sơn nhưng đều thất truyền, chỉ còn hai bài thơ đề bức hoạ Tô Tử đi chơi Xích Bích được chép trong ĐNLT[2].

17. Nguyễn Phước Ưng Phục (? - ?): hiện không rõ hành trạng thế nào. Có lẽ ông là cháu của Miên Thanh, con của Hường Vịnh, anh em với Hường Sai. Tập thơ Thập nhị đầu đà hành oa ngâm thảo của ông được phụ chép trong cuốn Đào Trang tập của Hường Vịnh. Theo như lời ghi về tác giả trong đầu tập thơ, Ưng Phúc là người xuất gia, hiệu Nhất Tâm trụ trì chùa Bảo Lâm (Bảo Lâm tự chủ Ưng Phúc Nhất Tâm trứ). Tập thơ gồm 12 bài thơ, được Như Như Đạo Nhân san định. Theo tư liệu hiện có, chúng tôi chưa biết gì thêm về tác gia này [12].

II. Tình hình văn bản tác phẩm:

Trong số 17 tác giả, có 11 tác giả có thi tập, văn tập riêng, bao gồm: Miên Định (Minh Mệnh cung từ, Minh Tĩnh ai phương thi tập), Miên Bửu (Khiêm Trai thi tập, Khiêm Trai văn tập), Miên Bật (Hân nhiên thi tập), Miên Cư (Cống thảo viên thi), Miên Ngung (Mạn Viên thi tập), Miên Thanh (Duân Đình thi thảo), Hường Vịnh (Đào Trang tập), Hường Sâm (Di hiên, Hỷ mặc, Trúc Lâm, Đạo nam, Bồ Sơn), Hường Y (Tuần Cai biệt thự thi tập), Miên Tuấn (Nhã Đường thi tập, Nhã đường văn tập), Ưng Phúc (Thập nhị đầu đà hành oa ngâm thảo) tổng cộng có 16 tập thơ văn. Tuy nhiên, theo sự tra cứu của chúng tôi (qua [1], [10], [11]), đa số văn bản của các tác phẩm này đã thất truyền, đó là các tập: Minh Mệnh cung từ, Minh Tĩnh ai phương thi tập, Hân nhiên thi tập, Duân Đình thi thảo, Cống thảo viên thi, Di hiên, Hỷ mặc, Trúc Lâm, Đạo nam, Bồ Sơn. Duy có Duân Đình thi thảo của Miên Thanh còn một phần, được chép trong cuốn Đào Trang tập của Hường Vịnh mang tên Duân Đình thi thảo trích lục.

Trong số 17 tác giả, có 6 người không thấy để lại thi tập hay văn tập. Các tác phẩm còn lại của họ có thể coi là những tác phẩm duy nhất. Các tác phẩm này chủ yếu được chép trong BUCC, ĐNLT hoặc được phụ chép trong một số tập thơ của các tác gia hoàng tộc khác. Vì vậy, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu qua về văn bản hai tác phẩm BUCC, ĐNLT cùng với một số tập thơ văn hiện vẫn còn lưu trữ được.

