Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012
HỮU NGHỊ DÂN TỘC VIỆT - TRIỀU:TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ - VĂN HÓA
Bài đã đăng trên: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=42&News=5800
Trần Trọng Dương
Quan hệ ngoại giao Việt - Hàn bắt đầu từ năm 1992, trong khi quan hệ ngoại giao Việt - Triều có trước đó 42 năm (1950). Đây là những quan hệ song phương giữa các nhà nước. Tuy nhiên, từ góc độ lịch sử- văn hóa, quan hệ Việt - Hàn và quan hệ Việt - Triều đã hòa nhập trong tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Triều. Mối quan hệ hữu nghị này dài hơn rất nhiều so với mối quan hệ ngoại giao giữa các nhà nước hiện nay. Quan hệ Việt Nam và Triều Tiên thời Trung đại, trước nay vẫn là một đề tài được giới Đông Phương học trong nước cũng như quốc tế quan tâm và triển khai trên nhiều bình diện từ lịch sử cho đến văn học và văn hóa. Bài viết này chủ yếu mang tính chất giới thiệu những thành quả mới nhất trong nhiều năm qua về mối quan hệ đặc biệt này.
1. Việt - Triều trong đối ứng Trung Hoa
Vị trí địa lý hẳn nhiên là một yếu tố tiên quyết cho mối quan hệ Việt- Triều. Việt Nam nằm ở phía Đông Nam, Triều Tiên nằm ở phía Đông Bắc Trung Hoa.
Cái làm nên hằng số văn hóa cho cả hai dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử không gì khác chính là vị trí “sát nách” cận kề với một đại quốc đầy tinh thần bành trướng. Và chính hằng số này đã kéo gần hai dân tộc lại với nhau. Thử điểm lại vài mốc lịch sử quan trọng. Năm 207 tcn An Dương Vương và nước Âu Lạc bị Triệu Đà tiêu diệt, sự kiện này mở đầu cho 10 thế kỷ đấu tranh chống đô hộ phương Bắc tại Việt Nam. Tương đương với thời kỳ đó, vào năm 108 tcn, nhà Hán đem đại quân xâm lược bán đảo phía Đông Bắc, nhà nước cổ Cho Son của Wi Man (Vệ Mãn) bị thôn tính. Ở Việt Nam xảy ra các cuộc khởi nghĩa của hàng loạt thủ lĩnh người Việt như Triệu Thị Trinh, Trưng Trắc, Lý Bí, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng... chống lại các lực lượng quân sự đô hộ. Ở Triều Tiên là các cuộc chiến tranh của các tiểu quốc Koguryo (Cao Cú Lệ), PecChê (Bách Tế) và Shilla (Tân La) chống lại các nhà Hán, Tùy, Đường. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa ở Việt Nam nhanh chóng bị dập tắt, và phải đến thế kỷ X với hàng loạt các nỗ lực của các họ Khúc, Dương, Ngô, Lê thì Việt Nam mới giành được độc lập. Trong khi đó, ở bán đảo Triều Tiên nhà Tùy từng hai lần thất bại trước Koguryo. Và sau đó, nhà Đường bị đẩy lui khỏi bán đảo này bởi nhà nước Shilla vào năm 676. Nhưng những cái tên An Nam đô hộ phủ và An Đông đô hộ phủ mà người Hán đặt đã đi vào lịch sử hai dân tộc như những lời cảnh báo.
Trong giai đoạn Trung đại, cả hai nước đều tồn tại thiết chế trung ương tập quyền. Ở Việt Nam, các triều Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn thay nhau cai trị từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX. Ở Triều Tiên là hai triều đại Koryo (918 - 1392) kéo dài gần 474 năm, triều đại Cho Son (1392 - 1910) kéo dài 518 năm. Cũng trong 1000 năm này, nhân dân Việt - Triều cũng đã nhiều lần tiến hành các cuộc chiến tranh vệ quốc vỹ đại. Nếu như triều Trần 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, thì Koryo (trong vòng 30 năm từ năm 1231 đến năm 1259) cũng có 6 cuộc chiến tranh chống trả đế quốc này, trong đó có những chiến thắng vang dội tại thành Chơ- In năm 1232. Đến năm 1259, nhà Nguyên buộc phải ký hiệp ước giảng hòa. Nếu như triều Tây Sơn làm nên đại thắng quân Thanh vào thời thịnh trị bậc nhất của triều đại này vào năm 1789. Thì Triều Tiên cũng hai lần chiến thắng quân xâm lược từ Mãn Châu vào các năm 1627 và 1636.
Phác qua vài dòng như vậy để thấy lịch sử hai nước Việt - Triều ít nhiều có nhiều điểm tương đối gần nhau qua các chặng đường lịch sử. Nếu so sánh với hàng loạt các quốc gia cổ bị thôn tính, sáp nhập vào lãnh thổ Trung Hoa như Đại Lý, Liêu, Kim, Thổ Phồn... ta sẽ phải đặt ra câu hỏi rằng, điều gì đã khiến cho Việt Nam- Triều Tiên có thể vượt qua những thử thách lịch sử liên quan đến sự tồn vong của dân tộc? Tinh thần quật cường hẳn là một đáp số chung. Nhưng cũng cần phải tính đến ở đây chính là vị trí địa lý đủ xa để các triều đại phong kiến Trung Hoa dù đầy tham vọng nhưng qua nhiều lần cố gắng thì vẫn phải công nhận rằng đây là những mảnh đất “gân gà”- đánh cũng khó mà giữ càng không phải dễ. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên dẫu sao cũng an bình hơn bởi lẽ phía Đông Bắc ngoài Nhật Bản ra thì đó được coi như là ngả cụt của con đường bành trướng. Trong khi đó, Việt Nam nằm ở vị trị trọng yếu ở phía Nam- nối liền với hàng loạt các quốc gia cổ đại như Champa, Phù Nam, Khmer, Xiêm La,... và được coi như là “cửa ngõ” để người Trung Hoa có thể tiếp tục mở rộng tham vọng của mình đến những miền đất mới. Chính vì thế, các cuộc chiến tranh của Trung Hoa dành cho các triều đại ở Việt Nam luôn khốc liệt và có tần số cao hơn. Và mảnh đất này, ở mọi thời điểm, luôn tồn tại như một tiền tuyến chịu mọi phong ba bão táp, là nơi chà đi xát lại của các tham vọng lịch sử.
Và cũng chính từ đây đã có những va đập giữa các nền văn minh, trong đó một mẫu số chung giữa hai dân tộc Việt- Triều là cách ứng xử với nền văn hóa Hán.
2. Cơ tầng bản địa và yếu tố văn hóa Hán hay phương thức sinh tồn
Những cuộc đọ sức giữa các quốc gia thường được thể hiện qua các cuộc chiến tranh vũ lực, và chiến tranh thì chỉ có thời điểm- thời đoạn nào đó. Nhưng cuộc chiến văn hóa để một dân tộc tồn tại thì luôn diễn ra dai dẳng, bền bỉ, nó cần một tầm nhìn viễn kiến và mang tính sống còn. Ở điểm này, cả hai dân tộc Việt- Triều cũng đã có một mẫu số chung để tồn tại, đó là công thức: cơ tầng bản địa kết hợp với yếu tố văn hóa Hán.
Trước một thế lực mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần, hai dân tộc Việt- Triều (cũng phải kể thêm cả Nhật Bản vào đây nữa) đã lựa chọn chính sách song ngữ- song văn hóa trong suốt quãng một ngàn năm: tiếng bản địa được dùng trong đời sống thường nhật, trong các tầng lớp bình dân, và tiếng Hán được sử dụng trong hành chính, thi cử và ngoại giao. Đây chính là yếu tố quan trọng nhất để Việt - Triều được coi như là những nước đồng văn. Nhưng điểm quan trọng ở đây qua bài học của người xưa chính là việc “lấy ngôn ngữ văn tự và văn hóa của người Hán để chống lại mọi sự xâm thực của người Hán”. Cho đến nay, bài học này vẫn được các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore thực hiện một cách nhất quán.
Cũng từ chữ Hán, hai dân tộc Việt - Triều đã xây dựng và phát huy thêm các yếu tố văn hóa bản địa của riêng mình. Vào thời Lý, chữ Nôm đã được người Việt sáng tạo ra trên cơ sở tự hình chữ Hán dùng để ghi chép lại tiếng Việt, và thứ văn tự này cho đến nay vẫn là hệ thống chữ viết duy nhất do chính người Việt sáng tạo trong lịch sử[1]. Trong khi đó, ở Triều Tiên là chữ Hangưl - một loại văn tự do vua Thế Tông (Sejong) và các triều thần sáng tạo và đưa vào sử dụng từ năm 1446 qua tác phẩm Huấn dân chính âm. Cũng từ đó, văn chương truyền thống của Việt Nam và Triều Tiên chia làm hai dòng chính là văn chương Hán văn và văn học bản ngữ (ở Việt Nam là văn học chữ Nôm, ở Triều Tiên là văn học chữ Hangưl). Việc sử dụng chung chữ Hán đã khiến cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Có thể thấy điều này qua các đánh giá của sứ thần hai bên, cũng như lời nhận định của Minh Mệnh năm 1840 coi Triều Tiên cũng là một nước văn hiến[2] giống như Việt Nam. Như thế, văn tự Hán và văn hiến được coi như là một công cụ của chính trị của ngoại giao, nó là công cụ để hiểu rõ người Hán và chống lại mọi mưu đồ của người Hán.
Tác phẩm Phật thuyết (tk XII) đan xen Hán và Nôm.
Văn bản Huấn dân chính âm (tk XV) đan xen Hán và Hangưl.
3. Những mốc son trong quan hệ dân tộc Việt – Triều
Có thể nói rằng, trong suốt dọc dài lịch sử, các triều đại phong kiến của cả hai nước Việt - Triều gần như không có mối quan hệ bang giao, thương mại chính thức nào bởi lẽ khoảng cách địa lý cùng với hạn chế của điều kiện giao thông. Thế nhưng, từ những đoạn sử rời, chúng ta còn lần ra được những mốc son trong quan hệ giữa hai dân tộc Việt - Triều.
Năm 1958, Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm miền Nam Việt Nam. Trong dịp này ông đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Thông tin này khiến cho các nhà sử học giật mình. Liền ngay sau đó, các nghiên cứu được đào sâu để vén lộ bức màn huyền bí của lịch sử. Nhân vật thủy tổ của dòng họ Lý trên đất Triều Tiên lạ lùng thay lại chính là Kiến Bình Vương Lý Long Tường một vị hoàng thân triều Lý của đất Việt, con thứ sáu của vua Lý Anh Tông (1138-1175). Vào đầu thế kỷ XIII, Lý Long Tường cùng thuộc tướng và những người trong họ tộc đã di cư sang Cao Ly để thoát khỏi sự truy sát của nhà Trần. Hiện nay, con cháu các chi họ Lý vẫn đang định cư tại Hoàng Hải, Hán Thành và Đông Hỏa, ở cả hai nước Triều Tiên và Hàn Quốc. Tại đây, dòng họ Lý vẫn còn bảo lưu được các địa danh cổ của tổ tiên như cửa sông Phú Lương (huyện Bồn Tân)- nơi Kiến Bình Vương cập bến, địa danh Ung Tân- nơi họ Lý định cư cắm đất dựng nhà, đồi Julhang nơi có lăng của Kiến Bình Vương, Vọng Quốc đài tại Quảng Đại sơn- nơi vương đứng ngóng mỗi khi nhớ về quê hương. Theo các tư liệu Hán văn hiện còn như Hoa Sơn Quân bản truyện, Hoa Sơn Lý thị tộc phả, Cao Ly sử còn có nhiều thông tin về nhân vật này. Văn bia Thụ Hàng môn kỷ tích bi ghi : « Năm Bính Tuất niên hiệu Bảo Khánh (đời Tống), trong nước có loạn, việc thờ cúng tổ tiên ở nhà tông miếu bị hủy bỏ. Ông là chú vua, khóc ở miếu Nam Bình rồi đem các đồ thờ ở bàn thờ tổ tiên chạy về phía Đông… Ông vượt biển đến sông Phú Lương huyện Bồn Tân nước Cao Ly, ẩn ở Trấn Sơn tại phía Nam phủ thành, đặt hiệu là Vi Tử động». Văn bia này cũng ghi, Lý Long Tường được coi là anh hùng của nước Cao Ly trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông vào năm 1253, ông được vua Cao Ly phong làm Hoa Sơn Quân, ban 30 dặm đất, lập biển ghi công trạng, cho làm thái ấp để phụng thờ tổ tiên và con cháu đời đời được nhập tịch ở Hoa Sơn. Con cháu Kiến Bình Vương Lý Long Tường hiện nay sống ở cả Triều Tiên và Hàn Quốc, riêng ở Hàn Quốc có khoảng 200 hộ với trên 600 người. Gia phả dòng họ ghi chép 32 đời kể từ đời Lý Thái Tổ, trong đó 6 đời ở Việt Nam và 26 đời ở Hàn Quốc[3].
Trung Hiếu đường do hậu duệ Lý Long Tường xây theo kiểu kiến trúc mái đình Đại Việt tại Bong-hwa (Hàn Quốc)
Thụ hàng môn tại Hoa sơn, Bắc Hàn
Theo nghiên cứu của giáo sư Pyon Hong Kee (Phiến Hoàng Cơ) cho biết: dựa trên gia phả dòng họ mang tên Tinh Thiện Lý thị tộc phả được tàng trữ tại thư viện Quốc gia Seoul, ông đã phát hiện thêm một dòng họ Lý gốc Việt thứ hai thường gọi là Lý Tinh Thiện mà ông tổ của dòng họ này là Kiến Hải Vương Lý Dương Côn- hoàng tử (con nuôi)[4] của vua Lý Nhân Tông đã sang Cao Ly từ đầu thế kỷ XII. Theo Cao Ly sử, cháu đời thứ 6 của Lý Tinh Thiện là Lý Nghĩa Mân (Lee Ui Min) được vua Cao Ly là Nghị Tông (Ui Jong, 1146- 1170) phong làm Biệt tướng, sau đó khi làm phụ tá cho Lý Trọng Phu, ông còn được phong làm Trung lang tướng, Tướng quân, Đại tướng quân (1173), Thượng tướng quân (1174), Tây Bắc lộ binh mã sứ (1178). Đến đời vua Minh Tông, ông được phong làm Tư không tả bộc xạ, rồi Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự nắm quyền như Tể tướng Cao Ly trong 6 năm (1190- 1196). Sau đó, ông và ba con trai bị phái Thôi Chung Hiến (Choi Chung Heon) sát hại để đoạt quyền. Dòng họ Lý tại Tinh Thiện (thuộc đạo Giang Nguyễn, Hàn Quốc ngày nay) sau đó được nối kế bởi một người chú của Lý Nghĩa Mân[5].
Hình : ông Lý Xương Căn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh TT&VH
Còn theo con số thống kê tổng thể, thì hiện nay có khoảng 3600 người là hậu duệ của hai nhánh nhà Lý đang sinh sống tại Hàn Quốc[6]. Con cháu họ Lý, từ năm 1994 đến nay, đã nhiều lần về thắp hương cho tổ tiên tại Bắc Ninh, và họ là những thành viên chủ chốt của Hội giao lưu văn hóa Hàn- Việt. Đặc biệt, năm 2010, nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long, ông Lý Xương Căn và gia đình, đã chính thức được nhập tịch trở thành công dân Việt Nam [7]. Cũng nhân dịp này, cuốn tiểu thuyết lịch sử « Hoàng thúc Lý Long Tường » của tác giả Khương Vũ Hạc (xuất bản năm 1967 tại Hàn Quốc) đã được tái bản lần thứ hai tại Việt Nam. Ước nguyện hồi hương sau 800 lưu lạc đã trở thành hiện thực. Ông Căn cùng với những người con dòng họ Lý đang viết tiếp những trang sử hữu nghị giữa hai dân tộc.
Hình 3: Sách Cao Ly sử
Ngoài hai dòng họ Lý trên, giới nghiên cứu còn đề cập đến dòng họ Mạc – hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi (1293-1324) ở Cao Ly. Có một số nguồn thông tin cho biết, Mạc Đĩnh Chi từng được vua Trần Anh Tông cử đi sứ sang nhà Nguyên, trong thời gian này ông gặp được một vị chánh sứ của Cao Ly và trở thành đôi bạn tâm giao, nhiều lần cùng nhau xướng họa thơ văn. Sau đó, Mạc Đĩnh Chi được mời sang thăm kinh đô Hán Thành của Cao Ly, ở đây ông đã lấy một người cháu gái của sứ thần Cao Ly nọ và sinh được một trai một gái. Đây chính là thủy tổ của họ Mạc ở Cao Ly. Rất tiếc cho đến nay, chúng tôi chưa từng được tiếp cận sử liệu gốc của những thông tin trên. Tuy nhiên, theo Lê Khắc Hòe, năm 1926, ông đã từng gặp một hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi- đang trên đường hồi hương về Hưng Yên tìm lại nguồn gốc họ tộc. Theo như lời kể của hậu duệ 20 đời của họ Mạc Cao Ly, người con trai của Mạc Đĩnh Chi làm quan võ, sinh được 12 người con: 8 trai, 4 gái… Ngành trưởng này phần đông là người giàu có, làm nghệ thương nhân. Ngành thứ, sau này sinh ra nhiều nhân tài có những đóng góp nhất định cho lịch sử văn hóa Cao Ly. Ông cũng khoe rằng, ông thuộc thế hệ ngành trưởng, thân ở Cao Ly mà hồn ở Việt Nam. Cao Ly là nơi chôn rau cắt rốn nhưng đất Việt mới là quê cha đất tổ. Hồn thiêng sông núi đất Việt luôn luôn gọi ông trở về[8].
Mặc dù, những thông tin trên chưa thực sự được kiểm định bằng các sử liệu khả tín. Song nó có ý nghĩa gợi mở lớn cho những hợp tác khoa học giữa hai dân tộc trong thời gian tới. Không chỉ thế, nhiều hiện tượng văn hóa tương đồng, cho đến nay vẫn còn là một đề tài để ngỏ đầy thú vị. Ví dụ như, Truyện Nàng Xuân Xương (- một truyện cổ tích Việt Nam sao có nhiều tình tiết với Truyện Xuân Hương của Triều Tiên đến vậy ? Hay như, có dư luận cho rằng nhạc điệu của ca trù có những tương tự về làn điệu như một số loại hình âm nhạc truyền thống của Triều Tiên? Liệu chúng có liên quan, ảnh hưởng gì đến nhau trong lịch sử?[9] Câu trả lời vẫn ở phía trước.