Về văn bản tác phẩm Ngự chế bích ung canh ca hội tập[1]御制辟雝賡歌會集 : khảo sát sự tồn tại văn bản của tác phẩm thấy rằng: hiện nay ở các thư viện ở Hà Nội tồn tại 3 bản: Một bản ở thư viện Quốc gia (bản in), 4 quyển: Quyển thủ: R.1529, 30tr, Quyển I: R. 1530, 41tr., Quyển II: R.1531, 85 tr, Quyển III: R. 1532, 76 tr; khổ 26 x16. Hai bản còn lại ở thư viện của Viện nghiên cứu Hán Nôm. Trong đó, một bản in: A. 150, 458 tr; khổ 26 x16. Một bản viết: VHv.102, 206 tr; khổ 28 x16. Cả 3 bản hiện nay được bảo quản trong tình trạng khá tốt. Hai bản in có in màu son ở phần tựa và ngự chế. Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng cả hai cuốn này đều được in ra từ một ván khắc, nội dung và hình thức không có gì khác nhau. Chỉ có điều cuốn ở thư viện Quốc gia được đóng riêng biệt theo thứ tự từng phần thành 4 quyển nhỏ. Những quyển này bìa đóng giấy cứng, hơi cũ màu nâu đỏ; bên trong in bằng loại giấy dó mỏng, dai. Cuốn ở thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, tất cả các quyển nhỏ được đóng gộp lại trong một quyển lớn, bìa giấy cứng màu trắng ngà đã ngả vàng; bên trong cũng được in bằng loại giấy dó mỏng. Trong từng trang, kết cấu hình chữ nhật có khung viền và dòng kẻ chia các dòng. Tổng cộng 1 trang có 7 dòng, số chữ tối đa một dòng là 18. Chữ in theo thể Khải, tinh xảo và rõ ràng, dễ đọc. [4]

Về văn bản cuốn Đại Nam liệt truyện 大南列傳 : chúng tôi tiếp thu từ [1]. ĐNLT do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) đến năm Thành Thái thứ 17 (1905). In năm Duy Tân thứ 3 (1909). Gồm 4 bản in (85Q), 1 biểu dâng sách, 1 phàm lệ, 1 tổng mục. Gồm các kí hiệu: VHv 1569/1-10: 3800 tr. 31x19; A.35/1=10: 4200 tr. 30x19; A.2771/1-10: 4200 tr.30x19; MF: 1138 & 611 (A.35/1-10); Paris. EFEO.MF.II/2/162 (A.35/1-10).

Về văn bản cuốn Khiêm Trai thi tập 謙齋詩集 : văn bản này theo Nguyễn Khuê trong [3] chỉ còn được lưu trữ tại Viện Khảo cổ Sài Gòn (không biết nay là ở đâu). Đó là văn bản khắc in mang kí hiệu V.22 gồm 655 bài. Khiêm Trai thi tập được Hoà Thạnh quận vương san định và khắc in, trong bản in không thấy đề năm khắc in, gồm 14 quyển tổng cộng 655 bài, cụ thể là Q.1: 39 bài; Q.2: 65 bài; Q.3: 58 bài; Q.4: 21 bài; Q.5: 29 bài; Q.6: 47 bài; Q.7: 37 bài; Q.8: 43 bài; Q.9: 48 bài; Q.10: 52 bài; Q.11: 66 bài; Q.12: 42 bài; Q.13: 62 bài; Q.14: 46 bài. Tờ đầu có đề “Tương An quận vương trứ”. Theo Nguyễn Khuê có lẽ văn bản này được khắc in trong khoảng năm 1878-1883, tức là sau khi Tương An được truy tặng quận vương và trước khi Tuy Lý vương được phong lên tước vương. Về văn chữ Hán, có Khiêm Trai văn tập, gồm 2 quyển, tổng cộng 74 bài, gồm 2 quyển, cụ thể như sau: Q1: 54 bài; Q2: 20 bài. Thơ Nôm của ông rất nhiều, nhưng vì không được khắc in nên một phần đã bị thất truyền. Hiện chỉ còn một số thi phẩm chính là Hoài cổ ngâm, Trăm thương, bài liên ngâm Hoà Lạc ca và 13 bài thất ngôn Đường luật bát cú. Các văn bản Nôm hiện giờ cũng không biết còn hay mất. Chỉ còn một số bản in chữ la tinh của thế kỉ XX như: bản Bửu Cầm, Thái Văn Kiểm [8], Nguyễn Khuê [3].