4. Danh nhân Việt- Triều: tình anh em bốn bể
Như trên đã viết, các triều đại phong kiến Việt- Triều chưa từng có quan hệ bang giao chính thức. Song, qua các đợt ngoại giao với các triều đại Trung Hoa tại Yên Kinh, các sứ thần hai nước đã nhiều lần gặp gỡ, xướng họa với nhau trên đất Trung Hoa. Mối quan hệ thuần túy học thuật, thuần túy thi ca này khiến chúng ta có thể đi đến nhận định rằng tình hữu nghị dân tộc Việt- Triều là một mối quan hệ hữu nghị thuần khiết và thanh tao. Theo thống kê hiện nay, tổng cộng số thơ văn xướng hoạ giữa sứ thần hai nước (từ đợt tiếp xúc Phùng Khắc Khoan- Lý Túy Quang năm 1597 đến chuyến đi sứ của Nguyễn Tư Giản- Nam Đình Thuận năm 1868 tính ra là 371 năm) đã có trên dưới 10 lần hai đoàn sứ bộ Việt Nam - Hàn Quốc gặp nhau xướng hoạ ở Yên Kinh với 33 sứ thần - tác gia, (Việt Nam: 12 người, Hàn Quốc: 21 người) và 92 bài thơ, văn (thơ: 81 bài, văn: 11 bài)[10]. Nếu tính cả đợt đi sứ của Mạc Đĩnh Chi thì các con số có lẽ còn khác nữa. Các tác phẩm này được chép trong hàng chục tập thơ hiện còn lưu trữ được tại Việt Nam (chủ yếu tại Viện NC Hán Nôm) và Hàn Quốc, Triều Tiên.
Vài chục tác giả còn lại thi văn xướng họa với nhau đó là những đại biểu tinh hoa, những trí thức hàng đầu của hai dân tộc. Như ta biết, sứ giả thời xưa đều phải là những người tài năng lỗi lạc, khoa bảng đứng đầu, họ giữ những chức vị trọng yếu trong triều đình, và khi đi sứ họ cần phải có đủ cả tài năng, chí khí, để thể hiện “phương diện quốc gia”, trong đó “đặc biệt phải lầu thông kinh sử, uyên thâm Hán học, cái vốn tri thức cần thiết trong bối cảnh quan hệ bang giao giữa các nước đồng văn”[11]. Chúng ta có thể liệt kê ra đây một số danh nhân tiêu biểu của Việt Nam như: Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Tông Quai, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đề, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tư Giản,... và các danh nhân của Triều Tiên như Lý Toái Quang, Du Tập Nhất, Hồng Khải Hy, Lý Hiệu Lý, Từ Hữu Phòng, Nam Đình Thuận,... Những sứ giả- nhà thơ này đã viết nên những trang sử hữu nghị thấm đẫm chất văn chương và tinh thần học thuật giữa hai dân tộc Việt- Triều, trong nó điểm nổi bất nhất được thể hiện qua từng câu thơ ấy chính là tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”:
古云四海皆兄弟
相濟同舟出共車
Xưa rằng: bốn bể anh em,
Chung thuyền cùng giúp, chung xe cùng ngồi
Câu thơ trên của Phùng Khắc Khoan là dành tặng cho Kim Tiêu Dật sĩ (Triều Tiên). Trong cuộc gặp gỡ năm 1597 này, Phùng Khắc Khoan cùng với các sử thần Triều Tiên đã có đến trên 30 tác phẩm bút đàm, trao đổi học thuật. Theo đánh giá của Gs Bùi Duy Tân, cuộc gặp gỡ này được coi như là mốc son mở đầu trong lịch sử hữu nghị Việt- Triều.
彼 此 雖 殊 山 海 域
淵 源 同 一 聖 賢 書
Núi sông tuy đó đây có khác,
Nguồn sâu cùng một sách thánh hiền. (Phùng Khắc Khoan)
Hoặc như: 我 居 東 國 子 南 鄉
文 軌 由 來 共 百 王
Tôi ở nước Đông, ông nước Nam,
Lịch triều văn hiến vốn sánh ngang. (Lý Toái Quang)
Các trạng nguyên- thi sĩ này cũng tỏ rõ sự hữu hảo cũng như hiểu biết về đất nước của nhau qua những áng thơ văn. Sứ giả Cao Ly Lý Tuý Quang từng có những ghi chép như sau về con người và đất nước Đại Việt: "Chuyến đi có 23 người đều vấn búi tóc. Người cao quý thì nhuộm răng, người thấp kém thì mặc áo ngắn đi chân không... Nơi nằm thì phải ở trên giường không có hầm sưởi, ăn uống giống như người Trung Hoa..., ăn mặc phần nhiều là the lụa, không mặc gấm vóc và áo bông. Dáng người đại để sâu mắt, thấp bé... tính nết hiền lành, có biết chữ biết viết, thích tập múa kiếm..." hay “tôi nghe nói Giao Châu là nơi cực Nam, có nhiều của lạ châu báu, vàng, ngọc lâm lang, đồi mồi, ngà voi, tê giác. Thế cho nên cái khí tinh anh trong lành đặc biệt chung đúc ở đó, có người tài sinh ra ở đấy, há chỉ những của lạ mà thôi đâu”. Đặc biệt là đối với Phùng Khắc Khoan, Lý Tuý Quang miêu tả khá tỉ mỉ: "Sứ thần họ Phùng, tên là Khắc Khoan, tự hiệu là Nghị Trai, tuổi ngoài 70, hình dáng kỳ lạ, răng nhuộm đen, tóc vận thành búi, áo dài, ống tay rộng, khăn đội trên đầu thì lấy cả khổ vải đen trùm lên đầu như dáng khăn ông sư, để một nửa rủ về đằng sau xuống quá vai. Ông họ Phùng tuổi tuy đã già nhưng sức còn khoẻ, thường đọc sách viết sách luôn luôn". Những ghi chép trên cho thấy sứ giả Cao Ly rất trọng thị đối với Trạng Bùng của Đại Việt.
Vào thời Lê trung hưng, Lê Quý Đôn sau khi có tiếp xúc với sứ Cao Ly đã viết mấy lời trong sách Kiến văn tiểu lục như sau: “Nước Cao Ly về thời Đường thuộc An Đông đô hộ phủ... Người dân hiền lành cẩn thận, ham đọc sách, thạo văn học, trọng nghi lễ. Sứ thần nước Việt ta trong thời gian đi sứ Bắc Kinh, cùng với sứ nước họ có qua lại, tặng thơ xướng họa cho nhau... bày tiệc bút đàm, càng tăng thêm tình hữu hảo, sau khi về quán, lại sai 2 vị thiếu khanh mang thổ sản đến tặng”. Sau đó, các sứ giả Triều Tiên có thư lại cảm ơn và biếu tặng sản phẩm đặc biệt của Cao Ly là quạt giấy[12]. Sách Đồng văn vựng khảo bổ biên có phần chép của Chánh sứ Hồng Khải Hi và Phó sứ Triệu Vinh Tiến về phong tục tập quán nước ta như sau: “Nước An Nam, Nam Chưởng (quan lại nước Nam) đã có chế độ về mũ áo. Người An Nam lấy lụa mỏng làm mũ áo, hơi giống với nước ta. Chỉ có điều họ búi tóc. Nam Chưởng vốn là đất cũ của họ Việt Thường, họ lấy tơ vàng làm mũ áo, chế độ rất khác thường. Mũ làm bằng gấm vàng như Thác Tử (đeo thêm một đoạn đuôi), trang điểm thêm vàng để rủ ra phía sau, tóc buông như người An Nam. Cách ăn mặc của người phương Nam đại thể khác xa như thế.”
Các nhà thơ- sứ giả hai nước cũng “tranh thủ” giới thiệu về văn hóa và sản vật quê hương mình. Trong đó, có nhiều câu thơ hay đã đi vào lịch sử của hai dân tộc. Ví như đoạn thơ sau đây của Phùng Khắc Khoan:
閭巷 開 書 墊
旗亭 賣 酒 船
雨晴 添 象 跡
風暖 送 龍 涎
thôn xóm mở ra trường lớp học,
tửu lâu rượu đế chất đầy thuyền.
mưa tạnh chân voi in lối vắng,
gió nồng thổi dậy vị long diên.
Hay đôi câu thơ:
傘圓概似松山秀
鴨錄應同珥水長
Xanh tốt Tùng Sơn ngang núi Tản,
Đua dài sông Áp sánh sông Hồng
Có thể nói, thơ văn xướng họa xung quanh những chuyến tao ngộ giữa các sứ giả Việt- Triều đều là các tác phẩm ngôn từ có sức lay động mạnh mẽ. Các tác phẩm ấy đều được viết bằng tiếng Hán- quốc tế ngữ vào thời bấy giờ, nhưng vẫn đậm đà phong vị dân tộc Việt- Triều. Quả đúng như lời thơ của Nam Đình Thuận (Triều Tiên) đã viết: “núi sông tuy có khác, bút mực cũng như nhau” (san hà ưng hữu dị, hàn mặc tư tương đồng). Đường đi sứ của những danh nhân đồng thời cũng là con đường thơ ca- con đường của mối quan hệ hòa hiếu. Và các sứ giả- các thi nhân tài hoa đồng thời cũng là sứ giả bang giao hữu nghị ngàn đời giữa hai dân tộc[13].
[1] Trần Trọng Dương. Phật thuyết có phải là bản dịch ở thế kỷ XII?. Tạp chí Ngôn ngữ. 4 (2011), 31-48.
[2] Murasova G.Ph. Quan hệ Việt Nam- Triều Tiên trong các thế kỷ XVII-XIX. M. 1973. tr.126 [Chuyển dẫn. N. Niculin. Quan hệ văn học Việt Nam- Triều Tiên cuối thế kỷ XVI- giữa thế kỷ XVIII. Lưu Liên dịch. Tc Văn học. 2-1987. tr. 78.
[3] Phan Huy Lê. tb 2011. Họ Lý Hoa Sơn- Một họ Lý gốc Việt ở Hàn Quốc. Trong “Tìm về cội nguồn”. Nxb. Thế giới. H. tr.1023-1029.
[4] Ông là con đẻ của Sùng Hiền hầu- một tông thất của nhà Lý.
[5] Chuyển dẫn theo Phan Huy Lê. tb 2011. Họ Lý Tinh Thiện- một họ Lý gốc Việt mới phát hiện ở Hàn Quốc. Trong “Tìm về cội nguồn”. Nxb. Thế giới. H. tr.1030-1034.
[6] Phan Hiển. Thêm một chi thuộc dòng họ Lý ở Hàn Quốc tìm về Việt Nam. http://dantri.com.vn
[7] Kate Jellema. 2007. Returning home: Ancestor Veneration and the Nationalism of Đổi Mới Vietnam. Modernity and Re-Enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam (Philip Taylor edited). Institute of Southeast Asian Studies. Singapore. P. 80- 89.
[8] Lê Khắc Hòe. An Nam tạp chí số 4, tháng 8/ 1926, trang 14 -17. Chuyển dẫn theo Vũ Hiệp. Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi có hậu duệ ở Cao Ly từ thế kỷ XIV đến nay? Nghiên cứu Lịch sử số 2 (285)- 1996, tr. 76-81). Xem thêm Người Việt Nam ở Triều Tiên và mối giao lưu văn hoá Việt – Triều trong lịch sử. Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Hà Nội. 1997, tr.75- 82.
[9] Bùi Duy Tân. 2005. Tứ hải giai huynh đệ: Những cuộc tao ngộ sứ giả- nhà thơ Việt- Triều trên đất nước Trung Hoa thời Trung đại. trong “Theo dòng khảo luận văn học Trung đại Việt Nam”. Nxb. ĐHQGHN. Tr.244.
[10] Lý Xuân Chung. Nghiên cứu, đánh giá thơ văn xướng họa của các sứ thần hai nước Việt Nam - Hàn Quốc (Luận án Tiến sĩ). Viện Nc Hán Nôm. Hà Nội. 2009.
[11] Bùi Duy Tân. 2005. bdd. Tr.250.
[12] Shimizu Taro. Cuộc gặp gỡ của sứ thần Việt Nam và Triều Tiên ở Trung Quốc trọng tâm là chuyện xảy ra trong thế kỷ XVIII. Lương Thị Thu dịch, Nguyễn Thị Oanh hiệu đính, TC Hán Nôm, 3/2001.
[13] Lời của cố Gs. Bùi Duy Tân. 2005. bdd. Tr. 279.
Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012
để con người trở thành chủ thể văn hóa
Bản cứng đã đăng trên Tia Sáng mang tên "Chai rượu văn hóa",
và tải lại trên website:
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5761&CategoryID=41
Nay in lại nguyên bản ở đây, với tên cũ.
Trần Trọng Dương
Bấy lâu nay khẩu hiệu giữ gìn và phát huy văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc luôn xuất hiện trong mọi bài viết, công trình nghiên cứu. Nhưng hình như khẩu hiệu này chỉ thực thi trong các ban ngành, trong các cơ quan hữu trách về văn hoá thông qua các hoạt động festival, lễ hội văn hoá, giao lưu văn hoá; tức là văn hoá truyền thống chỉ được tái hiện một phần nào đó thông qua các diễn viên, và mang tính biểu diễn cho quần chúng và bạn bè quốc tế thưởng lãm. Còn những người đến xem chỉ là …người đến xem, tức là họ được coi như là khách thể văn hoá. Giữ gìn bản sắc, theo chiều sâu, phải là sự tái dụng văn hoá truyền thống trong đời sống thường nhật của con người. Tức là biến những vị khách (vốn là những người chủ của văn hoá kia) trở về với đúng vị trí của mình. Để thực hiện được công việc này, nhà nước cần phải có những chính sách, hệ thống pháp lý, có những chiến lược đào tạo chủ thể văn hoá. Và dĩ nhiên, trước đó, các nhà nghiên cứu phải hoạch định rõ các yếu tố văn hoá truyền thống nào là bản sắc, là của riêng Việt Nam, là những yếu tố cần thiết cho nền văn hoá đương đại.
1. Thực trạng của chủ thể văn hoá hiện
Xã hội Việt Nam truyền thống đã có những biến động rất lớn kể từ khi Pháp đến. Người Pháp mang theo văn hoá và khoa học (kỹ thuật cũng như nhân văn) của Phương Tây. Người Việt lần đầu tiên phản tư và đặt ra sự so sánh với một nền văn hoá khác ngoài Trung Hoa. Có người nhận thấy rằng, cho dù có so sánh với nền văn hoá nào đi chăng nữa thì Việt Nam vẫn là biểu hiện của một nền văn hoá nhược tiểu/ thiểu, sự thực chưa hẳn đã là như vậy. Chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai hoá trên nhiều phương diện. Để dễ bề cai trị, từ năm 1869 đến 1919, Pháp lần lượt ban hành các đạo luật G.Ohier, J.Lafont, Le Myre de Villers và Albert Sarraut nhằm “diệt Hán - Nôm, hưng quốc ngữ”[i], nhằm tách dân chúng ra khỏi tầng lớp Nho sĩ, cô lập Đại Nam với các nước đồng văn và quan trọng nhất là “biến những đứa trẻ Annam trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” [trích lời Toàn quyền Paul Bert 1886][ii]. Tuy nhiên, phải nói một cách công bằng rằng người Pháp gần như không có những chính sách tiêu diệt văn hoá bản địa, mà ngược lại, văn hoá truyền thống vẫn được bảo lưu trong hệ thống làng xã và được người Pháp nghiên cứu khá chi tiết. Mặt khác, người Pháp đã tạo nên một thế hệ những trí thức Tây học trên cơ sở văn hoá bản địa. Nhiều người nói, đây là thế hệ một đi không trở lại trong lịch sử của trí thức Việt Nam.
Năm 1945, chữ quốc ngữ chính thức là thứ văn tự duy nhất của quốc gia. Chữ Hán, chữ Nôm biến mất khỏi hệ thống giáo dục và đời sống sau 2000 năm hiện diện trên mảnh đất văn hiến. Có thể coi đây là bước ngoặt lớn thứ hai về văn hoá, kể từ đợt tiếp xúc của cơ tầng Đông Nam Á với Trung Hoa. Tầng lớp trí thức Tây học trở về nước, nhưng do điều kiện này nọ họ chỉ có thể đóng góp ở mảng này hay mảng khác với mức độ nhất định. Trong suốt mấy chục năm chiến tranh, văn hoá truyền thống (lễ hội, di tích, thư tịch, phong tục tập quán…) bị biến mất, biến dạng nhanh và nhiều đến mức không thể kể hết được và đến nay vẫn chưa có ai thực hiện việc thống kê xem văn hoá truyền thống Việt Nam từng có những gì, đã mất những gì, cái gì cần giữ lại, cái gì cần phát huy. Mọi cố gắng của các nhà nghiên cứu hay của các nghệ nhân chỉ là tự phát trong vòng hai ba chục năm trở lại đây. Mặt khác, không ít các nhà nghiên cứu khi bảo tồn văn hoá lại luôn coi mình là kẻ đứng trên và đứng ngoài đối tượng nghiên cứu. Nghệ nhân chỉ là tư liệu khảo sát! Các dự án bảo tồn là để giải ngân. Cho nên, kết quả là khá méo mó so với thực tế. Hai mươi năm nay, các lễ hội cổ truyền được phục dựng ở khắp nơi bởi các nhà đạo diễn văn hoá quần chúng từ cấp địa phương đến cấp quốc gia. Sân khấu hoá và rập khuôn lễ hội là tình trạng phổ biến. Trong khi ngàn vạn tài liệu thư tịch về hương ước và lễ tục làng xã vẫn nằm chết cứng trong các thư viện của nhà nước và đang mục nát trong dân gian.
Thế hệ già 70-80 ra đi, mang theo những nét văn hoá cũ. Thế hệ trung niên, đã quá vất vả vì chiến tranh và đói kém triền miên, không mấy người quan tâm đến việc cha ông mình vốn là chủ thể của nền văn hoá gì. Giờ đến 8x và 9x, sự đứt rễ quá lâu và quá xa khỏi văn hoá truyền thống, khiến thế hệ trẻ không biết mình đến từ đâu, vì thế cũng nhiều khi không xác định được mình sẽ đi đâu. Họ không nhận thức được rằng mình đang là, sẽ là những chủ thể của nền văn hoá như thế nào. Việc nhuộm răng của một hoạ sĩ 7x, được toàn bộ cộng đồng coi như là hành động lạc lõng và quái dị. Thanh niên ăn trầu chỉ là thử cho vui. Các làng nghề chạy theo thương mại mà bỏ bê (hoặc chuyển đổi) sản xuất các mặt hàng truyền thống. Lễ tục giản thiểu tối đa cho tiện dụng. Mọi nhà cắm cờ thay vì trồng cây nêu. Ăn bánh chưng rán ngoài hàng thay cho gói ghém và nấu nướng. Các loại quán xá thì được dịp tung hô quảng cáo và tận dụng hai chữ “bản sắc”, nào là Hồn Việt, nào là Bún Ta, hay nữa là Bia Đại Việt. Bóng đá thể thao thì gióng trống khua chiêng cổ động bằng cách hô khẩu hiệu “tinh thần Việt Nam”, “vì màu cờ sắc áo”. Sự tự hào dân tộc thường chỉ được lấp ló trong những khoảnh khắc chiến thắng của thể thao hay núp sau tà áo dài hoa hậu. Giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế loanh quanh cũng chỉ là ca múa nhạc của các diễn viên. Tà áo dài được cách tân và cải biến, tính mỹ học cao hơn; song ngoài Huế thì ở các nơi khác tà áo dài đã trở thành trang phục biểu diễn, hay lễ nghi thuần tuý. Sang lắm như tranh Đông Hồ, mang đi triển lãm khắp nơi trên thế giới, nhưng chỉ là những nét khắc ngờ nghệch, chữ nghĩa thậm xấu và sai chính tả đến mức không thể chấp nhận được, đề tài phần lớn là của tranh Tàu (trừ Hứng dừa và Đánh ghen). Chỉ có số rất ít nghệ nhân (như ông Nguyễn Đăng Chế,…) làm lụng với tư cách cá nhân với tấm lòng yêu nghề. Còn các quan tâm đầu tư khác của nhà nước thường dừng lại ở việc “cho đi cùng”. Nâng cao chất lượng nghệ thuật tranh Đông Hồ ra sao thì chưa thấy. Nhưng ở nhà trường, học sinh vẫn học suông mấy chữ “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” một cách hồn nhiên mà chưa bao giờ được hỏi: “làm thế nào để tạo nên màu dân tộc ấy?”.
Hình: Đánh ghen, chữ thậm xấu.
2. Để con người trở thành chủ thể văn hoá
Dĩ nhiên, việc trau dồi văn hoá cổ truyền chỉ là một cạnh khía trong sự nghiệp trăm năm của một đất nước. Nhưng thiết nghĩ, hun đúc tình yêu dân tộc không chỉ đơn thuần ở việc ngợi ca non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc được[iii]; lại càng không thể kêu gọi, hô hào hay ép buộc con em phải yêu nước. Tình yêu bao giờ cũng cần được nuôi dưỡng, nhất là tình yêu dân tộc. Nuôi dưỡng bằng cách nào? Bằng cách, người lớn phải yêu dân tộc. Tình yêu ấy phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thường nhật, liên tục với số lượng đông đảo của chủ thể, chứ không phải bằng những sáo ngữ cũ mòn. Đó chính là hành vi “thân giáo” (giáo dục bằng chính hành động của thày)-phương pháp giáo dục của Nho gia mà Khổng Tử đề xướng. Phương pháp này không ép buộc mà hoàn toàn tôn trọng vào sự chọn lựa của người học. Nó tương đồng với “nguyên tắc tự do của chủ thể” trong triết học giáo dục của Éric Plaisance và Gérard Vergnaud[iv]. Như thế, mỗi một người lớn là một thày cô giáo, mỗi một gia đình là một ngôi trường. Và ngược lại, mỗi thày cô giáo lại là một chủ thể văn hoá, mỗi mái trường là một mái ấm gia đình, để con người tự do trong tình yêu nhỏ, tình yêu nhỏ sẽ góp nên những tình yêu rộng lớn hơn.
Đối với trẻ em, việc xác lập tình cảm và hứng thú thường là rất dễ dàng nếu có cách truyền thụ hợp lý. Cách truyền thụ văn hoá hữu hiệu nhất chính là biến các em thành chủ thể. Thế nào là chủ thể văn hoá? Chủ thể là người được đích thân tham gia vào các hoạt động văn hoá, từ các hoạt động văn hoá ấy chúng sẽ nảy sinh những tình cảm và lựa chọn những yếu tố nào phù hợp nhất với tư chất của chúng. Đương nhiên, một con người hiện đại là người tích hợp của nhiều nền văn hoá, và đây cũng chính là một trong những mục đích của nền giáo dục hiện đại. Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học là cơ quan văn hoá hoạt động hiệu quả nhất về phương diện này. Bảo tàng đã kết hợp được với một số trường học, đưa học sinh đến học ngoại khoá. Học sinh đến đây sẽ được đích thân nhuộm vải, in tranh Đông Hồ, học đan lát, học cách in hoa văn bằng sáp ong của người Hmông, cách nhuộm ikat của người Thái, cách thêu của người Việt, tập khâu vá, cắt may, tập làm búp bê giấy, búp bê vải,[v]... Việc đào tạo như vậy không có nghĩa là kéo lùi những kiến thức khoa học hiện đại của trẻ mà thực chất đó chính là những hoạt động nhằm giúp các em nhận thức về văn hoá, và được tham gia vào đó với tư cách của một thành tố văn hoá.
Để đảm bảo yếu tố bản sắc và đa dạng văn hoá của các dân tộc, sẽ phải có những cách thức riêng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Nhưng, đối với các dân tộc thiểu số, tốt nhất là nên dạy song ngữ (tiếng bản tộc và tiếng Việt). Các em phải nhận thức được rằng, giá trị của văn hoá là ở chỗ khác nhau. Mọi ngôn ngữ và văn hoá đều là đáng quý và cần bảo lưu. Bởi một dân tộc không còn là mình nữa khi dân tộc ấy cứ nói theo thứ tiếng và chữ viết của dân tộc khác. Tình trạng a dua, học đòi theo người Kinh là nguy cơ lớn nhất đối với văn hoá dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các trường dân tộc nội trú hiện nay vẫn chủ yếu tập trung dạy các môn văn hoá y như chương trình ở dưới xuôi. Ý thức về văn hoá dân tộc mình trong tương quan với dân tộc khác (ít nhất là với văn hoá Kinh) là một cách “giáo dục về hoàn cảnh con người”. Bộ giáo dục dường như chưa từng để ý đến vấn đề đưa văn hoá bản địa vào trường học. Hiện nay, chỉ có chương trình duy nhất của quỹ Ford kết hợp với sở Văn hoá Lào Cai là thực hiện theo hướng này. Chương trình đã sưu tầm hơn 700 văn bản chữ Nôm của người Dao (từ 1736 đến 1945) tại Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng và thành phố Lào Cai[vi]. Mục đích cuối cùng của dự án là dạy cho người Dao tại Lào Cai có thể đọc lại được hệ thống văn tự khối vuông truyền thống mà mình đã bỏ quên trong hơn 50 năm qua. Đây là một chương chình chưa từng được thực hiện ở bất kỳ dân tộc nào khác tại Việt Nam.
Bài viết chưa đề cập đến việc giáo dục con người để trở thành chủ thể của nền văn hoá trong mối tương quan với văn hoá khu vực và thế giới. Nhưng việc này không đáng lo lắm bởi người Việt vốn nắm bắt rất nhanh những yếu tố văn hoá từ bên ngoài mới vào. Vấn đề là ở chỗ giáo dục như thế nào để con người Việt Nam có thể ý thức, thực thi và phát huy được năng lực của mình với tư cách là công dân của đất nước và của địa cầu. Thế giới ngày càng phẳng và nền giáo dục ngày càng trở nên có xu hướng quốc tế hoá, đó là điều không thể cưỡng lại được. Dân tộc hoá giáo dục ở phương diện văn hoá là một xu hướng trái chiều nhưng không làm triệt tiêu xu hướng toàn cầu hoá văn hoá, bởi trong “bữa tiệc hội nhập” mỗi dân tộc đều phải có “chai rượu văn hoá” của riêng mình. Văn hoá làm cơ sở, làm bản vị để mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phát triển bền vững hơn. Nước chảy xa vì nguồn nó sâu. Kinh tế có phát triển ổn định là bởi sau lưng nó là cả một nền văn hoá có độ đằm của lịch sử. Phát triển bền vững ắt hẳn phải bắt đầu từ vấn đề chủ thể văn hoá của chúng ta hiện nay!?
[i] Triều Anh.1999. Những trang sử cuối cùng của chữ Hán Nôm. Nxb Tổng Hợp Đồng Nai.
[ii] Zenei Gang of Five. 2007. Script: Avant-garde Calligraphy. Tho Studio. Hà Nội.
[iii] Đáng ra, những tác phẩm đầy trăn trở về đất nước và dân tộc như “đánh thức tiềm lực” của Nguyễn Duy phải được đưa vào sách giáo khoa để học sinh biết rằng mình còn là một thành tố của đời sống đất nước. Tiếc rằng đây vẫn là điều bất khả thi. Sự lảng tránh những điều “tế nhị” của người lớn sẽ góp phần làm nên nhân cách cho trẻ em.
[iv] Éric Plaisance & Gérard Vergnaud .1999.Les sciences de L’éducation (Các khoa học giáo dục). Découverte Paris. Chuyển dẫn theo Phạm Khiêm Ích. 2008. Edgar Morin và triết học giáo dục. (dantri.com.vn)
[v] http://www.vme.org.vn
[vi] Bradley C Davis.2008. Chữ Nôm Dao in Việt Nam- The Study and Sustainability of a Traditional Script. International Conference on Nôm Studies. Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University, Philadelphia, USA. (http://www.temple.edu)
và tải lại trên website:
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5761&CategoryID=41
Nay in lại nguyên bản ở đây, với tên cũ.
Trần Trọng Dương
Bấy lâu nay khẩu hiệu giữ gìn và phát huy văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc luôn xuất hiện trong mọi bài viết, công trình nghiên cứu. Nhưng hình như khẩu hiệu này chỉ thực thi trong các ban ngành, trong các cơ quan hữu trách về văn hoá thông qua các hoạt động festival, lễ hội văn hoá, giao lưu văn hoá; tức là văn hoá truyền thống chỉ được tái hiện một phần nào đó thông qua các diễn viên, và mang tính biểu diễn cho quần chúng và bạn bè quốc tế thưởng lãm. Còn những người đến xem chỉ là …người đến xem, tức là họ được coi như là khách thể văn hoá. Giữ gìn bản sắc, theo chiều sâu, phải là sự tái dụng văn hoá truyền thống trong đời sống thường nhật của con người. Tức là biến những vị khách (vốn là những người chủ của văn hoá kia) trở về với đúng vị trí của mình. Để thực hiện được công việc này, nhà nước cần phải có những chính sách, hệ thống pháp lý, có những chiến lược đào tạo chủ thể văn hoá. Và dĩ nhiên, trước đó, các nhà nghiên cứu phải hoạch định rõ các yếu tố văn hoá truyền thống nào là bản sắc, là của riêng Việt Nam, là những yếu tố cần thiết cho nền văn hoá đương đại.
1. Thực trạng của chủ thể văn hoá hiện
Xã hội Việt Nam truyền thống đã có những biến động rất lớn kể từ khi Pháp đến. Người Pháp mang theo văn hoá và khoa học (kỹ thuật cũng như nhân văn) của Phương Tây. Người Việt lần đầu tiên phản tư và đặt ra sự so sánh với một nền văn hoá khác ngoài Trung Hoa. Có người nhận thấy rằng, cho dù có so sánh với nền văn hoá nào đi chăng nữa thì Việt Nam vẫn là biểu hiện của một nền văn hoá nhược tiểu/ thiểu, sự thực chưa hẳn đã là như vậy. Chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai hoá trên nhiều phương diện. Để dễ bề cai trị, từ năm 1869 đến 1919, Pháp lần lượt ban hành các đạo luật G.Ohier, J.Lafont, Le Myre de Villers và Albert Sarraut nhằm “diệt Hán - Nôm, hưng quốc ngữ”[i], nhằm tách dân chúng ra khỏi tầng lớp Nho sĩ, cô lập Đại Nam với các nước đồng văn và quan trọng nhất là “biến những đứa trẻ Annam trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” [trích lời Toàn quyền Paul Bert 1886][ii]. Tuy nhiên, phải nói một cách công bằng rằng người Pháp gần như không có những chính sách tiêu diệt văn hoá bản địa, mà ngược lại, văn hoá truyền thống vẫn được bảo lưu trong hệ thống làng xã và được người Pháp nghiên cứu khá chi tiết. Mặt khác, người Pháp đã tạo nên một thế hệ những trí thức Tây học trên cơ sở văn hoá bản địa. Nhiều người nói, đây là thế hệ một đi không trở lại trong lịch sử của trí thức Việt Nam.
Năm 1945, chữ quốc ngữ chính thức là thứ văn tự duy nhất của quốc gia. Chữ Hán, chữ Nôm biến mất khỏi hệ thống giáo dục và đời sống sau 2000 năm hiện diện trên mảnh đất văn hiến. Có thể coi đây là bước ngoặt lớn thứ hai về văn hoá, kể từ đợt tiếp xúc của cơ tầng Đông Nam Á với Trung Hoa. Tầng lớp trí thức Tây học trở về nước, nhưng do điều kiện này nọ họ chỉ có thể đóng góp ở mảng này hay mảng khác với mức độ nhất định. Trong suốt mấy chục năm chiến tranh, văn hoá truyền thống (lễ hội, di tích, thư tịch, phong tục tập quán…) bị biến mất, biến dạng nhanh và nhiều đến mức không thể kể hết được và đến nay vẫn chưa có ai thực hiện việc thống kê xem văn hoá truyền thống Việt Nam từng có những gì, đã mất những gì, cái gì cần giữ lại, cái gì cần phát huy. Mọi cố gắng của các nhà nghiên cứu hay của các nghệ nhân chỉ là tự phát trong vòng hai ba chục năm trở lại đây. Mặt khác, không ít các nhà nghiên cứu khi bảo tồn văn hoá lại luôn coi mình là kẻ đứng trên và đứng ngoài đối tượng nghiên cứu. Nghệ nhân chỉ là tư liệu khảo sát! Các dự án bảo tồn là để giải ngân. Cho nên, kết quả là khá méo mó so với thực tế. Hai mươi năm nay, các lễ hội cổ truyền được phục dựng ở khắp nơi bởi các nhà đạo diễn văn hoá quần chúng từ cấp địa phương đến cấp quốc gia. Sân khấu hoá và rập khuôn lễ hội là tình trạng phổ biến. Trong khi ngàn vạn tài liệu thư tịch về hương ước và lễ tục làng xã vẫn nằm chết cứng trong các thư viện của nhà nước và đang mục nát trong dân gian.
Thế hệ già 70-80 ra đi, mang theo những nét văn hoá cũ. Thế hệ trung niên, đã quá vất vả vì chiến tranh và đói kém triền miên, không mấy người quan tâm đến việc cha ông mình vốn là chủ thể của nền văn hoá gì. Giờ đến 8x và 9x, sự đứt rễ quá lâu và quá xa khỏi văn hoá truyền thống, khiến thế hệ trẻ không biết mình đến từ đâu, vì thế cũng nhiều khi không xác định được mình sẽ đi đâu. Họ không nhận thức được rằng mình đang là, sẽ là những chủ thể của nền văn hoá như thế nào. Việc nhuộm răng của một hoạ sĩ 7x, được toàn bộ cộng đồng coi như là hành động lạc lõng và quái dị. Thanh niên ăn trầu chỉ là thử cho vui. Các làng nghề chạy theo thương mại mà bỏ bê (hoặc chuyển đổi) sản xuất các mặt hàng truyền thống. Lễ tục giản thiểu tối đa cho tiện dụng. Mọi nhà cắm cờ thay vì trồng cây nêu. Ăn bánh chưng rán ngoài hàng thay cho gói ghém và nấu nướng. Các loại quán xá thì được dịp tung hô quảng cáo và tận dụng hai chữ “bản sắc”, nào là Hồn Việt, nào là Bún Ta, hay nữa là Bia Đại Việt. Bóng đá thể thao thì gióng trống khua chiêng cổ động bằng cách hô khẩu hiệu “tinh thần Việt Nam”, “vì màu cờ sắc áo”. Sự tự hào dân tộc thường chỉ được lấp ló trong những khoảnh khắc chiến thắng của thể thao hay núp sau tà áo dài hoa hậu. Giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế loanh quanh cũng chỉ là ca múa nhạc của các diễn viên. Tà áo dài được cách tân và cải biến, tính mỹ học cao hơn; song ngoài Huế thì ở các nơi khác tà áo dài đã trở thành trang phục biểu diễn, hay lễ nghi thuần tuý. Sang lắm như tranh Đông Hồ, mang đi triển lãm khắp nơi trên thế giới, nhưng chỉ là những nét khắc ngờ nghệch, chữ nghĩa thậm xấu và sai chính tả đến mức không thể chấp nhận được, đề tài phần lớn là của tranh Tàu (trừ Hứng dừa và Đánh ghen). Chỉ có số rất ít nghệ nhân (như ông Nguyễn Đăng Chế,…) làm lụng với tư cách cá nhân với tấm lòng yêu nghề. Còn các quan tâm đầu tư khác của nhà nước thường dừng lại ở việc “cho đi cùng”. Nâng cao chất lượng nghệ thuật tranh Đông Hồ ra sao thì chưa thấy. Nhưng ở nhà trường, học sinh vẫn học suông mấy chữ “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” một cách hồn nhiên mà chưa bao giờ được hỏi: “làm thế nào để tạo nên màu dân tộc ấy?”.
Hình: Đánh ghen, chữ thậm xấu.
2. Để con người trở thành chủ thể văn hoá
Dĩ nhiên, việc trau dồi văn hoá cổ truyền chỉ là một cạnh khía trong sự nghiệp trăm năm của một đất nước. Nhưng thiết nghĩ, hun đúc tình yêu dân tộc không chỉ đơn thuần ở việc ngợi ca non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc được[iii]; lại càng không thể kêu gọi, hô hào hay ép buộc con em phải yêu nước. Tình yêu bao giờ cũng cần được nuôi dưỡng, nhất là tình yêu dân tộc. Nuôi dưỡng bằng cách nào? Bằng cách, người lớn phải yêu dân tộc. Tình yêu ấy phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thường nhật, liên tục với số lượng đông đảo của chủ thể, chứ không phải bằng những sáo ngữ cũ mòn. Đó chính là hành vi “thân giáo” (giáo dục bằng chính hành động của thày)-phương pháp giáo dục của Nho gia mà Khổng Tử đề xướng. Phương pháp này không ép buộc mà hoàn toàn tôn trọng vào sự chọn lựa của người học. Nó tương đồng với “nguyên tắc tự do của chủ thể” trong triết học giáo dục của Éric Plaisance và Gérard Vergnaud[iv]. Như thế, mỗi một người lớn là một thày cô giáo, mỗi một gia đình là một ngôi trường. Và ngược lại, mỗi thày cô giáo lại là một chủ thể văn hoá, mỗi mái trường là một mái ấm gia đình, để con người tự do trong tình yêu nhỏ, tình yêu nhỏ sẽ góp nên những tình yêu rộng lớn hơn.