Về văn bản cuốn Duân Đình thi thảo trích lục 筠亭詩草摘錄 : cuốn này được chép ở đầu cuốn Đào Trang tập (Đào Trang thi thảo) của Hàn lâm viện thị giảng Hường Vịnh Trọng Vĩnh kí hiệu VHv.15 hiện lưu trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Bản VHv.15 dày 254 trang. Nhưng thực chất là đóng gộp hai bản làm một. Bản 1, theo chúng tôi là bản in lần đầu. Bản 2 là bản in lần sau vì có bổ sung nhiều chỗ. Trong bản 1, thơ Miên Thanh có 19 bài. Trong bản 2 có in thêm bài Cung hoạ ngự chế thực ngạc ngư ứng chế. Như vậy, thơ Miên Thanh hiện tại còn 20 bài. Trong đó bài Cung hoạ ngự chế Thuận An bát thập vận thi nguyên vận được chép trong 2 bản của cuốn Đào Trang tập kí hiệu VHv.15 và các bản của ĐNLT.

Về văn bản cuốn Đào Trang tập 桃莊集 : theo [1] ghi: VHv.15 gồm “toàn bộ 8 tập thơ của Hường Vịnh, gồm những bài vịnh cảnh vật, thời tiết, thơ thuật sự, cảm hoài, vịnh sử, thơ thù tặng...”. Theo sự khảo sát của chúng tôi, văn bản VHv.15 không giống như vậy. Như trên đã nói, bản VHv.15 gồm hai bản in ở hai lần in đóng gộp lại. Bản lần một, chỉ có in Duân Đình thi thảo trích lục của Miên Thanh và 6 tập thơ của Hường Vịnh. Bản in lần hai có bổ sung một bài thơ cho tập Duân Đình thi thảo trích lục, ngoài ra còn có thêm 4 tập thơ nữa của Hường Vịnh và phụ thêm tập Lại An thi thảo trích lục 賴安詩草摘錄 (gồm 26 bài thơ) của Hình bộ Thượng thư Nguyễn Bài Vĩnh Cao do Hường Vịnh phụng hiệu, và Thập nhị đầu đà hành oa ngâm thảo của Ưng Phúc. 10 tập thơ của Hường Vịnh trong Đào Trang tập bao gồm:

Đào Trang tập nhất: còn có tên Nghiễn bắc sơn phòng ngâm sao 硯北山房吟鈔 , do Lưu Thuý San tàng bản khắc năm Canh dần, gồm 18 bài thơ.

Đào Trang tập nhị: còn có tên Lô hoa thiển thuỷ đình ngâm sao 蘆花淺水亭吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 16 bài thơ.

Đào Trang tập tam: còn có tên Tiểu Thuý Vân sơn chi sào ngâm sao 小翠雲山之巢

吟鈔 , do Hoa Nam thư ốc tàng bản khắc năm Canh dần, gồm 21 bài thơ.

Đào Trang tập tứ: còn có tên Trú hạc ngâm sao 住鶴 吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 18 bài thơ.

Đào Trang tập ngũ: còn có tên Tam thuý lâm tạ ngâm sao 三翠林榭吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 19 bài thơ.

Đào Trang tập lục: còn có tên Xuân sơn thương thuý nhi tri tiếu hiên ngâm sao 春山蒼翠而知笑軒吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 39 bài thơ.

Đào Trang tập thất: còn có tên Tùng cúc do tồn chi hoá đài ngâm sao 松菊猶存之化臺吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 18 bài thơ.

Đào Trang tập tứ: còn có tên Tiên thuý động tiên ngâm sao 鮮翠洞天吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 47 bài thơ.

Đào Trang hậu tập nhất: còn có tên Cổ Thuý Trai ngâm sao 古翠齋吟鈔 , mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 36 bài thơ.

Đào Trang hậu tập nhị: còn có tên Hạc tiệp sào ngâm sao 鶴睫吟鈔, do Ưng Sai phụng hiệu, mất tờ đầu nên không biết in ở đâu, gồm 18 bài thơ.

Như vậy, Hường Vịnh còn 250 bài thơ được chép trong Đào Trang tập. Trên thực tế, thơ Hường Vịnh có khoảng trên 704 bài thơ.