Đối với trẻ em, việc xác lập tình cảm và hứng thú thường là rất dễ dàng nếu có cách truyền thụ hợp lý. Cách truyền thụ văn hoá hữu hiệu nhất chính là biến các em thành chủ thể. Thế nào là chủ thể văn hoá? Chủ thể là người được đích thân tham gia vào các hoạt động văn hoá, từ các hoạt động văn hoá ấy chúng sẽ nảy sinh những tình cảm và lựa chọn những yếu tố nào phù hợp nhất với tư chất của chúng. Đương nhiên, một con người hiện đại là người tích hợp của nhiều nền văn hoá, và đây cũng chính là một trong những mục đích của nền giáo dục hiện đại. Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học là cơ quan văn hoá hoạt động hiệu quả nhất về phương diện này. Bảo tàng đã kết hợp được với một số trường học, đưa học sinh đến học ngoại khoá. Học sinh đến đây sẽ được đích thân nhuộm vải, in tranh Đông Hồ, học đan lát, học cách in hoa văn bằng sáp ong của người Hmông, cách nhuộm ikat của người Thái, cách thêu của người Việt, tập khâu vá, cắt may, tập làm búp bê giấy, búp bê vải,[v]... Việc đào tạo như vậy không có nghĩa là kéo lùi những kiến thức khoa học hiện đại của trẻ mà thực chất đó chính là những hoạt động nhằm giúp các em nhận thức về văn hoá, và được tham gia vào đó với tư cách của một thành tố văn hoá.
Để đảm bảo yếu tố bản sắc và đa dạng văn hoá của các dân tộc, sẽ phải có những cách thức riêng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Nhưng, đối với các dân tộc thiểu số, tốt nhất là nên dạy song ngữ (tiếng bản tộc và tiếng Việt). Các em phải nhận thức được rằng, giá trị của văn hoá là ở chỗ khác nhau. Mọi ngôn ngữ và văn hoá đều là đáng quý và cần bảo lưu. Bởi một dân tộc không còn là mình nữa khi dân tộc ấy cứ nói theo thứ tiếng và chữ viết của dân tộc khác. Tình trạng a dua, học đòi theo người Kinh là nguy cơ lớn nhất đối với văn hoá dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các trường dân tộc nội trú hiện nay vẫn chủ yếu tập trung dạy các môn văn hoá y như chương trình ở dưới xuôi. Ý thức về văn hoá dân tộc mình trong tương quan với dân tộc khác (ít nhất là với văn hoá Kinh) là một cách “giáo dục về hoàn cảnh con người”. Bộ giáo dục dường như chưa từng để ý đến vấn đề đưa văn hoá bản địa vào trường học. Hiện nay, chỉ có chương trình duy nhất của quỹ Ford kết hợp với sở Văn hoá Lào Cai là thực hiện theo hướng này. Chương trình đã sưu tầm hơn 700 văn bản chữ Nôm của người Dao (từ 1736 đến 1945) tại Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng và thành phố Lào Cai[vi]. Mục đích cuối cùng của dự án là dạy cho người Dao tại Lào Cai có thể đọc lại được hệ thống văn tự khối vuông truyền thống mà mình đã bỏ quên trong hơn 50 năm qua. Đây là một chương chình chưa từng được thực hiện ở bất kỳ dân tộc nào khác tại Việt Nam.
Bài viết chưa đề cập đến việc giáo dục con người để trở thành chủ thể của nền văn hoá trong mối tương quan với văn hoá khu vực và thế giới. Nhưng việc này không đáng lo lắm bởi người Việt vốn nắm bắt rất nhanh những yếu tố văn hoá từ bên ngoài mới vào. Vấn đề là ở chỗ giáo dục như thế nào để con người Việt Nam có thể ý thức, thực thi và phát huy được năng lực của mình với tư cách là công dân của đất nước và của địa cầu. Thế giới ngày càng phẳng và nền giáo dục ngày càng trở nên có xu hướng quốc tế hoá, đó là điều không thể cưỡng lại được. Dân tộc hoá giáo dục ở phương diện văn hoá là một xu hướng trái chiều nhưng không làm triệt tiêu xu hướng toàn cầu hoá văn hoá, bởi trong “bữa tiệc hội nhập” mỗi dân tộc đều phải có “chai rượu văn hoá” của riêng mình. Văn hoá làm cơ sở, làm bản vị để mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phát triển bền vững hơn. Nước chảy xa vì nguồn nó sâu. Kinh tế có phát triển ổn định là bởi sau lưng nó là cả một nền văn hoá có độ đằm của lịch sử. Phát triển bền vững ắt hẳn phải bắt đầu từ vấn đề chủ thể văn hoá của chúng ta hiện nay!?
[i] Triều Anh.1999. Những trang sử cuối cùng của chữ Hán Nôm. Nxb Tổng Hợp Đồng Nai.
[ii] Zenei Gang of Five. 2007. Script: Avant-garde Calligraphy. Tho Studio. Hà Nội.
[iii] Đáng ra, những tác phẩm đầy trăn trở về đất nước và dân tộc như “đánh thức tiềm lực” của Nguyễn Duy phải được đưa vào sách giáo khoa để học sinh biết rằng mình còn là một thành tố của đời sống đất nước. Tiếc rằng đây vẫn là điều bất khả thi. Sự lảng tránh những điều “tế nhị” của người lớn sẽ góp phần làm nên nhân cách cho trẻ em.
[iv] Éric Plaisance & Gérard Vergnaud .1999.Les sciences de L’éducation (Các khoa học giáo dục). Découverte Paris. Chuyển dẫn theo Phạm Khiêm Ích. 2008. Edgar Morin và triết học giáo dục. (dantri.com.vn)
[v] http://www.vme.org.vn
[vi] Bradley C Davis.2008. Chữ Nôm Dao in Việt Nam- The Study and Sustainability of a Traditional Script. International Conference on Nôm Studies. Center for Vietnamese Philosophy, Culture & Society Temple University, Philadelphia, USA. (http://www.temple.edu)
Từ nguyên của chữ XE và các điệp thức của nó
Trần Trọng Dương
Trong tiếng Việt hiện nay có các từ thể hiện số nhiều, hay mức độ nhiều như lắm, nhiều. Trong tiếng Việt lịch sử từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIX, chúng tôi còn thấy từ khác là xe. Bài viết này sẽ tiến hành khảo sát các ngữ cảnh của từ XE qua các văn liệu và sự ghi nhận từ điển. Mục đích là tìm hiểu sự xuất hiện biến mất của từ cổ xe, cũng như từ nguyên và những điệp (thức từ gốc Hán đồng nguyên khác) của nó.
1. Khảo về chữ XE
XE là chỉ thấy ghi nhận trong từ điển của Génibrel: “6. Có xe, innombrable, adj”[1] [tr.961]. Các từ điển cổ khác đều không thấy ghi nhận. Ngay cả Gustave Hue vốn tiếp thu khá nhiều mục từ từ điển này cũng không thấy có. Trong văn liệu, từ XE xuất hiện một số lần trong văn cảnh, cụ thể như sau: “Vốn xưa làm Nôm xe chữ kép[2] (CNNA tr75). Mãnh lôi tiếng dậy rầm rầm xe thay [3](CNNA), Long nhãn có hiệu nhãn lồng ngọt xe[4](CNNA), Sãi muốn nói một chuyện xa xa cho Vãi biết, trong kinh chép đã nên xe (Sãi Vãi c.194)” [5]
Về nghĩa, tạm thời có thể phân suất được hai nghĩa như dưới đây: 1.Xe là tính từ chỉ số lượng (xe chữ kép, có xe), bằng với từ nhiều hiện nay. 2.Xe là trạng từ mức độ trong các ngữ cảnh rầm rầm xe thay, ngọt xe, bằng với từ lắm hiện nay. Thú vị là từ điển A. de Rhodes chỉ thấy ghi nhận các từ nhièu, nhèu, dèu, bao deu, bao nheu. Gén cũng ghi nhận từ “nhiều”[6] có nhiều ví dụ dẫn dụng đi kèm.
Tạm đi đến nhận định là: vào thế kỷ XVII-XIX, “xe” hầu như lùi vào “hậu trường” để trở thành một từ cổ. Trong khi đó, “nhiều” là một từ phổ dụng và đã và đang thay thế XE. Nói “hầu như” là vì các tác phẩm từ thế kỷ XVI-XIX không hề thấy XE xuất hiện nữa, nhưng nó bắt đầu “chết” từ lúc nào thì có lẽ nên dè dặt vì không có mặt trong từ điển không nhất thiết có nghĩa là không có mặt trong từ vựng. Như Truyện Kiều 22 lần xuất hiện nhiều[7]. Cư trần lạc đạo đời Trần thấy nhiều xuất hiện 1 lần[8]. Quốc âm thi tập có 15 lần dùng từ nhiêu, và 54 lần từ nhiều[9]. Khóa hư lục giải nghĩa thì nhiêu 14 lần, nhiều 12 lần[10] . Nhưng 2 văn bản được đỉnh bản vào thế kỷ XIX, chắc bị sửa ít nhiều. Phật thuyết một bản dịch có thể được tiến hành vào quãng thế kỷ XII trở về trước, ngôn ngữ khá bảo lưu thì nhiều xuất hiện 11 lần[11] và cũng không thấy xuất hiện XE.
Như vậy, chỉ thấy xe xuất hiện trong 2 tác phẩm, CNNA và Sãi Vãi. CNNA là văn bản tk XVII, và chắc đây là bản trùng san từ một bản cổ hơn. Theo như chứng minh của Ngô Đức Thọ về chữ Húy triều Hồ[12], đây là văn bản khắc in vào đầu tk XV, và bản tk XVII là bản in lại mà không sửa chữa gì nhiều so với bản trước. Sãi vãi là tác phẩm của Nguyên Cư Trinh (1716-1767) Đàng Trong. Vậy tại sao từ xe lại xuất hiện trong tác phẩm này? Như ta biết, Đàng Trong (nhất là vùng Bình Trị Thiên) là vùng phương ngữ cổ của tiếng Việt. Và vùng phương ngữ này vào thế kỷ có thể XVIII vẫn còn lưu giữ từ xe mà ở Đàng Ngoài (Bắc) đã biến mất. Sau đó, từ cuối tk XVIII, từ XE cũng đã biến mất khỏi vùng phương ngữ này.
Còn một vấn đề nữa, tại sao Gén lại ghi nhận được từ XE? Ta biết rằng các nhà truyền giáo có phong cách tiếp thu từ điển của những người đi trước, như A de Rhodes tiếp thu hai cuốn Annamiticium Lussitanum*[13] của Gaspar de Amaral (1592-1646) và Lussitanum Annamiticium* của Antonio Barbosa. Cuốn từ điển Dictionarium Annamitico-Latinum (1838) của Taberd tiếp thu từ Dictionarium Anamitico Latinum (1772) của Bỉ Nhu và A. de Rhodes, Dictionaire Annamite- Chinois- Français (1937) của G.Hue tiếp thu từ Dictionaire Annamite - Français (1898) của Génibrel, và Génibrel lại tiếp thu từ Dictionaire Annamite - Français (Imprimerie de la Mission de Saigon 1877*) của Mgr Caspar. Sự bổ sung các mục từ có thể là được tiếp thu từ những bảng từ chép tay của từng giáo sĩ, đồng thời có cứ liệu thực địa bổ sung và sự tiếp thu mục từ XE của Génibrel có thể là từ một bản thảo chép tay vô danh nào đó từ các thế kỷ trước để lại.
Tạm thời có thể đi đến một số nhận định như sau:
1.XE là một từ đang biến mất/ hoặc đang bị thay thế dần dần bởi từ nhiều vào giai đoạn tiếng Việt cổ (thế kỷ XIII-XVI), và có lẽ biến mất ở Bắc bộ vào giai đoạn tiếng Việt Trung đại XVII-XVIII.
2.Đầu thế kỷ XVIII, XE vẫn còn tồn tại ở vùng phương ngữ Đàng Trong, và sau đó cũng nhanh chóng biến mất.
3.(Giả thuyết) XE là một từ phổ dụng của tiếng Việt tiền cổ vào giai đoạn tk X-XIII.
4.Mục từ XE trong Génibrel có lẽ đã được tiếp thu từ một bảng từ của các giáo sĩ vô danh được khảo sát từ các thế kỷ XVII-XVIII tại vùng phương ngữ Đàng Trong. Trong tình hình tư liệu hiện có chúng ta chỉ tạm có thể đưa ra giả thuyết như trên.
2. Từ nguyên của chữ XE
Với âm XE, chúng ta từng biết đến âm XE trong các từ cái xe, xe cộ, xe pháo mã tốt, tàu xe. XE là âm đọc Tiền Hán Việt trước đời Đường của chữ XA 車. Từ tiền lệ như vậy, chúng tôi thử đặt giả thuyết tương tự cho âm XA đang xét đến ở đây. Kết quả là chúng tôi tìm được chữ XA賒.
XA 賒 có nghĩa là nhiều, nghĩa thứ 5 trong Hán ngữ đại tự điển [14] [đa, phồn đa], ví dụ: Lãng Sĩ Nguyên朗士元trong bài Văn xuy dương diệp giả 聞吹羊葉者 có câu胡馬迎風起恨賒Hồ mã nghinh phong khởi hận xa (ngựa Hồ nghênh gió, hận dấy đầy). Và như thế, có thể tạm đi đến nhận định rằng, XE (nhiều) trong tiếng Việt cổ là một từ gốc Hán đọc theo âm Tiền Hán Việt. Về mặt ngữ âm, chúng ta thấy sự phân biệt / e / < > / a / giữa các âm Tiền Hán Việt với âm Hán Việt, có thể nêu ra một số ví dụ như: chén – trản 盞 ; chèo – trạo 棹 ; hen (ho hen, hen suyễn) – han 鼾, hét – hát 喝[15].
Chữ賒với âm XA đồng thời cũng là một hình vị Hán Việt được du nhập khá sâu vào tiếng Việt, với nghĩa là xa (trái với gần). Đây là nghĩa thứ 3 trong Hán ngữ đại tự điển (dao viễn 遙 遠). Như thế XA賒là một từ Hán Việt đơn tiết trong tiếng Việt hiện nay, chứ không phải là một từ thuần Việt như trước nay chúng ta vẫn hiểu. Đồng thời, XA là một từ đơn tiết trong tiếng Hán cổ đại. Thơ cổ có ví dụ sau: Vương Bột王勃trong bài Đằng Vương các tự滕王閣序có câu: 北海虽賒, 扶摇可接 Bắc hải tuy xa, phù dao khả tiếp (bể Bắc tuy xa, lần theo cũng tới) . Thơ cổ cũng có câu萬里休言道路賒vạn lý hưu ngôn đạo lộ xa (muôn dặm chớ nói rằng đường đi xa). Thêm nữa, XA với nghĩa này còn là một từ tố để tạo nên một số từ song tiết khác cận/ gần nghĩa như xa xôi, xa vời, xa xăm, xa cách, xa lánh, xa tít, xa mù, xa ngái, xa khơi, xa lắc, xa xa, xa hoắc, xa lìa, xa lơ xa lắc, xa mú, xa mú tí tè, xa tắp, xa tít tắp, xa thẳm, xa vắng, xa xưa.
Chữ 賒 còn thông với chữ XA奢 trong “xa xỉ” và có một điệp thức (doublet) cổ là “xe” trong “xe xua” và “xo xe” trong tiếng Nam Bộ, mà vì siêu chỉnh (hypercorrection) nên đã biến thành “se sua” và “so se”. Ngoài ra, XA cũng là một hình vị Hán Việt trong các từ Hán Việt như: “xa hoa”, “xa xỉ” và “kiêu sa” (trại âm từ kiều xa 嬌賒- một từ Hán Việt Việt tạo?, nghĩa là “đẹp sang trọng”).
Chữ賒còn trỏ hành động dùng tiền để mua bán, trao đổi. Trong tiếng Hán có từ sha xiao賒銷 (đọc theo âm Hán Việt là xa tiêu). Vào tiếng Việt, đọc theo âm Quảng Đông thành tiêu xài. Xài cũng vừa là một từ gốc Hán đơn tiết vừa là một từ tố Hán Việt.
Có điều đáng chú ý là, trong các văn bản Nôm, âm XA đôi khi không được dùng bằng tự dạng gốc là 賒, mà được ghi bằng chữ đồng âm khác là 車(xe cộ). Đây là một đặc điểm thường thấy đối với những chữ Nôm ghi âm từ gốc Hán trong các văn bản Nôm thuộc thế kỷ XV-XIX. Điều này thể hiện qua hệ thống chữ Nôm dùng để ghi các từ cổ đọc theo âm Phi Hán Việt, tuy số lượng của chúng không nhiều, nhưng lại là những trường hợp khá thú vị đối với những người quan tâm đến các văn bản Nôm và từ nguyên học.
Từ Liêm 2010
Tác giả: Trần Trọng Dương
Địa chỉ: Viện NC Hán Nôm, 183 Đặng Tiến Đông, Đống Đa, Hà Nội.
Email: trantrongduonghn@gmail.com
[1] J.F.M. Génibrel, (1898), Dictionnaire Annamite- Français (大越國音漢字法 釋集成 ), SaiGon Imprimerie de la mission à Tân Định.
[2] Trần Xuân Ngọc Lan, (1985), Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Tr.75.
[3] Trần Xuân Ngọc Lan, (1985), sdd. tr78
[4] Trần Xuân Ngọc Lan, (1985), sdd. tr218
[5] Vương Lộc, (1999), Từ điển từ cổ, Trung tâm Từ điển học & Nxb. Đà Nẵng. H.
[6] J.F.M. Génibrel, (1898), Dictionnaire Annamite- Français (大越國音漢字法 釋集成 ), SaiGon Imprimerie de la mission à Tân Định. tr560
[7] Đào Duy Anh. Từ điển truyện Kiều.
[8] Hoàng Xuân Hãn.(1978). Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. KHXH (Paris) 5-7 91978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần- Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb Giáo dục. T3: 1091-1095.
[9] Phùng Minh Hiếu. Bảng tra từ vựng trong Quốc âm thi tập (bản thảo), nhân đây xin cảm ơn tác giả đã chia sẻ tư liệu.
[10] Trần Thái Tông. (2009). Thiền tông khóa hư ngữ lục. Tuệ Tĩnh giải nghĩa, Trần Trọng Dương khảo cứu, dịch và phiên chú. Nxb Văn học & TT Nghiên cứu Quốc Học.
[11] Hoàng Thị Ngọ, (1999), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[12] Ngô Đức Thọ, (2005), Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọc âm, T/c Hán Nôm, số 3.2005.
[13] Ký hiệu * biểu thị văn bản đã thất truyền.
[14] Hán ngữ đại tự điển 漢語大字典. Thành Đô xuất bản xã, 1993.
[15] Nhân đây xin gửi lời tri ân đến học giả An Chi, người đã trực tiếp gợi ý, hướng dẫn tôi đi đến nghiên cứu này. Và một số kết quả trong bài viết thực chất là cùng thuộc về ông.
Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012
chữ không có trong từ điển
Khi đọc một văn bản Hán hay Nôm, gặp một từ nào đó không có trong từ điển có chữ thì giải mã được có chữ thì tắc tị, đó là chuyện thường ngày.
Hôm nay gặp phải bài Nôm này, nên pốt lên đây để hỏi anh em, khách khứa.
Ngoài hai chữ này ra nếu còn có chữ nào chưa thỏa đáng lắm, cộng thêm hai cái điển cố thì cũng nhờ anh em khách khứa chỉ chính thêm.Công đức vô lường!
Hy vọng các anh em khác cũng pốt các chữ khó lên, để cùng nhau học hỏi.
Thi nhất thủ
Một ngón thao[1] cầm mấy vạn binh,
Cõi Tây chẳng những núi là thành.
Trông cờ ngươi Cát[2] tung mưu lạ,
Ngó hộp họ Tào[3] tỏ nhôi thanh[4].
Noi dấu trước theo dòng phúc khánh
Soi lòng trên có đấng tài minh.
[Dấu][5] thiêng vững trấn muôn ngàn dặm,
Chi ấy vân nhung[6] động thản bình.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Ngón thao: trình độ thao lược.
[2] Bản chép theo trí nhớ nên đảo lộn chữ với câu dưới. Ở trên phải là “ngươi Cát”. “Ngươi” là một loại từ trong tiếng Việt cổ chỉ đứng trước tên người, và không phải là đại từ nhân xưng mang hàm ý coi thường như trong tiếng Việt hiện đại. “Ngươi Cát”: là trỏ Gia Cát Lượng.
[3] Họ Tào: trỏ Tào Tháo. Xem chú 2.
[4] Nhôi thanh: lòng thanh. “Nhôi” từ Việt cổ, nghĩa là “tấm lòng”, “cõi lòng”. Trong tiếng Việt cổ hay nói “”khúc nhôi”. Ví dụ: “Bặt bặt con chim cò đỗ nơi bãi phẳng; đứt nhôi tiếng ve kêu trong khóm liễu” (Thiền tông khóa hư ngữ lục- Tuệ Tĩnh, tk XIV). “Thái hậu nghe biết khúc nhôi” (Thiên Nam ngữ lục- vô danh, tk XVII). “Khấu đầu bèn kể mọi lời khúc nhôi” (Vị thành giai cú tập biên- Tú Xương, tk XIX).
[5] Chữ mờ, đoán đọc, nên để trong ngoặc.
[6] Tra trong Hán ngữ đại tự điển không thấy có chữ này: {風問}+ {風+戎}, nên tạm xác định là một chữ Nôm tự tạo.Tự dạng này chưa từng gặp trong bất kỳ từ điển chữ Nôm cổ từ thế kỷ XVII đến nay. Tạm phiên theo thanh phù để chờ giải đáp.
Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012
THỦY ÂM KÉP TIẾNG VIỆT THẾ KỈ XIV- XV QUA CÁC CHỮ NÔM CỔ TRONG QUỐC ÂM THI TẬP
Bài đã đăng Tạp chí Ngôn ngữ số tháng tám năm 2012,
Bài có nhiều ký hiệu không thể hiển thị trên web, nên up nguyên văn pdf.
link download (có thể trích dẫn):http://www.mediafire.com/?g4fvr1xie2po62c
TRẦN TRỌNG DƯƠNG
Quốc âm thi tập (QATT) của Nguyễn Trãi (1380 -1442) là kho ngữ liệu phong phú về tiếng Việt cổ cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV. Trước nay đã có một số bản phiên âm chú thích về tác phẩm này. Cũng đã có nhiều bài viết hay công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong QATT. Đáng kể nhất là luận án tiến sĩ “Nghiên cứu phụ âm trong Quốc âm thi tập” (Etude du consonantisme du Quốc âm thi tập) của Nhẫn Gaston được thực hiện khá sớm vào năm 1967 trên cơ sở bản phiên đầu tiên của nhóm Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điểm (1956). Tiếc rằng, cho đến nay công trình này, sau gần năm mươi năm thực hiện, lại chưa từng được giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài sử dụng. Nghiên cứu của Nhẫn Gaston cho thấy, thủy âm kép tiếng Việt cổ vào thế kỉ XV phong phú hơn nhiều so với thế kỉ XVII (bl-, ml-/ mnh-, và tl-). Trên cơ sở kế thừa những kết quả của Nhẫn Gaston và nhiều thành tựu mới trong nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt cũng như những phát hiện mới về văn bản học trong nhiều năm qua, bài viết này tiến hành khảo sát và nghiên cứu hệ thống thủy âm kép thế kỉ XIV- XV qua tác phẩm quan trọng hàng đầu trong lịch sử ngôn ngữ Việt Nam này.
Các cứ liệu so sánh đối chiếu về văn tự học chữ Nôm và ngữ âm lịch sử, gồm có:
1) Các văn bản cổ như: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (vt. Phật thuyết), Thiền tông khóa hư ngữ lục, An Nam dịch ngữ, An Nam quốc dịch ngữ, Từ điển Việt Bồ La…
2) Các công trình nghiên cứu (hoặc phiên chú) về các văn bản này, tiêu biểu là của các tác giả Nhẫn Gaston (1967), Đào Duy Anh (1976), Nguyễn Tài Cẩn (1999), Nguyễn Quang Hồng (2002, 2008), Nguyễn Ngọc San (1982, 2003), Vương Lộc (1997), Paul Schneider (1987), Hoàng Thị Ngọ (1999), Shimizu Masaaki (2005, 2010), nhóm Mai Quốc Liên (2001), nhóm Nguyễn Tá Nhí (2008)…
3) Các tư liệu và công trình nghiên cứu về lịch sử ngữ âm tiếng Việt cũng như các phương ngữ và ngôn ngữ bảo thủ, tiêu biểu như Nhẫn Gaston (1967), Nguyễn Văn Lợi (1993), Nguyễn Tài Cẩn (1997), Michel Ferlus (1999), Nguyễn Ngọc San (2003), Nguyễn Văn Tài (2006), Vũ Đức Nghiệu (2011),…
Quy ước trình bày như sau: Về chữ Nôm, chúng tôi cắt tự dạng từ nguyên bản, sau đó tiến hành phân tích cấu trúc, trong đó kí hiệu văn tự dùng để ghi yếu tố đầu trong thủy âm kép luôn được đưa lên trước, bất luận1 nó có vị trí như thế nào trong chữ Nôm đó, phân tích như vậy để tiện theo dõi và trình bày, nếu như phần chữ Nôm đó có một số chữ tục thể, giản thể thì chúng tôi đều thống nhất quy về dạng chính thể, phồn thể, thí dụ: (cư 車+ lôi雷). Các văn cảnh Nôm dịch từ tiếng Hán đều được dẫn nguyên văn chữ Hán, với cấu trúc: câu dịch Nôm (đích) < nguyên văn Hán (nguồn). Dấu sổ chéo / chỉ các giá trị ngữ âm hoặc ngữ nghĩa tương đương. Các ngữ liệu trong QATT sẽ dẫn theo cấu trúc nguồn, gồm: phiên âm câu thơ sang tiếng Việt hiện đại, (tên bài - số bài. số câu), thí dụ: (Mai thi 226.4) nghĩa là ngữ liệu đó xuất hiện tại câu 4 trong bài Mai thi, số 226 trong QATT. Kiểu tái lập giả định, sẽ luôn được đánh dấu asterisk (*) ở đầu, riêng ngữ tố đang tái lập sẽ in đậm. (1) (cư 車 + lô 盧); (cư車 + sô芻), xuất xứ: “Ngạn nọ so miền Thái Thạch, Làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương” (Trần Tình 42.3), “Huống lại bảng xuân sơ chiếm được, So tam hữu chẳng bằng mày” (Mai thi, 226.4). Ở đây, các tự dạng đang xét đến đều cổ như nhau, có giá trị tương đương nhau, nên giữ nguyên cả hai trường hợp. Nhẫn Gaston tái lập là *kro [6, 150]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klo và *kso [17, 239]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh vào thế kỉ XIV ghi車卢, tại vị trí Chẳng luận so đấng trí cùng đấng ngu <不論上智下愚 (7a4), Trần Trọng Dương tái lập là *kro [36, 34]. Cả ba cách tái lập trên đều có ưu điểm riêng. Các kiểu tái lập như *kl-, *kr- là bám sát vào tự dạng Nôm. Nguyễn Ngọc San dựa vào các lưu tích của một số thổ ngữ Mường, đã đưa ra giả thuyết rằng thủy âm kép *ks- vốn là lai nguyên của S- hiện nay. Với cứ liệu chữ Nôm, chúng tôi thấy rằng giả thuyết của Nguyễn Ngọc San là có cơ sở. Bài viết chấp nhận tất cả các kiểu tái lập trên, bởi các giá trị tái lập không loại trừ mà bổ sung cho nhau (từ đây về sau xin dùng dấu sổ chéo, để biểu thị tính tương đương về mặt giá trị giữa các kiểu tái lập này). Các kiểu tái lập: *klɔ1 / *krɔ1 / *ksɔ1 > so (= sánh, lưu tích còn trong so sánh, so bì, so kè, so đo và có thể so le nữa).
(2) (cự 巨+ lang郎), xuất xứ: “Sang cùng khó bởi chưng trời, Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi” (Ngôn chí 10.1), (Trần tình 44.1), (Tự thán 91.2), (Hoa mẫu đơn 233.1), (Miêu 251.7). So sánh với đối ứng khang (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, và đối ứng hrmang và rəmang trong tiếng Tênh, Nhẫn Gaston tái lập là *krang [6, 148]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klaŋ [17, 239]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục (tk XIV) ghi tự dạng tương tự ở các vị trí 15b2, 40b3, 70a6; Trần Trọng Dương tái lập là *krang [36, 34]. Cả hai kiểu tái lập trên đều có lí. Với đối ứng có thủy âm kh- trong tiếng Mường, ta có thể nghĩ đến các thủy âm kép: *khl-, *khr- và *khs-. Các kiểu tái lập: *khlaŋ1/ *khraŋ1/ *khsaŋ1/ *klaŋ1/ *kraŋ1 / *ksaŋ1> sang (tính từ trái nghĩa với hèn). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm giả tá 廊lang tại vị trí (Thuật hứng 53.5), nay nên cải chính quy về dạng cổ.
(3) (cự 巨 + lang郎), xuất xứ: “Đài Tử Lăng cao, thu mát, Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang” (Ngôn chí 9.4). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm giả tá郎lang tại vị trí “Đông đà muộn lại sang xuân, Xuân muộn thì hè lại đổi lần” (Thu nguyệt tuyệt cú 198.1), nay nên cải chính, quy về dạng cổ. So sánh với các đối ứng khlăng trong tiếng Brou và srang, srơng trong tiếng Chăm, Nhẫn Gaston tái lập là *krang [6, 149]. So sánh với đối ứng khảm trong tiếng Tày [11, 404]; [10, 232]. Các kiểu tái lập: *khlaŋ1/ *khraŋ1/*khsaŋ1/ *klaŋ1/ *kraŋ1 / *ksaŋ1> sang (vượt qua, chuyển qua).
(4) (cự巨+ liệt列), xuất xứ: “Hoa còn để rụng lem đất, Cửa một dường cài sệt then” (Tức sự 124.6). Ngữ tố đang xét chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong QATT. Các tác giả Trần Văn Giáp (1956), Nhẫn Gaston (1967), Đào Duy Anh (1976), Bùi Văn Nguyên (1994), Paul Schneider (1987), nhóm Nguyễn Tá Nhí (2008) đều phiên lướt. Nhóm Mai Quốc Liên (2001) phiên trượt. Nguyễn Quang Hồng (2008) chọn âm sít. Nguyễn Hùng Vỹ (2010) xác định âm sệt2. Chúng tôi theo giả thuyết cuối cùng. Các kiểu tái lập: *klet6/ *kret6/ *kset6. Ba kiểu tái lập trên cho phép lần ra các đồng nguyên tự của chữ này trong tiếng Việt hiện nay. *klet6 > rụng [k-] > lệt (trong lệt sệt) và lết (trong lết bết), có thể cả loẹt và quẹt (trong loẹt quẹt); *kret6 > hòa đúc > trệt và *kset6 > sệt.
(5) (cư 車+ lôi雷), xuất xứ: “Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt, Thề xưa hổ có giang san” (Thuật hứng 63.5). Tự dạng 車雷 còn tìm thấy tại câu “Lòng thiền vặc vặc, trăng soi giãi” trong Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang. Ngữ tố này trong QATT còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì là tại các vị trí: “Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện, Đông hè trải đã xưa nay” (Trần tình 45.5), “Lặt hoa tàn xem ngọc rụng, Soi nguyệt xấu kẻo đèn khêu” (Tự thán 105.6), nên tái lập dạng cổ là . So sánh với đối ứng xơrol, sơrol, srol, sraj, sơral trong tiếng Bahnar [6, 41, 150], và yếu tố tương đương rọi trong tiếng Việt hiện đại [6, 150], so sánh với các đối ứng harei, hurei, trong tiếng Chăm và suluh trong tiếng Malais [6, 42], Nhẫn Gaston tái lập là *kroi [6, 31, 42, 150]. Các kiểu tái lập: *klɔi1 /*krɔi1 / *ksɔi1 > soi (chiếu sáng, chiếu vào).
(6) (trá 吒 + lao牢), xuất xứ: “Đàn chìm đạn ngọc sao Bắc, Phất dõi cờ lau gió Tây” (Nhạn trận 249.3). Ngoài sao (nghĩa: ngôi sao), còn có từ đồng âm khác nghĩa sao (hư từ: cảm thán, nghi vấn), có khả năng cũng đọc tương ứng vào thế kỉ XV. Chữ Nôm đang xét ở đây thuộc loại đặc hữu của văn bản QATT, trá là một âm quặt đầu lưỡi, cho nên việc tái lập không đơn giản. Một số học giả có lẽ đã liệt nó vào tự dạng tồn nghi nên đã không đưa vào nghiên cứu của mình. Nhẫn Gaston (và sau đó ảnh hưởng đến Paul Schneider) đã so sánh với tiếng Mường (Úy Lô), tái lập là *krao [6, 38]. Chúng tôi cho rằng ý kiến này rất đáng lưu ý. Bởi lẽ, dù chữ Nôm đó ghi tiền âm tiết gì, thì phần quan trọng không thể phủ nhận là thanh phù lao. Tạm thời, khi so sánh với các cứ liệu chữ Nôm E2 như đã trình bày trên, chúng tôi đưa ra các kiểu tái lập là: *klao, *krao, *ksao. Cách tái lập như trên sẽ có tính thống nhất khá cao. Tuy nhiên, chúng tôi muốn thảo luận thêm ở trường hợp này. Như ta biết các thổ ngữ Mường (Mường Danh, Giai Xuân) có đối ứng là thao [15, 124]. Một số phương ngữ và địa phương hiện nay vẫn có cách đọc là thao tháng (sao sáng). Nguyễn Tài Cẩn cho rằng đây là lưu tích của thủy âm kép đầu trong tiếng Mường, mà tiếng Mường đã rụng mất âm rung -*r- và cuối cùng ông đi đến nhận định khá quan trọng rằng “lai nguyên của S thuần Việt ở giai đoạn Proto Việt - Chứt đúng là những tổ hợp phụ âm đầu” [15,113]. Điều này gợi ý rằng, thủy âm kép ấy có khả năng vẫn còn tồn tại cho đến thời tiếng Việt cổ (thế kỉ XIII-XVI), mà cụ thể ở đây là tiếng Việt thế kỉ XV trong QATT của Nguyễn Trãi. Trình bày như vậy để thấy được tầm quan trọng của cứ liệu đang xét. Đến đây, bài viết muốn so sánh với các văn bản cổ có trước hoặc sau thời điểm này một chút. Phật thuyết tất thảy 11 lần đều dùng牢 mà không có yếu tố ghi yếu tố đầu của thủy âm kép, cứ liệu này xác quyết cho tính hệ thống của thanh phù Nôm để ghi ngữ tố đang xét. An Nam dịch ngữ xuất hiện sau QATT một chút chỉ ghi: 星抄 (tinh: sao), Vương Lộc tái lập là *ts’ao [40, 115]. So sánh với âm si có đối ứng trong thổ ngữ Mường là *c(ə)rĭ [15, 113], chúng tôi đề xuất kiểu tái lập *c(ə)rao hoặc *c’rao cho sao. Như ta biết, lai nguyên của S- Việt gồm có các tổ hợp *phl-, *khl-,… nay với cứ liệu này, ta có thể có thêm các khả năng là *c- hoặc *c’-. Tóm lại, chúng ta có mười khả năng tái lập: *c(ə)lao1 / *c(ə)rao1 / *c(ə)sao1 / *c’lao1 /*c’rao1 /*c’sao1 / *klao1/ *krao1/ *ksao1 và *ts’ao.
(7) (cự 巨+ liêu僚), xuất xứ: “Phú quý treo sương ngọn cỏ, Công danh gửi kiến cành hòe” (Tự thán 73.3). Ngữ tố này còn được ghi bằng 撩, nên tái lập dạng cổ là 3 ở vị trí: “Tuyết sóc treo cây điểm phấn, Quỹ đông giãi nguyệt in câu” (Ngôn chí 14.3). Nhẫn Gaston ở hai vị trí này lần lượt phiên là liều và trèo, gợi ý tái lập thủy âm kép *kl- hoặc *kr- [6, 44, 54]. Ông cũng dẫn trong nghiên cứu của mình hàng loạt thí dụ cho sự đối ứng kl- (Mường) và tr- (Việt) như sau: klai- trái, klại-trại, klao-trao, klăng- trắng, klận- trận, klật- trật, kle- tre, kliều- triều, kliện- truyện, klình- trình, klỏ- trỏ, klói- trói, klót- trót, klốk- trốc, klôi- trôi, klốn- trốn, klở- trở, klu- trâu,… [6, 45]. Các đối ứng Mường - Việt còn thể hiện phong phú hơn nữa qua thống kê của Nguyễn Văn Tài [24, 281-284]. Nguyễn Quang Hồng đọc là treo và tái lập là *kleu [17, 239]. Chúng tôi theo giả thuyết cuối và tái lập là: *klɛu1 > treo.
(8) (cư 車 + lung籠), xuất xứ: “Có của hằng cho lại có thông, Tích nhiều con cháu nọ trông” (Bảo kính cảnh giới 130.2). Ngữ tố này được ghi bằng (lung籠 + vọng望) (long竜 + trung中), nên tái lập dạng cổ là ở các vị trí (Thuật hứng 51.2), (Mạn thuật 26.2), (Hòe 244.2). Phật thuyết có 3 chữ Nôm để ghi ngữ tố này: ghi bằng chữ Nôm hai mã cố lung ở vị trí: “Trông mặt Bụt, con mắt chẳng phút từng thôi” < 瞻仰尊顏目不暫 (33a9), ghi bằng cá lung tại vị trí: Vỏng trông giáo thực thửa thốt < 瞻仰真乘說 (3a1), ghi bằng tại vị trí “Trông trong trời, kính trong đất” < 瞻天伏地 (43b3). Từ điển Việt Bồ La ghi: “tloò: trông đợi, trông cậy. tloò thày đến: tôi trông đợi thày sẽ đến. tloò cậy người: trông cậy vào ai. Troũ: cùng một nghĩa” [27, 233]. Như vậy, thế kỉ XV là *kl- / *kr- sẽ chuyển thành tl- trong thế kỉ XVII. Các kiểu tái lập: *kloŋ1/*kroŋ1> trông.