Về văn bản cuốn Tuần Cai biệt thự hợp tập[2] 循荄別墅合集 hiện còn hai bản lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, bản in kí hiệu A.2985, 4 tập, 608 trang, khổ giấy 27.5x16.5. Bản viết tay mang kí hiệu A.377 gồm 1 tập, 472 trang, khổ giấy 31.5x22.5. Ngoài hai bản trên còn có một bản viết tay hiện được lưu trữ lại gia đình ông Nguyễn Quý Tiết ở thành phố Huế. Chúng tôi chọn bản in để khảo sát tình hình thơ văn của Quân Bác. Cụ thể như sau: văn bản in A.2985 là một bộ sách 4 tập, trong đó: Tập 1: trang đầu tiên đề Tuần Cai biệt thự hợp tập. Kết cấu gồm 1 bài tựa do Miên Trinh viết, thơ ngự chế của vua Tự Đức và một số sáng tác chung của Hường Y Quân Bác và một số nhân sĩ khác, mục lục (sắp xếp các quyển thơ theo số thứ tự, năm sáng tác, liệt kê các thể thơ hoặc thể văn được sử dụng và số lượng bài thơ sử dụng thể loại đó, văn (Tuần Cai biệt thự văn sao) quyển 1 và quyển 2, thơ (Tuần Cai biệt thự thi sao) quyển 1 đến quyển 4.Tập 2: Thơ quyển 5 đến quyển 9. Tập 3: Thơ quyển 10 đến quyển 18. Tập 4: Thơ quyển 19 đến quyển 25. Tuần Cai biệt thự hợp tập kí hiệu A.2985 gồm những sáng tác của của Quân Bác từ năm 1851 đến năm 1876 do con trai ông là Ưng Hinh hiệu Mạnh Minh biên tập, hiệu đính và cho khắc in. [7]

Về văn bản cuốn Nhã Đường thi tập 雅堂詩集 (còn gọi Nhã Trang雅莊 ): theo [1] ghi văn bản mang kí hiệu VHb.7 gồm có: “ 213 bài thơ, ca từ, hành... vịnh cảnh vật, hoa cỏ, thời tiết...”, theo [9] ghi Nhã Đường thi tập gồm có 10 tập. Trên thực tế, theo mục lục của văn bản VHb.7, Nhã đường thi tập gồm có 15 quyển, cụ thể là: Q1: 56 bài; Q2: 41 bài; Q3: 49 bài; Q4: 35 bài; Q5: 33 bài; Q6: 35 bài; Q7: 21 bài; Q8: 28 bài; Q9: 46 bài; Q10: 33 bài; Q11: 26 bài; Q12: 38 bài; Q13: 26 bài; Q14: 23 bài; Q15: 10 bài. Tổng cộng gồm 500 bài. Đây là bản được tăng ấn năm Thành Thái. Phần đầu có phụ chép những bài thơ đề tặng của các anh em và bạn bè, con cháu bao gồm: thơ của Miên Thẩm, Miên Bửu, Miên Tể, Miên Ổn, Miên Bật, Miên Khoan, Miên Ngôn, Miên Kiền, Hường Y, Hường Phi... Bản này còn có Nhã Đường thi sao tự tự của Miên Tuấn do Vĩ Dã phê duyệt. Tuy nhiên, văn bản đã rách nát, một số tờ giấy dó đã rời ra thành từng miếng. Sách đã rách mất từ cuối Q11 đến Q15 (khoảng vài chục trang).

Về văn bản cuốn Thập nhị đầu đà hành oa ngâm thảo 十二頭陀行 窩吟草 xin xem phần giới thiệu về tác giả Ưng Phục.