(9) (cổ古 + lộng弄), xuất xứ: “Giang san cách đường ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba” (Tự thán 94.6). Nhẫn Gaston tái lập *klống [6, 41]. Bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục (thế kỉ XIV) ghi tự dạng Nôm tương tự tại các vị trí 67b3, 75b3, 43b6, Trần Trọng Dương tái lập là *klống [36, 35]. So sánh với một số ngôn ngữ nhóm Việt Mường: klống (Mày), klống (Mã Liềng), klống (Đan Lai, Ly Hà) [40, 59]. Từ điển Việt Bồ La ghi: “tlãò: trống. Đánh tlãò: đánh trống. Giáo tlãò: cùng một nghĩa. tlãò cái: trống tròn” [27, 233]. Các kiểu tái lập: *kloŋ5/ *kroŋ5 > trống (cái trống).
(10) (tư 司 + bôi盃), xuất xứ: “Vui chẳng đã đạo làm lành”. (Tự thán 99. 8), “Ta nẻo ở đâu vui thú ấy” (Tự thán 103.7). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì , nên tái lập dạng cổ là ở các vị trí: “Vui xưa chẳng quản đeo âu” (Ngôn chí 19.8), “Khó miễn vui” (Thuật hứng 58.7), “Đổi lần mấy áng phồn hoa, Dầu ngặt ta vui đạo ta” (Bảo kính cảnh giới 168.2). So sánh với đối ứng pui (Mẫn Đức, Mỹ Sơn, Làng Um, Suối Sàng, Thạch Bi) trong tiếng Mường, Nhẫn Gaston tái lập là *kbui [6, 131]. Shimizu Masaaki dẫn đối ứng tapuj1 trong tiếng Rục [29, 769], và dẫn 2 xuất xứ trong Phật thuyết. Các kiểu tái lập: *tpui1 / *tbui1 > vui.
(11) (ba巴 + lại賴) và (cự巨 + lãn懶), xuất xứ: “Co que thay bấy ruột ốc, Khúc khuỷu làm chi trái hòe” (Trần tình 44.4), “Muốn ăn trái dưỡng nên cây, Ai học thì hay mựa lệ chầy” (Bảo kính cảnh giới 137.1), (Thuật hứng 64.4). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì , nên tái lập dạng cổ là ở vị trí: “Trường thiền định hùm nằm chực, Trái thì trai vượn nhọc đam” (Thuật hứng 64.4). Như vậy ta có 2 biến thể ngữ âm cùng tồn tại trong một văn bản là: *blai5/ *klai5> trái (cây trái). An Nam dịch ngữ ghi: 菓園:文拜quả viên (vườn trái) , ngoài ra còn xuất hiện ở các vị trí 188, 239, 595, Vương Lộc tái lập là *plai5 và *blai5 [40, 58]. Từ điển Việt Bồ La tuy không có mục từ trái trỏ hoa quả, nhưng có ghi nhận từ đồng âm trái (với nghĩa ‘phía trái, mặt trái’), như: “tlái áo, tay tlái, tlái mlẽ, nói tlái, tlái mặt thuốc, lúa tlái” [27, 230]. Các kiểu tái lập: *klai5 / *blai5 / *plai5.
(12) (cự 巨 + lâm林), xuất xứ: “Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không, Xem ắt lầm một thức cùng” (Thủy nguyệt trung 212.2). Ngữ tố này còn được ghi bằng chữ Nôm hậu kì 林, nên tái lập dạng cổ là ở vị trí: “Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé, Hòn đất hầu lầm, mất cái chim” (Bảo kính cảnh giới 150.6). Nhẫn Gaston tái lập *klầm [6, 62]. Chúng tôi thấy một số chữ Nôm có khả năng mang thủy âm kép kl- trong Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú như: 凜个 (lẵm), 粦个 (lăn), 吝个 (lấn), 禮个 (lẩy), 呂个 (lõa), 彔个 (lóc), 賂个 (lộ), 論个 (lộn), 律个 (lốt), 盧个 (lừa) [26, 623]. So sánh với mlầm và mnhầm trong Từ điển Việt Bồ La [27, 149]. Kiểu tái lập: *klam2 > lầm/ nhầm.
(13) (ma麻 + lệ例); (bộ khẩu 口+ ma麻 + lệ例), xuất xứ: “Chớ cậy sang mà ép nè, Lời chăng phải vuỗn khôn nghe” (Trần tình 44.2). “Này lời nhắn bảo khách bàng quan” (Bảo kính cảnh giới 185.1) và “Chẳng nhàn xưa chép lời truyền bảo” (Bảo kính cảnh giới128.7). Có thể thấy tự dạng sau là một chữ hậu kì phái sinh từ tự dạng trước bằng cách thêm bộ khẩu, nên nhất quán quy về tự dạng cổ hơn. Ngữ tố này được ghi bằng 麻列 trong Phật thuyết tại các vị trí "ma- lời nết thô xấu" < 言行乖疎(19a1), và tại các vị trí 6b3, 8b7, 19a9, 31a9, 42a5... (tần số 10 lần). Hoàng Thị Ngọ tái lập *mlời [8, 109]. Kiểu tái lập: *mlei2/ *mnhei2 > lời/ nhời.
(14) (cự 巨 + lãn懶), xuất xứ: “Chẳng ngừa nhỏ âu nên lớn, Nẻo có sâu thì bỏ canh” (Bảo kính cảnh giới 136.5). So sánh với một số đối ứng trong các ngôn ngữ bảo thủ như klan, glan, long (Stieng), karan (Mon), mran (Birman), gelen, leng (Santali), Nhẫn Gaston tái lập là *klớn [6, 40]. Sách Phật thuyết, một lần ghi ngữ tố này được ghi bằng chữ Nôm cổ hai mã 麻吝 (ma lận) tại câu “No ấy Bụt mới mặc tám đấng tiếng rộng ma-lớn bảo đại chúng rằng” < 爾時如來即以八種深重梵聲 (23a7). So sánh với mlớn trong Từ điển Việt Bồ La [27, 150]. Có thể thấy các diễn biến từ [ml-] và [mnh-] với [l-] và [nh-]. Như vậy, ngữ tố này có hai khả năng tái lập, các cứ liệu vừa nêu cho thấy, không thể xác quyết cách tái lập nào là cổ hơn, song với sự ghi nhận của Từ điển Việt Bồ La, thì đến thế kỉ XVII, *klən5 có thể đã biến mất. Song thức *klən5/ *mlən5 có thể đã cùng tồn tại trong tiếng Việt cổ thế kỉ XV. Các kiểu tái lập: *klən5/ *mlən5> lớn/ nhớn
(15) / (cư車 + lôi雷), xuất xứ: “Điệu khiếp thiên nhan chăng nỡ tận, Lui thuyền lãng đãng ở trên dòng” (Thủy nguyệt trung 212.8), “Gánh khôn đương quyền tướng phủ, Lui ngõ được đất Nho thần” (Trần tình 3.74), “Vũ Tử lui tuy chịu dại, Bá Di lánh mới nên thanh” (Bảo kính cảnh giới 166.5). Ngữ tố này thường được ghi bằng các chữ Nôm giả tá hoặc hình thanh hậu kì như và , nên tái lập tự dạng cổ là ở các vị trí: “Thân nhàn dầu tới dầu lui, Thua được bằng cờ ai kẻ đôi” (Ngôn chí 13.1), “Chỉn xá lui mà thủ phận, Lại tu thân khác mặc thi thư” (Mạn thuật 34. 7), “Bảo kẻ làm quan đã có duyên, Tới lui mặc phận tự nhiên” (Thuật hứng 53.2), “Sóng khơi ngại vượt bể triều quan, Lui tới đòi thì miễn phận an” (Bảo kính cảnh giới 160.2). Từ điển Việt Bồ La không thấy ghi dạng thủy âm kép ml-. Hiện chưa tìm thấy đối ứng trong các phương ngữ, cũng chưa tìm thấy các cách ghi chữ Nôm cổ cho ngữ tố này. Chữ Nôm đang xét chỉ xuất hiện ở QATT, nhưng xuất hiện 3 lần với hai tự dạng khác nhau về mặt hình thể. Với cấu trúc chữ Nôm ghi âm như đã phân tích, kiểu tái lập có thể là: *klui1 > lui/ lùi. Tương tự như *klən5> lớn ở trên.
(16) (cự 巨 + mộng夢), xuất xứ: “Ao quan thả gửi hai bè muống, Đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng” (Thuật hứng 68.5). Ngữ tố này còn được ghi bằng 夢, nên tái lập dạng cổ là ở câu “Rửa lòng thanh vị núc nác, vun ngõ ải rãnh mùng tơi” (Ngôn chí 10.4). So sánh với một số từ có thủy âm kép km-, như 木个 kmóc (Phật thuyết), 車 莽*kmắng (Phật thuyết),夢 巨 *kmòng (Thiên Nam ngữ lục) [8, 90-92], và麻个 *kmà, 買个 *kmái, 免个 *kmến, 免个*kmởn, 蔑个 *kmệt, 蔑个 *kmịt, 某个 *kmõ, 媒个 *kmối, 悶个 *kmuộn, 末个 *kmượt (Nguyễn Tá Nhí 1998, chuyển dẫn theo Hoàng Thị Ngọ trong [8, 92])4, (xem thêm Nhiếp Tân trong [26, 624]). Kiểu tái lập: *kmuŋ2> mùng (mùng tơi).
(17) (cự 巨 + mộng夢), xuất xứ: “Ao quan thả gửi hai bè muống, Đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng” (Thuật hứng 68.5). Ngữ tố này còn được ghi bằng 夢, nên tái lập dạng cổ là ở câu “Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen” (Thuật hứng 69.3). Nhẫn Gaston tái lập là *kmuống, ông so sánh với các từ có thủy âm m- (Việt) có đối ứng km- trong một số ngôn ngữ bảo thủ, ví như: mưa (Việt) - kơma (Sách), kama (Pọng), kơma (Tênh); môi (Việt) - kê muy/ kê man (Mường); mộng (Việt) - kơmơng (Bahnar) [6, 46]. Kiểu tái lập: *kmuəŋ5> muống.
(18) (cự 巨 + mĩ 美), xuất xứ: “Ngàn nọ so miền Thái Thạch, Làng kia mỉa cảnh Tiêu Tương” (Trần tình 42.4). Một số ngữ liệu khác: “Mỉa Đào Nguyên động, in đồ Vũ Lăng” (Chiêu Anh Các, Lư khê vãn c.24), “Nét phong tao mỉa chuyện hồng lâu, Trang thanh tú cũng phường bạch bích” (Đông Lộ địch tr.9), âm tái lập: *kmia3> mỉa (nghĩa là “giống với, so với”). Mỉa là một từ cổ được ghi nhận như sau: “美 mỉa. Similis, e. 美 枚 mỉa mai. 美羕 mỉa dạng. 美 似 mỉa tợ. 美 美 mỉa mỉa. 美 欮 mỉa chiệng”. [1, 292]. “Mỉa .n. Mường tượng, gần giống, không khác gì bao nhiêu. Mỉa mai. Mỉa giống. Mỉa dạng. Mỉa Tợ. Mỉa chiệng. Id.” [12, 646]. Trước nay, vị trí này thường được phiên là mở hay mẽ. Nay cải chính theo các cứ liệu trong từ điển cổ nêu trên. Từ cổ mỉa đã từng được chúng tôi đề cập đến [31, 48], nhưng thực sự đọc ở vị trí đang xét thì phải kể đến bài viết của Trần Uyên Thi và Nguyễn Hữu Vinh [35]. Với cách ghi chữ Nôm như đã phân tích ở trên, có thể tái lập là *kmia3 > mỉa. Thủy âm kép *km-, đã được Hoàng Thị Ngọ [8, 90-92] đề cập đến khá chi tiết, đã nêu ở trên, nay không nêu lại nữa.
(19) (ba巴 + lăng夌), xuất xứ: “Gió tận rèm thay chổi quét, Trăng kề cửa kẻo đèn khêu” (Thuật hứng 67.4). Ngữ tố này còn được ghi bằng , nên đổi tất sang dạng cổ ở các vị trí sau: (Ngôn chí 16.4), (Mạn thuật 23.6), (Tự thán 77.4, 78.3, 97.3, 98.4, 101.3), (Bảo kính cảnh giới 155.6, 167.6). Từ điển Việt Bồ La ghi “blang, blang tlòn, blang khuiét, sáng blang” [27, 39]. So sánh với một số đối ứng plang (Mỹ Sơn), plong (Úy Lô), klang (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, plan (Sách), plong (Hung, Pong), pulan (Rục), plang (Mày) và rơlêăng (Trì, Hang Koong, Khùa, Vân Kiều), balan, bulan (Chăm), bulan (Malais), Nhẫn Gaston tái lập là *plăng [6, 51]. Chúng tôi theo giả thuyết này. Một số đối ứng bổ sung theo Nguyễn Văn Tài như: plăŋ2 (Mường Thải, Tân Phong, Huy Thượng), tlăŋ2 (Yến Mao, Ba Trại, Mường Bi, Mường Khói,...), klăŋ2 (Mường Thàng, Mường Động, Mường Mặc) [24, 281]. Kiểu tái lập: *plaŋ1 >*blaŋ1> trăng/ giăng.
(20) (ma 麻 + lệ例), xuất xứ: “Đạo này để trong trời đất, Nghĩa ấy bền chưng đá vàng” (Tự thán 93.3). Chữ Nôm đang xét dù rằng được coi là cổ, nhưng lại là một chữ Nôm giả tá, vốn để ghi âm *mlei2 (> lời, nhời)5, Trong văn bản, ngữ tố trời đều được ghi bằng một chữ Nôm muộn hơn nữa là , xuất xứ: “Quân thân chưa báo lòng cánh cánh, Tình phụ cơm trời áo cha” (Ngôn chí 8.8, 10.1, 14.8), (Trần tình 38.7, 40.1, 45.8), (Tự thán 85.8, 96.1), (Bảo kính cảnh giới 146.7, 175.1, 182.5) (Tích cảnh thi 209.2), (Thủy thiên nhất sắc 213.1), (Trúc thi 223.2), (Mộc hoa 241.1), (Trường an hoa 246.2), (Lão hạc 248.7). Đây có thể là sản phẩm dọn bản của nhóm Dương Bá Cung vào thế kỉ XIX. Để thống nhất chính tả với ngữ âm, có lẽ nên tái lập dạng cổ là (ba 巴+ lệ例), đây là tự dạng không hề xuất hiện trong văn bản QATT, nhưng lại may mắn còn bảo lưu trong văn bản Phật thuyết. Có thể tái lập văn tự cổ cho các vị trí khác trong toàn văn bản. An Nam dịch ngữ ghi 天雷 (số 1), Vương Lộc tái lập *blời [40, 115]. So sánh với các đối ứng tlơy (Vân Mộng, Hạ Sữu, Thái Thịnh, Đông Tân, Ban Chanh, Thái Lai) và plơy (Mỹ Sơn, Úy Lô, Ban Ken), klơy (Suối Săng, Quy Mỹ, Thạch Bi), tlơy, klơy (Nho Quan) trong tiếng Mường và một số đối ứng trong các ngôn ngữ bảo thủ như plơy (Sách), prơy (Pọng), p’lơy (Mày, Rục), t’lơy (Arem), bri (Xa Khao), kre (Brou), bri (Khmu, Tênh), preah (Khmer), Nhẫn Gaston tái lập là *plời và *klời [6, 52], ông còn cho rằng blời là diễn biến từ *plời, điều đó có nghĩa là *plời là dạng cổ hơn, có khả năng thực tế vào tiếng Việt thế kỉ XV [6, 52]. Kiểu tái lập: *plei2/ *klei2> trời/ giời.
(21) (cư 車 + lược畧) xuất xứ: “Kìa nẻo Tô Tần ngày trước, Chưa đeo ấn tướng có ai chào?” (Thuật hứng 66.7), “Chớ cười hiền trước rằng dại, Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân” (Tích cảnh thi 204.3). Nhẫn Gaston tái lập *klước khi so sánh với An Nam dịch ngữ và các đối ứng klước (Thạch Bi), tlước (Mẫn Đức) [6, 43]. “An Nam dịch ngữ” ghi 山前內勒 (số 72), Vương Lộc tái lập 勒 là *tlước theo Từ điển Việt Bồ La hoặc *klước theo thổ ngữ Lâm La của tiếng Mường [40, 122]. So sánh với các đối ứng *klɯək3 (Mường Thải, Tân Phong, Huy Thượng), *tlɯək3 (Giáp Lai, Yến Mao, Ba Trại, Mường Bi, Mường Khói, Mường Vôi, Mường Khơi, Mường Vang, Mường Cời, Mường Nèn...), *tlɯək5 (Mường Ống, Mường Danh, Mường Dồ, Tam Hợp, Giai Xuân, Sông Con) [24, 284]. Nguyễn Quang Hồng tái lập là *klak [17, 239]. Kiểu tái lập: *klɯək5> trước (đối lập với sau).
(22) (a 阿 + gia耶), xuất xứ: “Giũ bao nhiêu bụi bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng lâm” (Ngôn chí 5.2). Nguyễn Quang Hồng tái lập là *?ja , ông cho rằng阿 a có lẽ thể hiện âm tắc họng *[-] hoặc xát họng *[h-] [17, 238]. Nhẫn Gaston không đề cập và tái lập cho vị trí này. Qua khảo sát hơn chục chữ Nôm hai mã có 阿trong Phật thuyết, Hoàng Thị Ngọ cho rằng 阿 a là dấu vết của các âm tiền thanh hầu hóa (préglottalisées) ở đầu âm tiết và các yếu tố tiền âm tiết, thí dụ阿質阿至 achất achí (43b3) dùng để ghi chữ giặt giạ (rửa ráy, sám hối), hay 阿与 adư (dư = như) [8, 58, 110, 114], tác giả cho rằng, những cứ liệu trên trùng khít với giả thuyết mà Michel Ferlus đã đề xuất về một âm *j- [8, 113] bên cạnh các âm *b-, *d-, *g-. Kiểu tái lập: * jə1 > giơ.
(23) (cự 巨 + triều朝), xuất xứ: “Giàu mấy kiếp tham lam bấy, Sống bao lâu đáo để màng” (Thuật hứng 55.3), (Tự thán 77.1, 88.5, 105.7), (Bảo kính cảnh giới 139.1, 170.8, 175.3). Nhẫn Gaston tái lập là *kčàw, từ việc so sánh với các đối ứng čảo (Bái Đính, Bàn Ken) trong tiếng Mường. Ông cũng đưa ra trường hợp giò (chân cẳng) có các đối ứng kê čỏ (Canh Nan), kê čò (Ban Đào) trong tiếng Mường, và kơ cổ trong tiếng Sách [6, 35]. Nhiếp Tân khảo sát chữ xuất hiện với tần số 12 lần trong Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, tác giả còn cung cấp thêm ngữ tố giúp được viết bằng chữ Nôm {巨cự (trên) +執chấp (dưới)} xuất hiện một lần (Truyền kì mạn lục QIV 57a) [26, 627]. Kiểu tái lập: *kjau2> giàu (trái với nghèo).
(24) (cự 巨 + phiêu票), viết nhầm từ栗巨 (cự 巨 + lật 栗) xuất xứ: “Lặt hoa tàn xem ngọc rụng, Soi nguyệt xấu kẻo đèn khêu” (Tự thán 105.5). Nguyễn Quang Hồng cho là lầm từ 稟巨 (cự 巨 + lẫm稟) nên lái lập là *klam, và phiên chuyển là lượm [17, 239]. Tuy nhiên, văn bản QATT nhầm có hệ thống giữa lật栗và phiêu 票 khi ghi các từ sắt ( < ), trật (票<栗). Lặt/ nhặt còn thấy trong một số từ như: lượm lặt, lượm nhặt. Nhẫn Gaston tái lập là *klặt [6, 43, 62]. Từ điển Việt Bồ La ghi mlặt, mnhặt [27, 149]. Chúng tôi theo kiểu tái lập của Gaston. Như vậy, *klăt6 là âm vào thế kỉ XV, trong khi đến thế kỉ XVII là mlặt, mnhặt. Hiện chưa rõ quá trình biến đổi giữa các thủy âm kép này, có thể thế kỷ XV vẫn tồn tại song thức, nhưng đến thế kỉ XVII, *kl- đã biến mất, chỉ còn *ml- (xem thêm mục từ lớn tại số 14 của bài này). Kiểu tái lập: *klăt6> lặt/ nhặt.
(25) (cự 巨 + lẫm稟) xuất hiện ở 168.3. Vị trí này trước nay được phiên thành ngắm, cách phiên này rời bỏ hoàn toàn sự kí âm của chữ Nôm mà đọc theo cảm thức ngôn ngữ của tiếng Việt hiện đại. Tại vị trí 226.2, ngữ tố đang xét được ghi bằng (lẫm凜 + cá nháy ), trước nay được phiên là thầm, cách phiên này là hữu lí, tuy nhiên các nhà phiên chú chỉ mặc nhận mà không lí giải vì sao lại đọc như vậy. Ta thử xem lại toàn bộ ngữ cảnh: “Thầm xem mai hay tuyết đến, Say thưởng nguyệt lệ thu qua” (Bảo kính cảnh giới 168.3), “Bóng thưa ánh nước động người vay, Thầm đưa hương một nguyệt hay” (Mai thi 226.2). Sở dĩ có thể xác định âm đọc như vậy, bởi ngữ cảnh đã khá rõ ràng. Chúng tôi cho rằng, thầm hiện nay vốn được đọc là sầm và sầm lại có âm đọc cổ hơn với thủy âm kép. Ta biết s- / th- là một cặp có quan hệ. Theo Nguyễn Ngọc San, s’-> th- được đoán định là xảy ra vào thế kỉ XVI [22, 38]. Hơn nữa, s- cổ hơn th-, còn kl- lại là lai nguyên cổ hơn nữa của s-. Về nghĩa, ngữ tố đang xét được dùng để dịch chữ ám trong câu暗香浮動月黄昏 Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn (Hương thầm nổi động nguyệt hoàng hôn) - một câu thơ nổi tiếng của Lâm Bô. Ngoài các cứ liệu trên, chúng tôi còn tìm được cách đối dịch tương tự trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh (thế kỉ XIV), “Thầm gióng mây tóc đà mai trắng” <暗催新髪白. Ngữ tố trên còn được ghi bằng chữ Nôm 禀多 tại vị trí 37b.46, có thể tái lập thủy âm kép là tl- (dùng d- ghi t), hoặc là bảo lưu một tiền âm tiết ?r- như nghiên cứu của Hoàng Thị Ngọ trong sách Phật thuyết [8, 61]. Ngữ liệu trên cho thấy một diện mạo phong phú và tính đa khả của thủy âm kép từ tiếng Việt tiền cổ đến tiếng Việt cổ. Chữ sầm/ thầm là một phó từ đứng trước động từ: thầm đưa, thầm xem, thầm gióng cũng như thầm nghĩ, thầm nhớ trong tiếng Việt hiện nay. Các kiểu tái lập: *klâm2/*krâm2 / *ksâm2> sầm > thầm (ngầm, lặng).
(26) (cá 个 + ngọ午), xuất xứ: “Ngủ tênh hênh nằm cửa trúc, Say lểu thểu đứng đường thông” (Thuật hứng 61.3). Vị trí này thường được phiên là ngõ, chỉ có bản Bùi Văn Nguyên phiên là ngủ, chúng tôi theo cách phiên chuyển này, bởi lẽ ngủ là động từ, chuẩn đối với say ở câu dưới. Ngữ tố này còn được ghi bằng và ở các vị trí: “Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ, Vầng nhật lên khuở nước cường” (Trần tình 42.5), “ngủ thì nằm đói lại ăn, Việc vàn ai hỏi áo bô cằn” (Tự thán 110.1), nên dùng dạng cổ là . Nhẫn Gaston tái lập là *kngủ [6, 46]. Chúng tôi theo giả thuyết này. Thủy âm kép *kŋ- xuất hiện khá ít trong chữ Nôm. Nhiếp Tân khảo sát một trường hợp như 外个 (nguội) 魚个 (ngơ) và ghi thủy âm kép *kŋ- trong Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú tại các vị trí QI trang 26a và QI trang 10a [26, 624] Chúng tôi bổ sung một số trường hợp như sau. Ngừ được ghi bằng 魚个 trong câu “trư ngu: vuông vức cá ngừ cá nhưng” (Chỉ Nam ngọc âm, 58a); ngộn được ghi bằng 言个 trong câu “Người cả Trang Khương tốt ngộn ngộn” (Thi kinh giải âm 40b). Đến đây, chúng tôi muốn bổ sung một số cứ liệu nữa về tổ hợp kŋ- trong Phật thuyết, như ngậm (một từ gốc Hán)7 được viết thành 阿 吟 trong câu “nhịn chịu a-ngậm trong lòng” < 忍受甘心 (42a7), Hoàng Thị Ngọ cho rằng阿a là một âm tiền thanh hầu hóa, tác giả tái lập âm đầu là *?ng- và giải thích rằng các âm ?m-, ?n-, ?nh-, ?ng- là dấu vết của ?b-, ?d-, ?j-, ?g- khi chúng chuyển sang các âm phản chiếu mũi hóa [8, 114-115], các thí dụ được đưa ra (có gốc Hán) như: ?bên <多邊, ?bằng < 多朋, ?nghe < 多宜,... Với tình hình cứ liệu chữ Nôm như đã nêu, khả năng thủy âm kép *kŋ- cũng có thể xảy ra trên thực tế. Bức tranh về các thủy âm kép có -ŋ- cần phải tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới với những cứ liệu mới phong phú hơn. Kiểu tái lập: *kŋu3 > ngủ.
(27) (tư司 + bố布), xuất xứ: “Vua Nghiêu Thuấn dân Nghiêu Thuấn, Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền” (Tự thán 74.7). Ngữ tố này còn được ghi bằng ở vị trí “Ơn vua luống nhiều phần đội, Việc nước nào ích mỗ bề” (Tự thán 100.3). So sánh với các đối ứng pua (Mẫn Đức) trong tiếng Mường, và qua thanh phù 布pwo, Nhẫn Gaston tái lập là *kbua [6, 131], tuy nhiên ông không giải thích chữ 司tư có chức năng gì trong cấu trúc của chữ Nôm. Chúng tôi cho rằng tư 司cũng là một yếu tố biểu âm dùng để ghi yếu tố t- của thủy âm kép *tp- hoặc *tb- như đã tái lập ở trên. Phật thuyết ghi ngữ tố này bằng (viết tắt từ ) tại câu “Kính lễ Bồ Tát cắt vai tay mà đỡ vua cha” < 南無割臂救父王 (5a1), Hoàng Thị Ngọ cho rằng đây là chữ Nôm ghi thành tố phụ (tức yếu tố thứ nhất của thủy âm kép), nhưng tác giả không đưa ra kiểu tái lập của mình [8, 73]. Shimizu Masaaki cho rằng đây có khả năng là một chữ Nôm ghi cấu trúc song âm tiết trong tiếng Việt cổ ( thuộc nhóm b’-4), ông cho là là t1 o5 [29, 769]. Sở dĩ vậy bởi chữ vui, được ghi bằng chữ Nôm , vốn có đối ứng dạng song tiết trong tiếng Rục là tapuj1 [29, 769]. Tuy nhiên, ngữ tố đang xét là từ song tiết hay là từ có thủy âm kép thì chúng tôi xin được thảo luận trong một dịp khác, ở đây tạm chấp nhận đó là thủy âm kép. Kiểu tái lập: *tpua1/ *tbua1 > bua> vua.
(28) (cá个 + tốc速), xuất xứ: “Thì nghèo sự biến nhiều bằng tóc, Nhà lạnh quan thanh ngặt nữa đèn” (Thuật hứng 46.5). Ngữ tố tóc còn được ghi bằng ở các vị trí (Trần tình 43.4), (Thuật hứng 46.5), (Thuật hứng 65.6); tơ tóc (Tự thán 80.1), biên tóc (Tự thán 82.6, 99.5), (Tự thuật 112.5), 113.4), (Bảo kính cảnh giới 165.4). So sánh với các đối ứng kê siak (Làng Lum), kê šak (Ai Thương), kê sak và sak (Canh Nan), kây sak (Ban Đào), sak (Đông Tân, Lâm La), tók (Cao Trai), šak (Ban Pê Ngoai, Ban Ken, Thái Lai, Ban Chanh), thắk (Đà Nang, Tân Ly, Bái Đính), thak (Suối Sang, Làng Um) trong tiếng Mường8, với các đối ứng kơ súk trong tiếng Sách, souk tiếng Pọng, tsơk, tsâk tiếng Bahnar, Nhẫn Gaston tái lập là *ksók [6, 35]. Chúng tôi thấy cách tái lập trên là có lí. Kiểu tái lập: *ksɔk5.
(29) (cá个 + tất 悉), xuất xứ: “Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch, Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc Phong” (Bảo kính cảnh giới 178.3). Vị trí này trước nay được phiên là chặt. Nhẫn Gaston phiên là dứt, tái lập là *ksất, và cho quá trình biến âm từ *ksất > *tsất> tất > chặt [6, 36-37]. Chúng tôi phiên là đứt vì những lí do sau. Thanh phù悉 tất (và 怛đát) thường dùng để ghi đứt trong các văn bản chữ Nôm, tương ứng thủy âm t- và đ-. Và quan trọng hơn, đứt luôn được dùng để đối dịch với chữ đoạn (斷) trong Hán văn, thí dụ: “đoạn: đứt, tài: may; liệt: bày, thao: giấu” (Tam thiên tự, 102).Việc đối dịch âm tiết như vậy còn để lại lưu tích trong từ đứt đoạn của tiếng Việt hiện nay9. Thí dụ, bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh (thế kỉ XIV) có câu “Tiếng dế ngâm xui đứt (瀭) ngọn bạch dương” < 蛩聲吟斷白楊稍 (16a10), Phật thuyết có câu “Bằng vượn kêu dấu con, gan lòng đứt (怛) làm tám tấc” <如猿啼愛子寸寸斷肝腸 (15b9); Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú có câu “Mà chưng mạch Kinh Thi, Kinh Thư hầu đứt (悉刂) mà lại nối” <而詩書之脈幾斷而復續 (I 11a1). Câu thơ “Đứt vàng chăng trớ câu Hy Dịch” ở đây vốn dịch từ cụm二人同心其利斷金 “Nhị nhân đồng tâm kì lợi đoạn kim” (hai kẻ đã một lòng, thì sắc bén có thể chặt đứt được vàng) từ sách Kinh dịch. Ngữ tố này còn được ghi bằng怛 (đát) ở các vị trí “Dợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ, Quan cao nào đến dạng người ngây” (Bảo kính cảnh giới 137.3, 142.5, 174.7, 176.3), nay nên đổi về dạng cổ. Thủy âm kép *k- đã từng được Hoàng Thị Ngọ nghiên cứu kĩ lưỡng khi khảo sát các chữ Nôm trong Phật thuyết. Tác giả cho rằng怛个 ghi *kđát > nát, 对 个 *kđối > dối, 亭巨 *kđành > dành (QATT), *kđựng > dựng (Đại Việt thông sử), và帶巨 *kđưới > dưới [8, 93]; [9]. Một số bản giải Nôm được in vào đời Lê như: Gia lễ, Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Sô Nghiêu đối thoại... còn giữ lại được dấu vết của các cách ghi cổ như: 潭个 *kđầm >đầm, 等个 *kđẵng > đẵng, 待个 *kđẫy > đẫy, 屯个 *kđùn > đùn, 代个 *kđời > đời. Với cứ liệu chữ Nôm đã nêu, kiểu tái lập có thể là *ktwt5. Quá trình biến đổi ngữ âm có thể là *ktwt5> *kɗwt5> ɗwt5. Rồi từ ɗwt5 (đứt) mới sang dwt5 (dứt).
(30) (cự 巨 + đình亭), xuất xứ: “Hổ phách phục linh nhìn mới biết, Dành còn để đỡ dân này” (Tùng 220.4). Nguyễn Quang Hồng cho rằng đây là chữ Nôm hội âm chính phụ giả danh (cự không tham gia biểu âm mà chỉ có chức năng báo hiệu đọc chệch âm), nên không tiến hành tái lập mà chỉ phiên là dành [17, 243]10. So sánh với đối ứng pơdieng trong tiếng Bahnar, và thanh mẫu (定định) của thanh phù 亭, Nhẫn Gaston tái lập là *kdjành [6, 35]. Hoàng Thị Ngọ cũng phiên dành và tái lập là *kđành [8, 93]. Kiểu tái lập cuối cùng là có lí, bởi tác giả đã đưa ra hàng loạt các chứng cứ chữ Nôm ghi thủy âm kép *kɗ- trong Phật thuyết và một số chứng cứ văn bia - văn Nôm từ khảo sát của Nguyễn Tá Nhí như *kđầm, *kđẵng, *kđẫy, *kđùn, *kđời,... [chuyển dẫn 8, 93-94]. Ngữ tố này còn được ghi bằng và tại vị trí (Tự thán 90.7) và (Bảo kính cảnh giới 146.8), nay nên cải chính về dạng cổ. Phật thuyết ghi ngữ tố dày bằng chữ Nôm苔巨 tại vị trí “hằng sức phấn sáp dày” < 長施粉黛濃 (15a2). Như vậy, kiểu tái lập là *kɗaɲ2. (31) (cá 个 + hai台 < 咍), xuất xứ: “Nhân nghĩa trung cần chử tích ninh, Khó thì hay khốn khéo hay hanh” (Bảo kính cảnh giới 131.2). Ngữ tố này trước nay nhất loạt đều được đọc là hay. Nhưng chỉ duy nhất có Nhẫn Gaston tiến hành tái lập ngữ âm. Ông đưa ra 6 cứ liệu sau: (1) Thanh phù咍hai thuộc thanh mẫu 曉hiểu (khai khẩu). So sánh với một số đối ứng trong tiếng Mường như hài (Bái Đính), hải (Dan Ken), hay (Làng Lum, Ban Đào, Đông Tân), hai (Ban Pê Ngoai, Suối Săng, Làng Um), hay (Thạch Bi); (2) Dẫn một số cứ liệu của J. Cuisinier (1946)11 về thủy âm kép *kh- trong tiếng Mường, như hè (Việt) có đối ứng kê hể trong thổ ngữ Ai Thương, Ban Đào; hiệu (Việt) có đối ứng kê hió (Ai Thương), hình có đối ứng kê hĩn (Ai Thương); (3) So sánh hổ 虎 (là một từ gốc Hán, thuộc mẫu hiểu曉) với một số đối ứng trong ngôn ngữ bảo thủ như: k’hal (Pọng), hal (Mày), kohal (Rục), k’hal (Mường), khán (Nguồn), ku hal (Sách); (4) Hoa Di dịch ngữ ghi 春夏中嫁 (số 134), trong đó hạ được phiên âm bằng 嫁 (thuộc thanh mẫu kiến 見, khai khẩu, *ka/ka-/kia; (5) Dẫn một số lưu tích của thủy âm kép *kh- còn tồn tại trong tiếng Việt như: không - hông, ngùi (cùi)12 - hủi; (6) Dẫn lí thuyết của Maurice Granmont trong sách Traité de phonétique (Paris: 1960, p.169) về kiểu thủy âm kép gồm một âm tắc (occlusive) đứng trước kết hợp với một âm hút vào (aspiration) ở phía sau. Cuối cùng, Nhẫn Gaston tái lập là *khaj (thủy âm kép *kh-), quá trình biến đổi âm từ *khaj > rụng k- > haj (hay) [6, 38-39]13. Cách tái lập của Nhẫn Gaston là có thể xảy ra trên thực tế. Chúng tôi còn tìm thấy một số cứ liệu bổ sung như dưới đây. Phật thuyết dùng chữ Nôm để ghi ngữ tố hai trong câu “hai óc là nghiệp sơn” < 二名業山 (10b3). Sách này còn dùng chữ Nôm (cá + hằng) để ghi ngữ tố hằng ở câu “K-hằng no nấu vật mệnh” < 長時烹物命 (16a7), (cá hằng) tại câu “k-hằng sức phấn sáp dày” < 長施粉黛濃 (15a2) và dùng chữ Nôm 波 恒 (ba hằng) để ghi ngữ tố hằng ở câu “bèn cùng họ hàng vui dấu ba-hằng trái” < 便與親族歡愛長乖(20a5)14. Nhiếp Tân tìm thấy chữ Nôm 戶巨 (cự + hộ) ghi ngữ tố họ (trong họ hàng), và cho rằng đây là chữ hội âm chính phụ [26, 627], tuy nhiên tác giả coi chữ cự chỉ có chức năng chỉnh âm. Theo chúng tôi có khả năng đây rất có thể là lưu tích của thủy âm kép *kh-. Kiểu tái lập: *khaj1. (32) (cổ + nô), xuất xứ: tại vị trí 117.7. Nguyên câu này trước nay được phiên âm là “Dường ấy của no cho bậc nữa, hôm dao đáo để cố công mang”, và của được hiểu là một danh từ, riêng Nhẫn Gaston cho rằng nên phiên古奴là cơ no, coi thủy âm của 古 và 奴được dùng để ghi thủy âm kép *kn- trong tiếng Việt cổ. Nhẫn Gaston dẫn một số đối ứng kơ - nò (Quy Mỹ, Ban Chanh, Ban Pê Ngoai, Thái Lai), hay kơ - no (Canh Nan, Ban ken), kơ - nơ (Đông Tân), kư - no (Ai Thương), kưa - no (Ban Đào), kư - no (Thạch Bi) [6, 46-47] và dẫn chứng thêm một số ngữ tố có thủy âm kép kn- như: nách (Việt) có đối ứng ku nek (Mường), ku nê (Sách), kơ nê (Bahnar), kơ nei (Stieng) [6, 46-47]. Về mặt nghĩa, từ no ở đây là một từ cổ, nghĩa là đủ, lưu tích còn thấy trong từ no đủ của tiếng Việt hiện đại. Trong Phật thuyết, chữ no với nghĩa “đủ” xuất hiện 13 lần, đều ghi bằng chữ Nôm đơn 奴no. Trong khi, no với nghĩa “khi, lúc” lại có 4 lần được ghi bằng个奴cá no tại các vị trí 13b3, 17a5, 27a5, 29b5. Hoàng Thị Ngọ cho rằng đây chỉ là các cách ghi khác nhau cho thủy âm kép kn-. Trong đó, 个奴là viết dưới dạng hai mã chữ tách rời; dạng {个cá (trên) + 奴no (dưới)} là chữ Nôm một mã nhưng có hai thành tố ghi âm trên cùng một mã chữ Nôm nó; và chữ 奴 là dạng chữ Nôm đơn một thành tố (đã loại bỏ thành tố thứ nhất, chỉ giữ lại thành tố thứ hai). Tác giả đề xuất cách tái lập ngữ âm cho cả 3 cách ghi Nôm trên là *kno [8, 94-95]. Tác giả còn dẫn thêm các thí dụ khác cho thủy âm kép *kn-. Như chữ (巨+囊) ghi *knặng (nặng) trong câu “Ấy mới thực trả được ơn nặng (*knặng) áng nạ” (30a5), chữ良个 trong (口尔 良个 nể nang) trong câu “Lòng nể nang (knang) trước mặt” (42b-1) và một số địa danh, nhân danh trên bia đời Trần (bia Dục Thúy, Ninh Bình) như: 杜个尼Đỗ Cá Ni, 杜箇 尼 Đỗ Cá Ni, 个南Cá Nam [8, 95]. Tác giả cũng dẫn một số cứ liệu do Nguyễn Tá Nhí khảo sát như: Ghi nải bằng 乃个 (cá + nãi) = *knải > nải
- nưa - 那个 (cá + na) =*knưa> Nưa (núi Nưa)
- nom - 南个 (cá + nam) = *knom > nom
- nem - 念个 (cá + niệm) = knem > nem (chuyển dẫn Hoàng Thị Ngọ trong [8, 96]).