Để nắm bắt dễ dàng hơn tình hình văn bản tác phẩm của các tác giả, chúng tôi lập bảng thống kê như dưới đây. Bảng thống kê gồm ba cột: cột 1 là thông tin về tên tác giả; cột 2 là thông in về tên tác phẩm, có thể là tên của một tập thơ hay tập văn, cũng có thể chỉ là tên một tác phẩm thơ văn cụ thể, kèm theo số lượng tác phẩm. Cột 3 là thông tin về văn bản tác phẩm, các bài thơ, bài tụng ngự chế của các tác giả, chủ yếu được chép trong hai cuốn ĐNLT và BUCC. Nếu là nguyên tác của tác giả thì chúng tôi ghi số kí hiệu văn bản. Nếu là phụ chép trong tập thơ khác thì ghi cả tên sách ấy cùng số kí hiệu văn bản. Các kí hiệu A, VHv, VHb là kí hiệu của kho sách thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm thì chúng tôi không ghi nơi lưu trữ.






Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu qua một số tác gia hoàng tộc triều Nguyễn và khảo sát văn bản thơ văn còn lại của các tác gia này. Trên thực tế, số lượng tác gia chắc còn lớn hơn nhiều. Theo Nhã Đường thi tập ghi thì còn có những tác gia có thể vẫn tìm thấy tác phẩm như Miên Bật, Miên Ổn, Miên Kiền, Miên Ngôn, Miên Tể, Hường Phi v.v. Tất nhiên, số lượng của các tác gia có thi tập, văn tập cũng không nhiều. Việc sưu tầm lại các văn bản các tác phẩm là một việc làm bước đầu và cần thiết. Giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích toàn bộ các tác phẩm này cũng là một việc quan trọng không kém. Trong tình hình tư liệu hiện có, chúng tôi sơ bộ thực hiện việc giới thiệu tác giả và khảo sát văn bản như trên. Rất mong các nhà nghiên cứu quan tâm, phủ chính.

TRẦN TRỌNG DƯƠNG

địa chỉ: trantrongduonghn@gmail.com

Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 183 Đặng Tiến Đông, Hà Nội.



Tài liệu tham khảo



1. Trần Nghĩa & Francois Gros (đồng chủ biên), Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thư mục đề yếu, Nxb. Khoa học Xã hội.1993

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb.Thuận Hoá, Huế.1997.

3. Nguyễn Khuê, Tâm trạng Tương An quận vương qua thi ca của ông, Trung tâm sản xuất học liệu, 1974.

4. Hoàng Thị Thu Hường, Giới thiệu và tuyển dịch tác phẩm Ngự chế bích ung canh ca hội tập (luận văn tốt nghiệp), Hà Nội.2003

5. Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn Hoá. 1993

6. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Việt Nam, T1, Nxb. KHXH.1971

7. Phùng Minh Hiếu, “Tuần Cai biệt thự hợp tập” (Quyển 10)- Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản và nhận xét về phong cách nghệ thuật (Khoá luận tốt nghiệp), Hà Nội.2004

8. Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế- Di tích- lịch sử- thắng cảnh, Nxb. Đà Nẵng.1994

9. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả- Thuỷ tổ phả- Vương phả- Đế phả­, Nxb. Thuận Hoá, Huế.1995.

10. Trần Trọng Dương, Phan Thị thu Hiền, Vũ Thị Hương, Phạm Thị Thảo, Di sản Hán Nôm Huế- Thư mục đề dẫn (khoá luận tốt nghiệp), Hà Nội.2002.

11. Nguyễn Tô Lan, Sơ bộ khảo sát thư tịch Hán Nôm tại thành phố Huế (khoá luận tốt nghiệp), Hà Nội.2003

12. Nguyễn Phước Hường Vịnh, Đào Trang tập, VHv.15 (Viện Hán Nôm)

13. Nguyễn Phước Miên Tuấn, Nhã Đường thi tập, VHb.7 (Viện hán Nôm)





--------------------------------------------------------------------------------

[1] Phần khảo sát này chúng tôi sử dụng tư liệu trong [4] của tác giả Hoàng Thị Thu Hường. Nhân đây xin được cảm ơn tác giả.

[2] Phần khảo sát này chúng tôi sử dụng tư liệu trong [7] của tác giả Phùng Minh Hiếu. Nhân đây xin được cảm ơn tác giả.