Với những cứ liệu bổ sung như trên, cách phiên chuyển và giả thuyết tái lập thủy âm kép *kn- cho chữ no trong QATT của Nhẫn Gaston là có cơ sở thực tế. Âm tái lập có thể là *kno1. Còn một số điểm hiện nay chưa thể giải quyết được. Song giả thuyết trên vẫn nêu ra ở đây như là một gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tóm lại, như trên đã trình bày, chúng tôi đã tiến hành tái lập ngữ âm và tái lập văn tự cổ cho 32 ngữ tố xuất hiện với tần số 98 lần. Trên cơ sở 47 lượt chữ Nôm cổ dạng E2 (ghi các từ có thủy âm kép đầu), chúng tôi đã tiến hành tái lập được 55 lượt chữ Nôm cổ cho văn bản Dương Bá Cung. Trong đó đính chính được hai trường hợp chữ Nôm ghi trời và lặt. 15 thủy âm kép đã được tái lập qua các chữ Nôm cổ E2 gồm có: (1) *kl- (*ks-, *kr-), *kl- (> *bl-), *kl- (> *ml-), (2) *khl- (*khr-, *khs-), (3) *tp- (*tb-), (4) *c’r-, (5) *ml-, (6) *km-, (7) *pl- (> *tl-, *bl-), (8) *?j-, (9) *kj-, (10) *kŋ-, (11) *ks- (> *kt-), (12) *kt > *kɗ-, (13) *kd-, (14) *kh- và (15) *kn-. Không những thế, các chữ Nôm cổ trên còn cho ta thấy một diện mạo phong phú hơn, phức tạp hơn của các thủy âm kép vào thế kỉ XIV- XV. Số lượng các thủy âm kép cũng như các ngữ tố trong QATT không chỉ giới hạn ở đây, mà cần tiếp tục khảo sát qua các chữ Nôm hậu kì, vấn đề này sẽ được trình bày trong bài viết khác15.
CHÚ THÍCH
1 Sở dĩ nói là “bất luận” bởi lẽ các kí hiệu chữ Hán dùng để ghi yếu tố đầu của thủy âm (dù đứng trên, bên phải, hay bên trái chữ), vẫn chỉ có chức năng duy nhất là ghi yếu tố đầu của thủy âm kép. Sở dĩ có những cách viết khác nhau như vậy là do người viết đã bố trí kết cấu, gian giá của các kí tự đó trong một khối vuông. Những sắp xếp ấy thuần để phục vụ cho hình thể, thuộc về lĩnh vực thư pháp cổ điển.
2 Xem thêm Nguyễn Hùng Vỹ, 2010.
3 Tra “Tự điển Chữ Nôm” của Viện NC Hán Nôm, chúng tôi thấy tự dạng đang xét là tự dạng duy nhất đến nay tìm được dùng để ghi âm cổ của ngữ tố này. Các chữ Nôm trong các văn bản khác chỉ dùng thanh phù liêu ở dạng lưu tích, chưa kể đến các chữ Nôm hậu kì ghi chính xác bằng thanh phù có TR- hoặc CH-.
4 Năm 2009, chúng tôi đã khai thác một số chữ Nôm ghi thủy âm kép *km- như sau: “渕ghi Kmắng (nghe) [26b3, 41b4, 43b5, 69b6, 57a6, 57b3, 57b5, 72b5, 73a6]. 口末ghi Kmất [13b1, 13b1, 23a3]. 尲ghi Kmến [22a2, 24a1, 48b5, 67b6]. 口麻ghi kmờ [18a1]. 口每ghi kmỏi [10a3]. 口每ghi kmọi [19a2]. 口門ghi kmòn [21b6, 49a6]. 口夢ghi kmông [8a6]. 口戊ghi kmù [34b6, 37a6, 40a4]. 口牟ghi kmù [6a5, 6a5]. 口茂ghi kmù [8a1]. 嗎ghi kmựa [9b3, 23b1, 24b5, 25b2, 31a6, 34a3, 37a2, 38a1, 47a5, 47a6, 47b1, 53a1, 55b3, 55b5, 55b6, 60b6, 74a6]. 口莫ghi kmúc [57a2]. 口每ghi kmũi [65a2].” [37, 38]. Ngoài chữ渕ghi Kmắng và嗎ghi kmựa, các trường hợp còn lại, về mặt văn bản và văn tự là không chính xác so với văn bản gốc. Các chữ này đều có các kí hiệu phụ, chứ không hề có bộ khẩu. Đây là nhầm lẫn nghiêm trọng trong quá trình vi tính hóa và nghiên cứu của chúng tôi. Nhân đây, chúng tôi xin cải chính và xin lỗi.
5 Lưu ý ở đây là *ml- và *bl- là các thủy âm kép có vị trí cấu âm gần nhau, đều có cấu trúc: âm môi môi+ âm lỏng.
6 Trước đây (2009), chúng tôi phiên là sẩm (Trần Thái Tông, 2009: 149), nay xin cải chính.
7 Xin xem Trần Trọng Dương. Từ nguyên của một số từ đơn tiết gốc Hán. Kỉ yếu Hội thảo Quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: Những vấn đề lí luận và thực tiễn”. Nxb ĐHQG, Hà Nội, 2011.
8 Qua khảo sát của Nguyễn Văn Tài (2006: 279) thì tiếng Mường cuối thập kỉ bảy mươi của thế kỉ XX đã nhất loạt biến mất các thủy âm kép. Vấn đề này cần tiếp tục tìm hiểu.
9 Đây là một cơ chế tạo nên hàng loạt từ vựng song âm tiết trong tiếng Việt. Tuy nhiên, đến nay chưa có thống kê và nghiên cứu cụ thể về vấn đề này.
10 Tiếc rằng Nguyễn Quang Hồng không nêu những tiêu chí để phân biệt giữa trường hợp này với các chữ Nôm ghi thủy âm kép.
11 Jeanne Cuisinier. 1946. Les Muong: Geographie Humaine et Sociologie. Paris: Institut d'ethnologie, 618 p. Bản dịch tiếng Việt: Jeanne Cuisinier. Người Mường: địa lí nhân văn và xã hội học. Nxb Lao động, 2007.
12 Nguyên văn, Nhẫn Gaston chỉ dẫn ngùi, nay chúng tôi bổ sung thêm cùi.
13 (thanh phù: cẩm). Âm tái lập: *khham3> gẩm/ hẩm. Cẩm là âm Hán Việt, như trong từ thập cẩm, lại có âm Hán Việt Việt hóa là gấm. Dựa vào cứ liệu này, Nhẫn Gaston tái lập là *k’həm, diễn biến: *k’həm> hẩm [6, 37]. Dựa vào đối ứng găm trong tiếng Bahnar, Paul Schneider đọc là gẩm (1987: 425). Kiểu tái lập của Nhẫn Gaston và cách phiên của Paul Schneider là có lí. Hẩm (nghĩa: cơm gạo vì để lâu quá nên bị mục ải, mất chất và có màu đen), có lẽ đồng nguyên với từ cẩm (đen) trong gạo cẩm, nếp cẩm. “Từ điên Việt Bồ La” ghi HẨM, GẠO HẨM: gạo đen mốc mốc. Gạo hẩm: cùng một nghĩa [27, 112]. Khách hiền nào quản quen cùng lạ, Cơm đói nài chi hẩm miễn khê. (Bảo kính cảnh giới 141.4).
14 Có điều tiếc là cả ba chữ Nôm cổ trên đều không được đưa vào Tự điển chữ Nôm (2006) của Viện NC Hán Nôm, mặc dù các tác phẩm đều nằm trong diện khảo sát.
15 Trần Trọng Dương. Thủy âm kép thế kỉ XV qua chữ Nôm hậu kì trong Quốc âm thi tập (bản thảo hoàn chỉnh) và Một số từ gốc Hán có cấu trúc CCVC qua ngữ liệu thơ Nôm trong Quốc âm thi tập (bản thảo hoàn chỉnh).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Béhaine, Pierre Pegneaux de (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1772 (Tự vị An nam La tinh), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb Trẻ, 1999.
2. Bùi Văn Nguyên, Thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Nxb GD, H., 1994.
3. Ferlus, Michel, Sự biến hóa của các âm tắc giữa (obstruentes mediales) trong tiếng Việt. (Vân Hà dịch), Trong Giao lưu văn hóa và ngôn ngữ Việt - Pháp, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999, Tr.116-145.
4. Ferlus, Michel, Những sự không hài hòa thanh điệu trong tiếng Việt Mường và những mối liên quan lịch sử của chúng, Vương Lộc dịch. Trong Giao lưu văn hóa và ngôn ngữ Việt - Pháp, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999, Tr.147-161.
5. Ferlus, Michel, The origin of Tones in Viet-Muong, Southeast Asian Linguistic Society XIth Conference, Bangkok, Thailand, 2001, May 16-18 2001.
6. Gaston, Nhẫn, Etude du conso-nantisme du Quốc âm thi tập (Nghiên cứu hệ thống phụ âm đầu của Quốc âm thi tập, Luận án Tiến sĩ đệ tam cấp), INACO, Pháp, 1967, 243 tr.
7. Génibrel, J.F.M., Dictionnaire Annamite- Français (大越國音漢字法 釋集成 ), SaiGon Imprimerie de la mission à Tân Định, Sài Gòn, 1898.
8. Hoàng Thị Ngọ, Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’, Nxb KHXH, H., 1999.
9. Hoàng Thị Ngọ, Dấu tích của các thủy âm kép đầu KB, KM, KN, KĐ qua cách ghi chữ Nôm cổ, Trong Mạch đạo dòng đời, Nxb KHXH, H., 2002, tr.198-208.
10. Hoàng Triều Ân, Từ điển chữ Nôm Tày, Nxb KHXH, H., 2003.
11. Hoàng Văn Ma, Từ điển Việt Tày Nùng, Nxb KHXH, H., 1984.
12. Huình Tịnh Paulus Của, “大 南 國 音 字 彙” (Đại Nam quấc âm tự vị), SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4, Nxb Trẻ, 1998 (theo ấn bản 1895-1896).
13. Mai Quốc Liên vcs (phiên chú), Quốc âm thi tập, Trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (T3), Nxb Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, H., 2001.
14. Matisoff, Jimes A., Tonogenesis in Southeast Asia, in: Hyman, Larry M. (ed.) Consonant Types and Tones, Southern California Occasional Papers in Linguistics 1, 1973, 71- 96.
15. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb GD, H., 1997.
16. Nguyễn Tài Cẩn, Về chữ Nôm thời Quốc âm thi tập, Trong Một số chứng tích về ngôn ngữ - văn tự - văn hóa, Nxb ĐHQG, H., 1989, (Tái bản 2001).
17. Nguyễn Quang Hồng, Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nxb GD, H., 2008.
18. Nguyễn Quang Hồng, Âm tiết và loại hình ngôn ngữ, Nxb ĐHQG, H., 2002.
19. Nguyễn Tá Nhí, Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nxb KHXH, H., 1997.
20. Nguyễn Tá Nhí (chủ trì), Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tập 1, Nxb KHXH, H., 2008.
21. Nguyễn Ngọc San, Góp vài ý kiến về âm đầu tiếng Việt cổ qua cứ liệu Phật thuyết, T/c Ngôn ngữ, Số 3, 1982.
22. Nguyễn Ngọc San, Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb ĐHSP, H., 2003a.
23. Nguyễn Hùng Vĩ, Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Thông báo Hán Nôm học 2009, Nxb KHXH, H., 2010.
24. Nguyễn Văn Tài, Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn, Nxb Từ điển Bách khoa, H., 2006.
25. Nguyễn Văn Lợi, Tiếng Rục, Nxb KHXH, H., 1993.
26. Nhiếp Tân, Chữ hội âm chính phụ trong bản giải âm Truyền kì mạn lục, Trong Đào tạo và nghiên cứu Ngôn ngữ học ở Việt Nam: những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb ĐHQG, H., 2011, tr.621-635.
27. Rhodes, A. de., Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico, Romae: typis & sumptibus eiusdem Sacr, Congreg, 1651 p. 633., Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb KHXH, H., (tb 1994).
28. Schneider, Paul, Nguyen Trai et son Receuil de Poemesen en Langue Nationale, Centre National de la Rechercher Scientifique, Paris, 1987.
29. Shimizu Masaaki, Khảo sát sơ lược về cấu trúc âm tiết tiếng Việt vào thế kỉ XIV-XV qua hai cứ liệu chữ Nôm, Trong Các nhà Việt Nam học nước ngoài viết về Việt Nam (Tập 2), Nxb Thế giới, H., 2002.
30. Shimizu Masaaki, A Phonological Reconstruction of 15th Century Vietnamese Using Chữ Nôm 字喃Materials, 2010, International Conference and Taiwanese Studies, National Cheng Kung University, Taiwan, 2010.
31. Trần Trọng Dương, Đi tìm âm đọc cổ cho chữ “lơ thơ”, T/c Hán Nôm, Số 3, 2006.
32. Trần Trọng Dương, Tình hình cấu trúc chữ Nôm qua ‘Khóa hư lục giải nghĩa” và “Khóa hư lục giải âm", T/c Hán Nôm, Số 2, 2008.
33. Trần Trọng Dương, Thử tầm nguyên hai chữ “tha la”, Trong Nghiên cứu về chữ Nôm, Hội bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, Nxb Nxb KHXH, H., tr.169-180, (2008b).
34. Trần Trọng Dương, Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển (bản thảo sắp in), Alphabook, Nxb KHXH, H., 550 tr.
35. Trần Uyên Thi - Nguyễn Hữu Vinh, Ai vẽ được, ai xóa được? Dấu vết âm Việt cổ: từ song tiết và phụ âm kép, Tham luận Hội nghị Quốc tế về tiếng Việt, Viện Việt học, California, USA, 2007.
36. Trần Thái Tông, Thiền tông khóa hư ngữ lục, Tuệ Tĩnh giải nghĩa, Trần Trọng Dương khảo cứu, dịch và phiên chú, Nxb Văn học & TT Nghiên cứu Quốc Học, H., 2009.
37. Trương Đức Quả, Vận dụng tri thức ngữ âm lịch sử trong nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm, Trong Mạch đạo dòng đời, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, H., 2002, tr. 221-237.
38. Vũ Đức Nghiệu, Đơn tiết, đơn tiết hoá và đa tiết, đa tiết hoá trong quá trình phát triển của tiếng Việt, Kỉ yếu hội thảo quốc tế về ngôn ngữ và ngôn ngữ học liên Á, H., 2005, tr. 202 - 213.
39. Vũ Đức Nghiệu, Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt, Nxb GD Việt Nam, H., 2011.
40. Vương Lộc, An Nam dịch ngữ, Trung tâm Từ điển học & Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001.
SUMMARY
This article studies the consonant clusters in ancient Vietnamese (XIVth-XVth century) through an analysis of the ancient Nom scripts in Quoc am thi tap of Nguyen Trai- the most important work in the history of Vietnamese. I reconstruct the phonology of 32 words which appeared 98 times. Fifteen consonant clusters are reconstructed by using some dialects and the demotic script system in the text. They are: (1)*kl- (*ks-, *kr), *kl- (>*bl-), *kl- (>*ml-), (2) *khl- (*khr-, *khs-), (3)*tp- (*tb-), (4)*c’r-, (5)*ml-, (6)*km-, (7) *pl- (>*tl-, *bl-), (8) *?j-, (9) *kj-, (10) *kŋ-, (11) *ks- (>*kt-), (12) (*kt>-)*k-, (13) *kd-, (14) *kh- và (15) *kn-. The result shows that there are lot of consonant clusters in Vietnamese historical phonology in XIVth-XVth century (in comparison with some consonal clusters bl-, ml-, tl- in XVIIth century Vietnamese).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






